CHƯƠNG III – NHỮNG NGUYÊN NHÂN LÀM CHO PPP
và IFE KHÔNG ĐÚNG TRONG THỰC TẾ
1. Những lý do khiến cho PPP không đúng trong thực tế
Có thể nêu những lý do tại sao PPP khó xuất hiện trong thực tế như
sau:
Chi phí vận chuyện và những hạn chế mậu dich: Lý thuyết ngang
giá sức mua giả định là không có thuế và chi phí vận chuyển giữa 2
thị trường là bằng 0. Điều này có nghĩa là sẽ không có bất kỳ biểu
thuế quan nào cho hàng nhập khẩu và hàng xuất khấu. Tuy nhiên
trên thực tế, điều này lại không xảy ra. Chi phí vận chuyển có thể
làm cho hàng hóa nhập khẩu trở nên mắc hơn so với hàng hóa
trong nước. Thêm vào đó, những hàng rào mậu dịch như hạn ngạch
và thuế quan cũng là những thứ khiến cho hàng hóa nhập khẩu trở
nên đắc đỏ. Vậy, cho dù là hàng hóa nước ngoài có rẻ hơn hàng
hóa trong nước cách mấy thì khi nhập khẩu vào trong nước, với chi
phí vận chuyển và hàng rào mậu dịch phát sinh, những thứ hàng
hóa đó cuối cùng cũng sẽ có giá sấp xỉ trong nước. Điều này không
làm cho người dân trong nước mua hàng hóa nhập khẩu nhiều hơn.
Lý thuyết PPP không thể áp dụng được.
Do mức giá chênh lệch của cùng một món hàng ở cùng 1 quốc gia:
Để minh họa dễ hiểu cho điều này, tôi xin lấy một ví dụ đơn giãn:
đó là việc bạn đi ăn một tô hủ tiếu ở TP.HCM và ăn một tô hủ tiếu
ở vùng quê. Tôi không biết rõ giá cả của nó ra sao nhưng tôi có thể
nói chính xác một điều: giá của tô hủ tiếu ở TP. HCM cao hơn ở
quê (ở đây tôi giả định là bạn vào ăn ở cùng một cửa tiệm và cửa
tiệm này có 2 chi nhánh: một cái ở TP. HCM và một cái ở quê).
Tại sao lại có sự khác biệt đó? Để làm một tô hủ tiếu ở TP. HCM
ta phải tốn chi phí cao hơn, chi phí đó là bao gồm: tiền thuê mướn
nhân viên, mặt bằng, nguyên liệu, vân và vân. Do đó mặc dù là
cùng một cửa tiệm với cùng một món hàng (ở đây là tô hủ tiếu),
giá cả của nó lại chênh lệch nhau. Vậy nên lấy tô hủ tiếu ở TP.
nước lại chọn cho mình một rỗ hàng hóa khác nhau. Điều này đã
gây khó khăn khi muốn so sánh sức mua ở mỗi nước và chính nó
đã làm cho việc xác định PPP gặp khó khăn trong thực tế.
Chất lượng của cùng một món hàng ở mỗi nước là khác nhau: Tôi
nghĩ bạn sẽ không mua một chiếc máy Ipod Trung Quốc dởm dù
nó có rẻ hơn bao nhiêu đi nữa. Đó là 1 lý do khác khiến cho PPP ít
khi xuất hiện trong thực tế. Hãy tượng tượng bạn là người Mỹ, bạn
thấy 2 chiếc máy Ipod: một cái sản xuất trong nước với giá cao
hơn và một cái sản xuất ở Trung Quốc với giá rẻ hơn. Nhưng bạn
vẫn mua cái sản xuất ở Mỹ (trong nước)! Tại sao vậy? Vì Ipod sản
xuất ở Mỹ có chất lượng cao hơn. Vậy rõ ràng dù hàng nước ngoài
dù có rẻ hơn nhưng lại kém chất lượng thì cũng không thể khuyến
khích người tiêu dùng trong nước mua chúng.
Yếu tố cuối cùng – Không có hàng hóa thay thế: Lại tiếp tục lấy ví
dụ về Ipod. Tại sao ở Việt Nam, một chiếc máy nghe nhạc Ipod có
giá khá cao nhưng người ta vẫn mua nó? “Tại không ai ở Việt Nam
sản xuất máy nghe nhạc nên tôi phải mua nó về xài.” Đó là lý do
tại sao dù giá cao nhưng người trong nước vẫn tiếp tục tiêu dùng
hàng nước ngoài.
Ngoài ra, còn có thể xuất phát từ lý do chuộng hàng ngoại của
những người tiêu dùng trong nước.
Tất cả những lý do đó đã làm cho PPP khó ứng dụng trong thực tế.
2. Những lý do làm cho IFE không đúng trong thực tế
Còn những lý do nào khiến cho IFE xuất hiện trong thực tiễn?
Đầu tiên, cần phải nhắc lại rằng hiệu ứng Fisher quốc tế dựa trên 2
giả định:
• Thứ nhất, các nhà đầu tư ở các nước khác nhau đòi hỏi một tỉ
suất sinh lợi thực giống nhau.
• Thứ hai, chênh lệch lãi suất danh nghĩa giữa các quốc gia là
do chênh lệch lam phát.
Trong trường hợp này chênh lệch lạm phát là 3%. Do đó, theo
ngang giá sức mua thì cuối kì, tỷ giá GBP/USD sẽ tăng lên là 3%.
Nhà đầu tư Anh khi đầu tư ở Mỹ sẽ nhận được tỷ suất sinh lợi là
9%, tuy nhiên do GBP/USD tăng 3% nên tỷ suất sinh lợi mà nhà
đầu tư Anh thực sự nhận được vào cuối kỳ là 6%. Điều này làm
cho hiệu ứng Fisher quốc tế không còn đúng nữa.
Chênh lệch lãi suất danh nghĩa giữa các quốc gia không do chênh
lệch lạm phát gây ra mà do chênh lệch tỷ suất sinh lợi thực.
Ví dụ:
Mỹ Anh
TSSL thực 3% 2%
Lạm phát 3% 3%
Lsdanh nghĩa 6% 5%
Trong trường hợp này, ngang giá sức mua không xuất hiện, nên
không có sự thay đổi tỷ giá hối đoái vào cuối kì. Vậy khi nhà đầu
tư Anh đầu tư sang Mỹ, họ sẽ nhận được đúng lãi suất danh nghĩa
là 6% (cao hơn so với Anh là 5%) mà không cần phải lo lắng gì về
sự biết động của tỷ giá.
Mặt khác, ngoài nhân tố lãi suất, tỉ giá hối đoái cũng bị ảnh hưởng
bởi nhiều nhân tố khác, như: lạm phát, lãi suất, thu nhập của người
dân, chính sách kiểm soát tỷ giá của chính phủ, sự đầu cơ của các
nhà đầu tư, kỳ vọng lãi suất tương lai của nhà đầu tư, … Các yếu
tố này cũng góp phần làm cho hiệu ứng Fisher khó lòng hiện hữu.
Chúng ta hãy lấy nhân tố chính phủ để phân tích: Mặc dù những
giả thuyết đưa ra về hiệu ứng Fisher là đúng đi chăng nữa thì liệu
trên thực tế có xảy ra như những gì chúng ta dự định nếu có sự can
thiệp của chính phủ, phải nói là đây là một nhân tố quan trọng, bởi
vì thị trường không bao giờ thiếu bàn tay của chính phủ.
Ví dụ: Mỹ Anh
TSSL thực 2% 2%
Đo lường
Lạm phát 1 được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong
giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền
kinh tế (thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ
chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh
doanh cũng làm việc này). Giá cả của các loại hàng hóa và dịch
vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một "mức giá cả trung bình",
gọi là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Chỉ số
giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức
giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc. Tỷ lệ
lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng
của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời
điểm gốc. Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo
kích thước của một quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của
nó.
Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì
giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho
mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu
vực kinh tế mà nó được thực hiện. Các phép đo phổ biến của chỉ
số lạm phát bao gồm:
* Chỉ số giá sinh hoạt (viết tắt tiếng Anh: CLI) là sự tăng trên
lý thuyết giá cả sinh hoạt của một cá nhân so với thu nhập, trong
đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ.
Các nhà kinh tế học tranh luận với nhau là có hay không việc một
CPI có thể cao hơn hay thấp hơn so với CLI dự tính. Điều này
được xem như là "sự thiên lệch" trong phạm vi CPI. CLI có thể
được điều chỉnh bởi "sự ngang giá sức mua" để phản ánh những
khác biệt trong giá cả của đất đai hay các hàng hóa khác trong
khu vực (chúng dao động một cách rất lớn từ giá cả thế giới nói
chung).
* Chỉ số giảm phát GDP dựa trên việc tính toán của tổng sản
phẩm quốc nội: Nó là tỷ lệ của tổng giá trị GDP giá thực tế (GDP
danh định) với tổng giá trị GDP của năm gốc, từ đó có thể xác
định GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay GDP thực).
(Xem thêm Thực và danh định trong kinh tế). Nó là phép đo mức
giá cả được sử dụng rộng rãi nhất. Các phép khử lạm phát cũng
tính toán các thành phần của GDP như chi phí tiêu dùng cá nhân.
Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang đã chuyển sang sử dụng khử lạm
phát tiêu dùng cá nhân và các phép khử lạm phát khác để tính
toán các chính sách kiềm chế lạm phát của mình.
Các loại lạm phát phân theo mức độ
Lạm phát thấp
Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 3.0 đến dưới 10
phần trăm một năm.
Lạm phát cao (Lạm phát phi mã)
Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá trong phạm vi hai
hoặc ba chữ số một năm thường được gọi là lạm phát phi mã,
nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát. Việt Nam và hầu hết các nước
chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị
trường đều phải đối mặt với lạm phát phi mã trong những năm
đầu thực hiện cải cách.
Nhìn chung lạm phát thì phi mã được duy trì trong thời gian dài
sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng. Trong bối cảnh
đó, đồng tiền sẽ bị mất giá nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ
lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày. Mọi
người có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển
sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện
thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của cải.
Siêu lạm phát
Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng giá cả
lạm phát cộng dồn trong ba năm lên tới 100 phần trăm.
Vai trò trong kinh tế
Các hiệu ứng tích cực
Nhà kinh tế đoạt giải Nobel James Tobin nhận định rằng lạm phát
(tỷ lệ tăng giá mang giá trị dương) vừa phải sẽ có lợi cho nền kinh
tế. Ông dùng từ "dầu bôi trơn" để miêu tả tác động tích cực của
lạm phát. Mức lạm phát vừa phải làm cho chi phí thực tế mà nhà
sản xuất phải chịu để mua đầu vào lao động giảm đi. Điều này
khuyến khích nhà sản xuất đầu tư mở rộng sản xuất. Việc làm
được tạo thêm. Tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm.
Các hiệu ứng tiêu cực
Đối với lạm phát dự kiến được
Trong trường hợp lạm phát có thể được dự kiến trước thì các thực
thể tham gia vào nền kinh tế có thể chủ động ứng phó với nó, tuy
vậy nó vẫn gây ra những tổn thất cho xã hội:
* Chi phí mòn giày: lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào
người giữ tiền và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng
với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát làm cho người ta giữ ít tiền hay
làm giảm cầu về tiền. Khi đó họ cần phải thường xuyên đến ngân
hàng để rút tiền hơn. Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ "chi phí
mòn giày" để chỉ những tổn thất phát sinh do sự bất tiện cũng như
thời gian tiêu tốn mà người ta phải hứng chịu nhiều hơn so với
không có lạm phát.
* Chi phí thực đơn: lạm phát thường sẽ dẫn đến giá cả tăng lên,
các doanh nghiệp sẽ mất thêm chi phí để in ấn, phát hành bảng
giá sản phẩm.
* Làm thay đổi giá tương đối một cách không mong muốn:
trong trường hợp do lạm phát doanh nghiệp này tăng giá (và
đương nhiên phát sinh chi phí thực đơn) còn doanh nghiệp khác
lại không tăng giá do không muốn phát sinh chi phí thực đơn thì
Nguyên nhân
Lạm phát do cầu kéo
Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở
mức toàn dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát. Điều này có thể
giải thích qua sơ đồ AD-AS. Đường AD dịch sang phải trong khi
đường AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá và sản lượng cùng
tăng.
Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao
hơn tổng cung, người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung
tiền phải tăng lên để đáp ứng. Do đó có lạm phát.
Lạm phát do cầu thay đổi
Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu
về một mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung
cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có
thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm
vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì
lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát.
Lạm phát do chi phí đẩy
Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xuất của các xí
nghiệp tăng. Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của
mình sẽ tăng giá thành sản phẩm. Mức giá chung của toàn thể nền
kinh tế cũng tăng.
Lạm phát do cơ cấu
Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho
người lao động. Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không
thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình.
Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu
quả sẽ tăng giá thành sản phẩm. Lạm phát nảy sinh vì điều đó.
Lạm phát do xuất khẩu
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản
thể đi với nhau, song hành với nhau. Nhưng tại thời điểm hiện
nay, theo tôi, lạm phát, bất ổn định kinh tế vĩ mô hiện nay nội
sinh từ cách thức tăng trưởng. Nếu như VN tiếp tục đi theo con
đường này thì đến một vài năm nữa, có thể đi đến một ngõ cụt.
Điều đó cũng có nghĩa là nếu như không thay đổi cách thức tăng
trưởng, bất ổn kinh tế vĩ mô luôn luôn thường trực, lạm phát luôn
luôn ở mức cao. Muốn chống lạm phát thì chúng ta phải quay trở
về cái công cụ là phải nâng cao đuợc hiệu quả sử dụng đồng vốn.
Có người lập luận rằng, nếu xây thêm cầu, xây thêm cảng, xây
thêm đường, chúng ta có những khoản đầu tư lớn. Điều này về
lâu dài cũng là để cải thiện hiệu quả của nền kinh tế?
Đầu tư để mà nâng cao chất lượng và phát triển cơ sở hạ tầng là
một đầu tư cần thiết và để nâng cao hiệu quả nền kinh tế. Nhưng
nếu đó là đầu tư đúng hướng, đầu tư vào giải quyết đúng những
vấn đề tắc nghẽn của nền kinh tế.
Nếu đầu tư dàn trải, ở đâu cũng cầu, ở đâu cũng cảng, ở đâu cũng
sân bay, ở đâu cũng khu công nghiệp, hiệu quả của đồng vốn sẽ
giảm xuống và đồng thời, lại không giải quyết được những điểm
tắc nghẽn về cơ cấu hạ tầng đối với nền kinh tế. Đây là vấn đề
hiện VN đang mắc phải.
Đành rằng, xây cầu cảng, dù hàng năm không có ai sử dụng cũng
đóng góp tăng trưởng GDP. Tuy nhiên, Tăng trưởng nêu trên là
tăng trưởng kém chất lượng, tăng trưởng không bền vững
Với cách thức tăng trưởng như trên, khối doanh nghiệp bị tác
động như thế nào?
Nếu như cứ đầu tư như vậy và đặc biệt là đầu tư Nhà nước mở
rộng như thế thì khu vực DN Nhà nước được hưởng lợi nhiều
hơn.
Trong khi nếu không giải quyết được những điểm ách tắc của nền
kinh tế, nhất là ách tắc trong cơ sở hạ tầng, vận chuyển hàng hóa,
kinh tế và nhấn mạnh đến cái hiệu quả và cái năng suất chất
lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Tại thời điểm hiện nay, chúng ta phải thay đổi càng sớm càng hay
việc chuyển từ thiên về tăng trưởng theo chiều rộng, sang tăng
trưởng theo chiều sâu. Và phải đặc biệt lưu ý đến việc nâng cao
được hiệu quả đầu tư Nhà nước nói chung và đầu tư của các DN
Nhà nước nói riêng.
VN cần cơ cấu lại nền kinh tế, tăng cường khả năng cạnh tranh
của DN và tăng cường hiệu quả của đầu tư công. Viện Quản lí
kinh tế Trung ương,đã đề đạt ra những biện pháp cụ thể nào?
Tại thời điểm hiện nay, chúng tôi nghĩ rằng là phải cắt giảm bội
chi ngân sách bằng cách giảm chi, giảm đầu tư Nhà nước. Cơ cấu
lại, rà soát lại các dự án đầu tư, tập trung vốn vào những dự án
đầu tư tập trung vào cơ sở hạ tầng, giải quyết các vấn đề tắc
nghẽn của nền kinh tế.
Đầu tư như vậy sẽ phát huy ngay hiệu quả là góp phần vào nâng
cao hiệu quả đầu tư Nhà nước nói riêng và đầu tư của nền kinh tế
nói chung. Ở điểm này, việc cắt giảm đầu tư ngân sách, nâng cao
hiệu quả đầu tư công là một mũi tên bắn trúng được rất nhiều
đích. Đó là nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời bắn ra
một tín hiệu rằng đây đang là một cách thức thay đổi, thay đổi
cách thức tăng trưởng, nhấn mạnh hơn đến nâng cao hiệu quả
tăng trưởng theo chiều sâu.
Và như vậy, nó giảm áp lực đối với lạm phát đồng thời, tăng dư
lượng cho chính sách tiền tệ. Anh có thể nới lỏng chính sách tiền
tệ để mở hơn và tăng thêm vốn cho khu vực kinh tế tư nhân. Như
vậy, vừa đảm bảo được tăng trưởng lại vừa giảm được áp lực lạm
phát.
Dù sao đó vẫn là những giải pháp dài hạn, còn ở ngắn hạn thì
sao?
vừa tác động về lâu dài là tích cực.
TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO
Số 9
5/2008
(425)
Tìm kiếm nâng cao
Quan hệ giữa lạm phát với lãi suất và kiềm chế lạm phát ở
Việt Nam
In bài này
Chuyên đề: Nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí số: Tạp chí Số 9 (Số 425)
Năm xuất bản: 2008
Tình hình lạm phát trong năm 2007 và bốn tháng đầu năm 2008
đang đặt ra nhiều câu hỏi về giải pháp nào để ổn định kinh tế vĩ
mô và kiềm chế lạm phát ở mức thấp. Để góp phần giải quyết bài
toán tổng thể đó, bài viết này xin bàn sâu về mối quan hệ giữa lạm
phát với lãi suất nhằm tìm ra lời giải nhỏ trong gói giải pháp lớn
đang được tiến hành hiện nay.
Chính sách lãi suất ở nước ta trong các năm qua
Thực tế, ở Việt Nam, lãi suất cũng như tỷ giá chỉ được vận hành
với một số nét đặc trưng của thị trường từ năm 1989. Trước tình
trạng lạm phát tăng cao đến năm 1989, chúng ta đã áp dụng lãi
suất thực dương. Lãi suất danh nghĩa tiền gửi từ 0,9% đến
2,4%/tháng và lạm phát ở mức 1,9%/ tháng nên lãi suất thực
dương ở mức 2,1%/tháng. Chính nhờ giải pháp này lạm phát đã
giảm đi trông thấy. Tuy nhiên, phải thấy rằng trong thời gian này
các quỹ và hợp tác xã tín dụng mọc lên như nấm sau mưa với
17,5% năm 1992 xuống 5,2% năm 1993 nhưng lại làm cho hiệu
quả sản xuất kinh doanh khó lòng đạt cao được như vậy. Năm
1994, tỷ lệ này lại giảm quá thấp chỉ bằng 16% đã nâng cao
được hiệu quả sản xuất kinh doanh nhưng lại có tác động không
tốt cho kiềm chế lạm phát dẫn đến tỷ lệ lạm phát lại tăng lên từ
5,2% năm 1993 lên 14,4% năm 1994.
Từ năm 1995, các ngân hàng thương mại (NHTM) được phép tự
do định mức lãi suất tiền gửi với mục tiêu tăng cường sự cạnh
tranh giữa các ngân hàng trong huy động vốn. Tuy nhiên, Nhà
nước quy định mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất
tiền gửi tối đa không được quá 0,35%. Như vậy thực chất các
ngân hàng vẫn phải chịu khống chế cả lãi suất tiền gửi và cho
vay, cho dù mức chênh lệch lãi suất thực tế có khác nhau giữa
các ngân hàng tuỳ thuộc cơ cấu chi phí cụ thể. Chính sách này có
lợi cho các NHTM là duy trì được mức lợi nhuận mong muốn.
Sang năm 1997-1998, chúng ta đã không xiết chặt kiểm soát mà
lại có vẻ nới lỏng chính sách lãi suất, trần lãi suất được nâng lên
để các NHTM có thể tăng lãi suất tiền gửi nhằm huy động vốn
và quy định giới hạn chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền
gửi ở mức 0,35%/tháng đã dần hết tác dụng, cuối cùng là bãi bỏ.
Hơn nữa, mặc dù trong giai đoạn 1996-2000 do tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực nên nền kinh tế tăng
trưởng thấp nhưng về chính sách lãi suất chúng ta vẫn chưa cho
áp dụng hoàn toàn theo cơ chế thị trường nên lãi suất Việt Nam
đồng vẫn cao hơn nhiều so với tỷ lệ lạm phát. Thực tế hầu như
ba năm đầu của giai đoạn này lãi suất không thay đổi, chỉ trong
hai năm 1999, 2000 do có thiểu phát nên lãi suất đã được điều
chỉnh giảm chút ít nhưng không đáng kể. Còn xem xét mức lãi
suất thực dương thì lại không phải giảm mà tăng lên.
Tuy nhiên, nếu so với tỷ lệ lạm phát thì lãi suất dương trong thời
tăng lên tương ứng do đó lãi suất thực bị âm và tỷ lệ giữa lãi suất
thực âm này so với tỷ lệ lạm phát là 34,7% thể hiện giá của đồng
tiền giảm xuống đáng kể. Hơn nữa năm 2007, lạm phát tăng cao
nên lãi suất thực dương xuống thấp.
Trong những tháng đầu năm 2008, tình hình lãi suất có những
biến động, đầu năm lãi suất lên cao. Đặc biệt là từ đầu tháng
2/2008 lãi suất huy động trên thị trường đã biến động mạnh do
các NHTM liên tục tăng lãi suất huy động VNĐ lên mức 13-
14%/năm và đã đẩy lãi suất cho vay lên đến mức trên
1,5%/tháng vào tháng 3 năm 2008, có nơi còn cho vay với lãi
suất xấp xỉ 20%/năm. Đây là một sự chuyển động theo tín hiệu
lãi suất thực dương. Tuy nhiên, bên cạnh người gửi tiền phấn
khởi vì lãi suất tiền gửi lên là người đi vay phải lo lắng cho việc
không thể nào chịu đựng nổi lãi suất đi vay 15-17%/năm. Các
NHTM thì vẫn sử dụng chính sách huy động lãi suất cao và cho
vay lãi suất cũng cao theo, tức là vẫn có lãi lớn trong trước mắt.
Thực tế đã có một số NHTM cổ phần với nhận thức như vậy đã
cố tình đẩy lãi suất huy động lên làm cho thị trường tiền tệ có
nhiều biến động mạnh.
Sau khi NHNN có công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008
về việc chốt trần lãi suất huy động VNĐ ở mức 12%/năm thì
ngày 24/3/2008, Hiệp hội các Ngân hàng có họp và có sự đồng
thuận về lãi suất, các NHTM mới có sự điều chỉnh lãi suất với
mức 10,5%/năm (dưới 6 tháng) và 11%/năm (trên 6 tháng). Đến
đầu tháng 4 năm 2008 lãi suất huy động VNĐ kỳ hạn 1 năm ở
mức 11,5-12%, lãi suất cho vay VNĐ ở mức16-18%/năm, lãi
suất huy động USD kỳ hạn 6 tháng đến 1 năm ở mức 6%-
6,5%/năm. Đến ngày 16/4/2008, Thủ tướng Chính phủ đã yêu
cầu NHNN bỏ trần lãi suất huy động, để thị trường tự điều tiết vì
thấy các NHTM đều huy động với lãi suất thấp hơn lãi suất trần.