Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS - TS Hoàng Hưng
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1.1.1 Mục tiêu của đề tài
Thông qua việc tìm hiểu thực tế, lấy mẫu phân tích và tham khảo những
kết quả nghiên cứu trước đây về hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng liên quan đến chất
lượng nước mặt qua đó đưa ra các kết quả chính xác về tình hình và những
nguyên nhân chính ảnh hưởng chất lượng nước, từ đó đề xuất các biện pháp quản
lí tài nguyên nước phù hợp cho hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng.
1.1.2 Nội dung của đề tài.
Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên của hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng.
Thu thập tài liệu dân sinh kinh tế, xã hội và môi trường của hệ thống thủy
lợi Dầu Tiếng.
Thu thập và tổng hợp đánh giá diễn biến chất lượng nước, đồng thời tìm
hiểu các nguyên nhân làm suy giảm chất lượng nước mặt trên hệ thống thủy lợi
Dầu Tiếng.
Phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm.
Thông qua những nghiên cứu, đề xuất các biện pháp giảm thiểu các tác
động bất lợi đến chất lượng nước trong hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng.
1.2 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
2.1 Phương pháp luận
Hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng là một trong những công trình thủy lợi lớn ở
Đông Nam Bộ, nó nằm chủ yếu trên hai tỉnh Tây Ninh, Bình Dương. Chức năng
chính của hệ thống là cấp nước tưới cho nông nghiệp, cho dân sinh, cho công
nghiệp, cho các tỉnh trong lưu vực sông Sài Gòn trong đó có thành phố Hồ Chí
Minh và bảo vệ môi trường. Với vai trò quan trọng như vậy, việc tìm hiểu về diễn
biến cũng như những nguyên nhân gây suy giảm chất lượng nước mặt sẽ góp
SVTH : Phạm Thò Hải Yến 1
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS - TS Hoàng Hưng
phần bảo vệ cũng như duy trì các chức năng và nhiệm vụ quan trọng của hệ thống
, N-
NH
4
+
, DO.
Các chỉ tiêu phân tích vi sinh và hữu cơ : COD, tổng coliform.
Phương pháp phân tích thể hiện trong bảng 1 dưới đây :
SVTH : Phạm Thò Hải Yến 2
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS - TS Hoàng Hưng
Bảng 1 : Phương pháp phân tích.
ST
T
Chỉ tiêu phân
tích
Phương pháp phân tích Thiết bò phân tích
1 DO Phương pháp winller cải tiến Chai BOD, buret
2 pH Phương pháp đo bằng máy đo PH meter
3 Fe
TS
Phương pháp Phenanthroline Spectrophotometer
4 TSS Phương pháp trọng lượng Cân điện tử
5 Độ axit Phương pháp đònh phân Buret
6 N-NO
2
-
Phương pháp Diazo Spectrophotometer
7 N-NO
3
-
Phương pháp so màu Spectrophotometer
2.3 Phương pháp tiếp cận và tổ chức thực hiện
1.2.3.1 Phương pháp tiếp cận
Tổng hợp tài liệu sẵn có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài.
Phân tích trên bản đồ và từ thực đòa, đưa ra vò trí lẫy mẫu và đo đạc mang
tích chất đặc trưng điển hình cho khu vực trong vùng nghiên cứu.
1.2.3.2 Phương pháp tổ chức thực hiện xây dựng báo cáo
Phương pháp hồi cứu cơ sở dữ liệu liên quan hiện có.
Phương pháp thống kê nhằm thu thập, xử lý các số liệu về khí tượng, kinh
tế xã hội trong vùng nghiên cứu.
Tiêu chuẩn Việt Nam (Bộ KHCN & MT, năm 1995) được áp dụng để lấy
mẫu và phân tích các chỉ tiêu.
Báo cáo được viết trên WinWord 2003. Các biểu đồ, đồ thò được vẽ bằng
EXCEL.
Vò trí đo và lấy mẫu mang tính chất đại diện cho khu vực đặc trưng.
1.3 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trước năm 1985 ruộng đất nằm dọc ven sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ
Đông luôn bò hoang hóa mà nguyên nhân chính là do phèn và mặn.
• Khu vực ven sông Sài Gòn
Từ đầu mối Dầu Tiếng xuống đến Thủ Dầu Một trước đây thường có hai
loại thiên tai đã hạn chế về năng suất cây trồng và làm thiệt hại mùa màng.
Ruộng đất có cao độ nhỏ hơn 1 m dọc ven sông Sài Gòn thường bò chua
phèn nặng.
Hàng năm vào tháng 9, 10 lũ từ thượng nguồn sông Sài Gòn đổ về thì
ruộng đất ven sông bò ngập lụt. Do đó, trước đây dọc ven sông Sài Gòn vào vụ
mùa là không cấy được.
SVTH : Phạm Thò Hải Yến 4
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS - TS Hoàng Hưng
Từ Thủ Dầu Một trở xuống thành phố Hồ Chí Minh ruộng đất bò nhiễm
phèn nặng vào sâu trong nội đòa và ở ven sông rạch lại bò nhiễm mặn nặng. Về
mùa mưa (tháng 9, 10) lại ngập úng. Do đó, ruộng đất dọc khu vực này bò hoang
30’ kinh độ
Đông.
Tổng diện tích lưu vực tới tuyến đập chính trên sông Sài Gòn là 2700 km
2
,
nằm trên đồi núi thấp với độ cao trung bình là 50 m so với mặt nước biển, độ cao
thấp dần theo hai hướng Tây Bắc, Đông Nam.
2.1.2 Đặc điểm đòa hình, đòa mạo
Lưu vực hồ Dầu Tiếng có dạng hình lòng chảo thoải dần về phía hai dòng
sông chính (sông Sài Gòn và sông Bà Hảo). Không có sự thay đổi lớn về mặt đòa
hình, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 25 – 27 m. Phần thượng lưu của
lưu vực về phía Campuchia có cao độ so với mặt nước biển từ 50 – 100 m.
Đòa hình của tỉnh Tây Ninh có thể chia làm 4 hình thái chính :
- Vùng núi : nằm chủ yếu gần núi Bà Đen có diện tích 15 km
2
về phía Tây
– Tây Bắc của tỉnh, cao độ so với mặt nước biển từ 15 – 50 m, có dạng elip với
độ dốc thay đổi lớn từ 20 – 40%.
- Vùng đồi : Là một tập hợp các đồi có cao độ từ 50 – 80 m, có cấu tạo từ
cát hoặc bồi tích. Đòa hình này được hình thành từ xói mòn tích tụ. Các lớp đất
trên bề mặt bò xói mòn còn rất mỏng, tại các chân đồi đất bò tích tụ và tạo nên lớp
đất xốp hoặc đất dính ngập nước.
SVTH : Phạm Thò Hải Yến 6
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS - TS Hoàng Hưng
- Vùng đồi núi thấp : có cao độ từ 15 – 25 m. Kiểu đòa hình này xuất hiện
tại Nam Tân Biên và huyện Dương Minh Châu, Trảng Bàng, Gò Dầu và Bến
Cầu. Các đồi ở đây khá bằng phẳng, có đỉnh tròn và độ dốc rất thoải từ 2 – 3%.
- Vùng đồng bằng : là các bãi sông có cao độ từ 5 – 10 m so với mặt nước
biển, phân bố dọc theo các con sông có độ rộng từ 20 – 150 m và có chiều dài
đáng kể. Vì nằm trong thế đất thấp nên đất ở đây được tạo ra từ các vật liệu tích
Đồ thò 1 : Lượng mưa trung bình năm
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
Phước Long
Dầu Tiếng
Phước Hòa
Nhà Bè
Thủ Đức
Thủ Dầu Một
Tây Ninh
Trạm quan trắc
Xtb (mm)
2.1.3.5 Chế độ gió
Hướng gió thay đổi theo mùa, gió mùa Đông Nam xuất hiện từ tháng 5 đến
tháng 11, áp suất cao, mang không khí ẩm từ vònh Thái Lan thổi vào lưu vực sông
Sài Gòn, sinh ra mưa nhiều. Gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau,
gió mang không khí khô và không sinh ra lượng mưa đáng kể trong lưu vực tạo ra
mùa khô.
2.1.3.6 Chế độ chiếu sáng
Lượng bức xạ mặt trời quanh năm khá dồi dào. Trung bình có 6 – 7 giờ
nắng mỗi ngày.
2.1.4 Đặc điểm thủy văn nguồn nước
Hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng nằm trong lưu vực sông Sài Gòn và sông
Vàm Vỏ Đông là hai sông chính trong hệ thống sông Đồng Nai. Chế độ thủy văn
trong vùng chòu chi phối mạnh mẽ của chế độ mưa, chế độ thủy triều biển Đông
Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng núi Lộc Ninh – Lộc Thạnh ở cao độ 200 –
250 m. Đoạn đầu chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam đến Lộc Thành hợp lưu
với suối Sanh Đôi, từ đây dòng chảy đổi theo hướng Tây Bắc – Đông Nam cho tới
cửa ra tại Nhà Bè trên sông Đồng Nai. Tổng diện tích lưu vực là 4500 km
2
, sông
dài 280 km, chiều dài tính đến hồ Dầu Tiếng là 135 km. Lưu vực hồ Dầu Tiếng
bao trùm phần thượng nguồn sông Sài Gòn với chiều dài 135 km, dung tích hàng
SVTH : Phạm Thò Hải Yến 9
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS - TS Hoàng Hưng
năm hàng tỷ m
3
là nguồn cung cấp nước tưới cho tỉnh Tây Ninh, đẩy mặn cho hạ
du sông Sài Gòn và cung cấp một phần nước sinh hoạt cho tỉnh Long An, thành
phố Hồ Chí Minh.
• Sông Vàm Cỏ Đông
Sông Vàm Cỏ Đông có diện tích lưu vực rộng 6300 km
2
, chiều dài sông
khoảng 280 km, bắt nguồn từ vùng đồi núi thấp Campuchia ở cao độ khoảng 20
m, chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam tới hợp lưu với sông Vàm Cỏ Tây tại
Cầu Nổi sau đó đổ ra sông Nhà Bè tại vò trí cách Soài Rạp 15 km. Sông Vàm Cỏ
Đông chòu tác đông mạnh của thủy triều biển Đông.
Tác động của thủy triều tạo thuận lợi để tưới tự chảy cho những dải đất
canh tác ven sông. Bên cạnh đó lại tạo ra các vùng giáp nước gây chua, ngập úng
cục bộ như khu vực kênh Thày Cai, kênh An Hạ.
• Hồ Dầu Tiếng
Hồ lấy nước từ một số sông, suối bao gồm cả dòng Nước Đục và Krai chảy
từ Campuchia hình thành nên sông Thala các dòng suối Chàm, Ngô, Xa Cát và
Lap chảy vào hồ từ tỉnh Bình Dương.
Cát và sét thuộc kỷ Upper Pleistonece (11000 năm) tạo nên các bậc thềm
cao hơn từ phía Tây Châu Thành, Bến Cầu và Đức Hòa. Các bậc thềm thấp và
thung lũng được tạo bởi sét và cát thuộc kỷ Holocene cổ (8000 năm).
Bồi tích trẻ của kỷ Holocene trẻ (5000 năm) là lớp sét mòn có độ cao
khoảng 2 m so với mặt nước biển trải rộng từ phía thượng lưu sông Sài Gòn tới
sông Vàm Cỏ Đông.
2.1.6 Đặc điểm thổ nhưỡng
2.1.6.1 Đất thềm cao
Là loại đất xám có thành phần chủ yếu là bùn và tro nặng lẫn một ít sét.
Loại đất này có thể tìm thấy ở Tân Châu (Tây Ninh), Dầu Tiếng (Bình Dương),
Đức Hòa (Long An), thượng và trung lưu Vàm Cỏ Đông (Châu Thành thuộc tỉnh
Tây Ninh tới Long An); thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha sét, độ dày từ 50 –
SVTH : Phạm Thò Hải Yến 11
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS - TS Hoàng Hưng
100 cm. Loại đất này có thể sử dụng để trồng lúa, hoa màu và mía có năng suất
cao nếu cung cấp đủ nước tưới và chăm bón tốt.
2.1.6.2 Đất phù sa mới
Thành phần chủ yếu là sét (thường là sét nặng) thuộc các huyện Trảng
Bàng và Đức Huệ. Độ dày lớp sét trên 100 cm. Đây là đất dinh dưỡng, có khả
năng giữ nước tốt (hệ số thấm k
≈
1 mm/ngày), thích hợp cho trồng lúa và hoa
màu. Một vấn đề của loại đất này là sự có mặt của axit sunphat ở dạng khô.
Trong điều kiện ngập úng và yếm khí quặng sunphit sắt (FeS
2
) tiềm tàng trong
đất trong điều kiện khử và sự oxy hóa không xảy ra. Nếu trong điều kiện khô
quặng sunfit sẽ bò oxy hóa trở thành sunphat và tạo ra axit nhập vào đất khi mùa
mưa tới.
2.1.7 Hiện trạng sử dụng đất trên lưu vực hồ Dầu Tiếng
Những khu vực nhỏ rừng nguyên sinh và thứ sinh vẫn tồn tại ở Tây Nam
tỉnh Tây Ninh.
Bảng 3 : Diện tích rừng trong khu vực công trình.
Tỉnh
Tổng diện tích
(ha)
Diện tích rừng
tự nhiên (ha)
Rừng đặc dụng
(ha)
Tây Ninh 392417 50282 22949
Bình Dương 205326 3228 2928
Long An 443454 0 0
TP. Hồ Chí Minh 193191 736 0
(Nguồn : Đánh giá tác động môi trường dự án hỗ trợ thủy lợi Việt Nam, 2003)
2.1.8.2 Nguồn tài nguyên thủy sản
a) Các loài cá
Trong lòng hồ Dầu Tiếng có 54 loài cá thuộc 9 bộ, 19 họ khác nhau và 2
loài tôm thuộc họ tôm càng Palaemonidae.
• Nhóm cá đen (nhóm cá đồng)
Đây là nhóm cá điển hình bao gồm các loài cá kinh tế chính như : cá lóc
(Channa striata), cá rô đồng (Anabas testudineus), cá trê trắng (Clarias
SVTH : Phạm Thò Hải Yến 13
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS - TS Hoàng Hưng
batrachus), cá trê vàng (Clarias macrocephalus). Nhóm cá đồng phát triển phù
hợp ở đây cả vòng đời chúng sinh sống, sinh sản và phát triển vì vậy cần chú ý
bảo vệ các bãi đẻ của chúng.
• Nhóm cá trắng
Nhóm này chủ yếu thuộc họ cá chép Cyprinidae và họ cá leo siluridae,
điển hình một số loài có giá trò kinh tế cao như : cá cóc, cá duồng, cá mè vinh, cá
(Clupeioides borneensis).
Có sự thay thế của 33 loài cá mới ở giai đoạn sau khi hình thành hồ. Trong
đó chiếm ưu thế là các loài cá thuộc bộ cá chép (Cyprinidae với 14/33 loài mới)
như lòng tong sắt (Esomus metallicus), lòng tong bay (Esomus daurica), cá đỏ
đuôi (Rasbora borapetenis), cá ngựa chấm (Hampala dispar), cá duồng (Cirrhinus
microlepsis), trong khi các nhóm cá thuộc bộ cá da trơn (Siluriformes) và bộ cá
vược (Perciformes) lại mất đi nhiều thay vào đó là sự xuất hiện của nhiều loài cá
thuộc các bộ khác như bộ Clupeiformes (cá cơm, cá trích), Belonoformes (cá
nhái, cá kình) và bộ Tetrodotiformses (cá nóc). Nhìn chung các loài cá xuất hiện
là các loài cá có đặc trưng hệ cá nội đồng, thích sống nơi nước sạch, có dòng chảy
chậm hay đứng và có nhiều thủy sinh vật.
2.1.8.3 Đặc điểm thủy sinh vật
a) Tổng quan
Các sinh vật luôn phải chòu ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố môi
trường đồng thời chính sự có mặt của chúng cũng phản ánh điều kiện sống trong
môi trường đó. Như vậy, dựa vào thành phần loài, cấu trúc và chức năng của các
quần xã sinh vật trong thủy vực ta có thể xác đònh được đặc điểm môi trường sống
của thủy vực.
SVTH : Phạm Thò Hải Yến 15
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS - TS Hoàng Hưng
Đối với các thủy vực nước ngọt các loài thuộc ngành tảo lục (Chlorophyta)
chiếm ưu thế về thành phần loài, đối với các thủy vực nước mặn các loài thuộc
ngành tảo silic (Bacillariophyta) chiếm ưu thế.
b) Thực vật phù du
Đã phát hiện được 98 loài thực vật phù du thuộc 5 ngành tảo trong đó
ngành tảo lục có số lượng chiếm ưu thế 48 loài (49%), tiếp đến là tảo silic 30 loài
(30.6%), tảo mắt 10 loài (10.2%), tảo lam 9 loài (9.2%) và tảo giáp là 1 loài.
So sánh thành phần loài giữa mùa mưa và mùa khô cho thấy có sự sai khác
đáng kể về thành phần loài thực vật giữa mùa khô và mùa mưa. Vào mùa mưa có
59 loài, mùa khô có 69 loài. Tảo lục vẫn là loài chiếm ưu thế trong cả mùa khô
5 Tảo silic 30 30.6 10 16.9 23 33.8
Tổng 98 100 59 100 68 100
(Nguồn : Viện khoa học thủy lợi miền Nam)
c) Động vật phù du
Đã phát hiện được 54 loài động vật phù du thuộc 6 nhóm trong đó nhóm
chân mái chèo (Copepoda) chiếm ưu thế về thành phần loài (22 loài, 40.7%) tiếp
đến là nhóm râu nhánh (Cladocera) 17 loài bằng 31.4%; nhóm trùng bánh xe
(Rotatoria) 8 loài; động vật nguyên sinh (Protozoa) 4 loài, phan lớp có vỏ
(Ostracoda) 2 loài và Decapoda 1 loài.
Tuy tổng số loài đã phát hiện là 54 loài nhưng vào mỗi thời kì số loài vẫn
thay đổi. Vào mùa mưa chỉ phát hiện được 29 loài, mùa khô là 49 loài, chứng tỏ
có sự khác biệt rất lớn về thành phần loài giữa hai mùa trong năm.
SVTH : Phạm Thò Hải Yến 17
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS - TS Hoàng Hưng
Bảng 5 : Số lượng và tỷ lệ thành phần loài động vật phù du.
STT Nhóm ĐVPD
Chung Tháng 10 Tháng 4
Số loài
Tỷ lệ
(%)
Số loài
Tỷ lệ
(%)
Số loài
Tỷ lệ
(%)
1 PROTOZOA 4 7.4 2 6.9 4 8.2
2 ROTATORIA 8 14.8 4 13.8 6 12.2
3
CLADOCER
Tây Ninh nên đóng vai trò then chốt trong công cuộc phát triển kinh tế, phục vụ
dân sinh và bảo vệ môi trường ở khu vực Đông Nam Bộ.
Hồ Dầu Tiếng được xây dựng đã góp phần điều hòa khí hậu trong khu vực,
khí hậu trở nên mát hơn, mực nước ngầm dâng cao hơn nên cuộc sống của cư dân
được cải thiện rất nhiều. Thực tế so với trước khi chưa có hồ, nhiệt độ hiện tại đã
giảm đi 1
o
C, lượng mưa dồi dào vào mùa mưa được giữ lại trong hồ để phục vụ
cho mùa khô hạn do đó không còn tình trạng khan hiếm nước như trước đây.
Thổ nhưỡng trong khu vực chủ yếu là hai loại đất xám và đất phù sa mới,
đây là hai loại đất giàu dinh dưỡng, có khả năng giữ nước tốt nên rất thích hợp
trồng lúa, hoa màu và mía. Nhìn chung, trên lưu vực cây trồng cạn chiếm đa số
diện tích đất canh tác. Diện tích trồng lúa không đáng kể (3.5%). Đất rừng chiếm
diện tích 27.76% chủ yếu nằm tập trung ở tỉnh Bình Phước và một phần ở Tây
Ninh. Cây lâu năm chiếm diện tích nhiều nhất (34.6%) chủ yếu là cây cao su và
cây công nghiệp lâu năm. Cây hàng năm chiếm tỷ lệ 19.82% trong đó chủ yếu là
chuyên màu và cây công nghiệp ngắn ngày.
2.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI
2.2.1 Dân số, nhân khẩu học và thành phần dân tộc
Dân cư trong khu vực hệ thống tưới Dầu Tiếng có tuổi trẻ ở mức vừa phải
(23% dân số có độ tuổi nhỏ hơn 18 tuổi), không kể vùng nông thôn thì dân số
khoảng 385000 người. Trung bình 5.1 người trong một hộ gia đình.
Phần lớn dân số nông thôn sống phân tán, tuy nhiên do các yêu cầu về
thông tin liên lạc, giao thông cũng như ngập lụt mà dân cư phân bố không đều,
tập trung dọc các bờ kênh, các con sông và dọc hai bên đường. Hầu hết các gia
đình nông dân sống trong các làng nhỏ và các điểm đònh cư trong xã tại các ngã
SVTH : Phạm Thò Hải Yến 19
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS - TS Hoàng Hưng
tư hay dọc theo bờ kênh và các con sông. Huyện Củ Chi đang được đô thò hóa
mạnh cùng với sự phát triển đô thò của thành phố Hồ Chí Minh.
bổ sung cho sông Vàm Cỏ Đông qua kênh Phước Hội – Bến Đònh. Tiêu nước từ
mặt ruộng ra các kênh tiêu, các kênh này được nối với hệ thống thoát quốc gia
như các con lạch, cuối cùng đổ ra sông Vàm Cỏ Đông.
Cơ cấu cây trồng được người dân áp dụng phụ thuộc rất lớn vào lượng nước
tưới sẵn có. Nếu nước được cung cấp đầy đủ vào đúng các thời điểm yêu cầu
trong năm thì cơ cấu cây trồng sẽ là 2 và 3 vụ lúa. Trong điều kiện canh tác chủ
yếu dựa vào mưa có tưới bổ sung bằng nước ngầm thì một hoặc hai vụ lúa có thể
thay thế bằng đậu, rau và lạc. Còn trong điều kiện canh tác dựa hoàn toàn vào
mưa thì mía và sắn là các cây trồng chính.
Hệ số sử dụng đất thay đổi từ vụ này sang vụ khác và theo từng vùng của
hệ thống. Hệ số sử dụng đất trung bình trong vụ hè thu (trước mùa mưa) là 55%,
trong mùa mưa là 95% và trong vụ đông xuân (mùa khô) là 90%. Hệ số sử dụng
đất cả năm cho toàn hệ thống là 240%. Trong những năm gần đây hệ số sử dụng
đất tăng cao khi hệ thống kênh mương được cải tạo và các công trình điều tiết
được hoàn thiện, nhờ đó năng suất lúa cũng được cải thiện đáng kể.
Năng suất lúa trung bình năm là 9 tấn/ha_năm, trong đó vụ đông xuân là
3.2 tấn/ha, vụ hè thu là 2.8 tấn/ha, vụ mưa là 3 tấn/ha. Năng suất lúa thấp chủ
yếu là do chất lượng nước kém, sử dụng phân bón không phù hợp, và sử dụng
trên diện rộng giống chất lượng kém.
2.2.4.2 Vùng lòng hồ
Do diện tích vùng lòng hồ là khá lớn với trữ lượng nước dồi dào, động thực
vật phong phú nên các hoạt động kinh tế dựa trên nguồn tiềm năng này diễn ra
rất sôi động.
a) Khai thác thủy sản
Theo thống kê thì tại khu vực lòng hồ có 21 loài động vật đáy thuộc các
nhóm tôm, cua, trai, ốc, ấu trùng, côn trùng và 16 loài cá. Với hệ động vật phong
SVTH : Phạm Thò Hải Yến 21
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS - TS Hoàng Hưng
phú như vậy nên các hoạt động khai thác thủy sản diễn ra mạnh mẽ ngay từ khi
Hồ Dầu Tiếng được đưa vào sử dụng. Tuy nhiên, do hoạt động đánh bắt diễn ra
2.2.5 Giao thông vận tải
SVTH : Phạm Thò Hải Yến 22
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS - TS Hoàng Hưng
2.2.5.1 Giao thông bộ
Giao thông dọc theo các trục chính trên toàn vùng nhìn chung là tốt. Tuyến
đøng cao tốc từ thành phố Hồ Chí Minh đi thò xã Tây Ninh mới được nâng cấp,
chất lượng tốt, thời gian từ thành phố Hồ Chí Minh đi Tây Ninh chưa đến 2 giờ.
Các tuyến đường cũng đã đến tận các xã và làng. Tuy nhiên các tuyến đường liên
tỉnh, liên huyện, liên xã có chất lượng không tốt, các tuyến đường này không có
lớp mặt và hầu hết là đường cải tạo do đó đi lại rất khó khăn vào mùa mưa.
2.2.5.2 Giao thông thủy
Tất cả sông, kênh chính và kênh cấp một trong vùng được sử dụng cho
giao thông thủy. Có nhiều thuyền lớn được sử dụng để vận chuyển hàng hóa như
cát, gỗ, các sản phẩm đầu vào và đầu ra của nông nghiệp trên các tuyến đường
thủy này.
2.2.6 Nhận xét chung điều kiện kinh tế - xã hội
Tình hình xã hội cho thấy tuy cuộc sống của người dân có phát triển nhưng
thu nhập bình quân đầu người của nhân dân sống trong khu hưởng lợi Dầu Tiếng
còn thấp và cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống còn rất hạn chế.
Vùng thượng lưu hồ Dầu Tiếng nhân dân sống tập trung dựa vào sản xuất
nông nghiệp do đó cần phải dùng tới một lượng lớn các loại phân bón và thuốc
trừ sâu. Tuy nhiên đây lại là mối nguy hiểm cho môi trường nước, vì phần lớn
lượng phân bón và thuốc trừ sâu còn tồn đọng lại trong đất sẽ bò rửa trôi vào lòng
hồ và hệ thống kênh tiêu, kênh tưới gây ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật
sống trong lòng hồ và hoạt động sinh hoạt sản xuất của những người dân lấy nước
từ hệ thống.
Trong lòng hồ hoạt động kinh tế chủ yếu là khai thác cát, nuôi trồng và
khai thác thủy sản. Các hoạt động này diễn ra thường xuyên mà chưa có sự kiểm
soát chặt chẽ của các ban ngành chức năng nên trong năm 2004, 2005 tình hình
SVTH : Phạm Thò Hải Yến 23