GIẢI NGHĨA TỪ TRONG SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC BÙI THANH TRUYỀN - Pdf 18

GIẢI NGHĨA TỪ TRONG SÁCH GIÁO KHOA
TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC
BÙI THANH TRUYỀN
Khoa Giáo dục Tiểu học - ĐHSP Huế
1. GIẢI NGHĨA TỪ - NHÌN TỪ THỰC TIỄN DẠY HỌC TIẾNG VIỆT TIỂU
HỌC
Giải nghĩa từ trong chương trình Tiếng Việt ở cấp tiểu học hiện đã thể hiện được
vai trò của mình. Tuy thế, thực tiễn dạy học tiếng Việt nói chung và giải nghĩa từ
nói riêng còn đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết, nhất là ở tính hiệu quả tối đa.
Trước hết, xét về mặt nội dung. Theo khảo sát của tác giả Lê Phương Nga thì hiện
nay, khi xây dựng SGK Tiếng Việt tiểu học, các nhà biên soạn đều xác định phạm
vi vốn từ tối thiểu về thế giới xung quanh, công việc của học sinh Vì thế, những
từ ngữ được dạy ở bậc tiểu học gắn liền với thiên nhiên, đất nước, con người
giúp làm giàu nhận thức, mở rộng tầm mắt của học sinh, giúp các em nhận thấy vẻ
đẹp của quê hương, đất nước, con người, dạy các em biết yêu và ghét
Xét về mặt kết cấu và phân bố chương trình, trong tổng số 175 tuần học của
chương trình Tiếng Việt tiểu học mới, từ ngữ hiện vẫn chỉ được dạy tích hợp qua
các phân môn của Tiếng Việt mà chưa có giờ riêng. Chương trình 165 tuần và
chương trình 100 tuần học trước đây thì đã có phân môn Từ ngữ, có giờ học từ ngữ
riêng, bắt đầu từ lớp 2. Thời lượng giảng dạy từ ngữ trong tổng số quỹ thời gian
của năm học ở cả hai chương trình cũ và mới là vừa phải. Tuy nhiên, tổng số thời
gian dành riêng cho việc giải nghĩa từ (chỉ xét qua một phân môn tiêu biểu là Từ
ngữ trước đây và Luyện từ và câu hiện nay) vẫn còn quá ít. Bởi lẽ, nếu "phạm"
phải lượng thời gian chuẩn thì các giờ học không đảm bảo, dễ dẫn tới tình trạng
chồng chéo; ngược lại, nếu chú trọng đến việc giải nghĩa từ, lượng thời gian như
vậy so với nhu cầu cần thiết dành cho việc này là khá khiêm tốn. Theo quy định
mới trong năm học 2008 - 2009 của Bộ Giáo dục - Đào tạo đối với bậc tiểu học,
thời lượng tối đa các môn học chính khóa không vượt quá 25 tiết/tuần. Như vậy,
thời gian, tâm huyết dành cho dạy học giải nghĩa từ trong các phân môn của Tiếng
Việt chắc chắn sẽ càng ít hơn.
Thời gian gần đây, nhiều nhà báo, những người vốn nặng lòng với sự nghiệp phát

2.2. Ưu điểm
Nhìn vào hai biểu bảng trên, ta có thể dễ dàng nhận ra tương quan giữa các phương
thức giải nghĩa với sự "thống trị" của phương thức dùng khái niệm, diễn giải.
Trong đó, xu hướng sử dụng khái niệm để giải nghĩa từ tuy có giảm dần theo tiến
trình học tập, phù hợp với năng lực nhận thức ngày càng mở rộng của học sinh
nhưng vẫn giữ một vai trò trọng yếu (luôn luôn trên 50%). Xu hướng giải nghĩa từ
bằng liên hệ vật thật và bằng thực tiễn tăng dần, nhất là ở lớp 5, tổng số hai phương
thức này vượt ngưỡng 30%. Sử dụng từ trái nghĩa và đồng nghĩa, phương thức
chiết tự đều được sử dụng, nhưng tỉ lệ còn rất thấp.
Kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy, các trường hợp giải nghĩa từ liên hệ tới
vật thật hoặc dùng thực tế để giải nghĩa đa phần là các danh từ riêng chỉ địa điểm,
tên danh nhân. Chẳng hạn ở lớp 3 có tên chỉ dòng sông. Lớp 5 có tên chỉ các nhà
khoa học, bác học, tướng lĩnh
2
Giải nghĩa từ ngữ dựa trên văn cảnh (là nội dung của văn bản thơ, văn xuôi) cũng
là một điểm mạnh của chương trình. Những từ ngữ, thành ngữ như rung động ,
vương vương, nuôi sao cho xuể (Tiếng Việt 2, tập 1, tr.51, 117, 125), hiền hòa, đá
một cú trời giáng, mặt cắt không còn giọt máu, chú cần vụ (Tiếng Việt 2, tập 2;
tr.19, 42, 75, 108), 80 năm giời nô lệ (Tiếng Việt 5, tập 1; tr.5) trẻ khó mà nắm
bắt được nghĩa của chúng nếu như không có điểm tựa là ngữ liệu của bài học.
Việc giới thuyết ngắn gọn về tên tác phẩm trong Tiếng Việt 5 (Thư gửi các học
sinh - tập 1, Đất nước - tập 2) cũng là một nỗ lực cung cấp cho học sinh những
hiểu biết sơ giản về "văn cảnh" của chúng trên tinh thần chú trọng nhiều hơn đến
đặc điểm về sự phát triển trong tư duy, nhận thức, tâm lí của lớp cuối cấp tiểu học.
Nhìn chung, giải nghĩa từ trong chương trình Tiếng Việt tiểu học đã đáp ứng được
nhu cầu giảng dạy, nâng cao vốn từ ngữ tiếng Việt cho học sinh. Tính khoa học
của nó là vấn đề không cần nhiều bàn cãi; bởi đa phần người biên soạn đã sử dụng
hình thức giải nghĩa đơn giản, gọn rõ, phù hợp với trẻ thơ, với kích cỡ trang sách,
Các từ cần giải nghĩa cũng có tính đồng tâm và phát triển, được chọn lọc kĩ càng
để sao cho với một số lượng vừa phải (từ 1 - 8 từ ngữ) có thể giúp học sinh nắm

đều là cà cuống, niềng niễng, xập xành, bọ muỗm, cả! Đối sánh với cách giải
nghĩa các từ cùng loại với chúng ở SGK Tiếng Việt 2, tập 2 (như sơn ca, đà điểu,
cuốc - tr.24, 27, 38, ) sẽ dễ dàng nhận ra khiếm khuyết này. Mức độ khó khăn cho
người học càng gia tăng nếu cách giải nghĩa như thế áp dụng cho các từ loại động
từ, tính từ. (Trường hợp từ "đơm" (Tiếng Việt 2, tập 2; tr.5) là một ví dụ).
- Không ít từ giải nghĩa không sát với giá trị thẩm mĩ của chúng trong bài học, đặc
biệt là với những từ nhiều nghĩa, gần nghĩa. Ví như: "ghé" trong hai dòng thơ
"Nắng ghé vào cửa lớp - Xem chúng em học bài" (Tiếng Việt 2, tập 1, tr.60) được
xem như là "ghé mắt" và giải thích: nhìn, ngó. Thực ra, nếu đặt trong văn cảnh của
bài thơ (Cô giáo lớp em), sẽ dễ thấy nghĩa của từ này phải là: Tạm dừng lại (ở bên
ngoài cửa lớp) để xem học sinh học bài. Bởi nắng, như đã biết, là một "người bạn"
bận bịu, đầy hiếu động: Nắng lên cao theo bố - Xây thẳng mạch tường vôi - Lại trải
vàng sân phơi - Hong thóc khô cho mẹ - Nắng chạy nhanh lắm nhé - Chẳng ai đuổi
kịp đâu (Nắng - Mai Văn Hai) chứ đâu phải lúc nào cũng sẵn sàng túc trực bên
ngoài để "nghiêng đầu đưa mắt nhìn" học sinh qua khe cửa lớp học. Vậy mà, chính
vẻ dịu dàng, tận tâm của cô giáo, sự thơ ngây, đáng yêu, tính chăm chỉ, hiếu học
của những người bạn nhỏ, - tất cả tạo thành sức hút không thể cưỡng nổi của lớp
học - khiến cho nắng cũng tạm dừng chân mà thích thú ngắm nhìn.
- Một số từ ngữ lại giải nghĩa thừa. Chẳng hạn cụm từ "thử xem có nghiệm": thử
xem có đúng không (Tiếng Việt 2, tập 1, tr.84). "Thử xem" là thử xem, vậy giải
nghĩa để làm gì. Trong trường hợp này, chỉ cần làm sáng rõ nghĩa của cụm từ "có
nghiệm" là đủ. Cách giải nghĩa từ "thượng khẩn" trong bài tập đọc Lượm (Tiếng
Việt 2, tập 2; tr.131) cũng nằm trong trường hợp này.
- Hạn chế thường gặp nhất - và cũng đáng tiếc nhất - là giải thích sai hoặc không
sát nghĩa của từ; kéo theo nội dung, giá trị thẩm mĩ của bài học bị giảm sút không
ít. Chẳng hạn cách giải nghĩa các từ cựa, hồng mao, mái chèo (Tiếng Việt 2, tập 2;
tr.61, 69):
+ Cựa: móng nhọn mọc ở phía sau chân gà trống.
+ Hồng mao: bờm (ngựa).
+ Mái chèo: vật dùng để đẩy nước cho thuyền đi.

trưng và vị thế của nó, ngoài việc chú trọng phát huy những mặt tích cực cũng như
điều chỉnh những bất cập của cơ chế này trong nội dung chương trình SGK hiện
hành, giáo viên cần lưu ý thêm một số điểm sau đây:
1. Giải nghĩa từ phải cơ bản phải đáp ứng được các tiêu chí: đủ, đúng, ngắn gọn.
Các tiêu chí này phù hợp với năng lực tâm lí - ngôn ngữ và khả năng nhận thức của
học sinh tiểu học.
2. Ngoài nội dung giải nghĩa từ được trình bày trong SGK, người dạy cần cụ thể
hóa hơn nữa nghĩa của từ ngữ bằng:
- Ví dụ minh họa gần gũi, quen thuộc với học sinh;
5
- Hệ thống tranh ảnh, vật thật (sưu tầm hoặc tự tìm kiếm, thiết kế).
3. Không rập khuôn, máy móc, làm lấy lệ theo cách giải nghĩa từ sẵn có trong
SGK, sách giáo viên, nhất là với phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu; cần mạnh
dạn, linh hoạt điều chỉnh cho phù hợp. Quan niệm có tính chất trung dung nhưng
xem ra lại khá thích ứng với dạy học giải nghĩa từ (và dạy học Tiếng Việt nói
chung) là: SGK chỉ là pháp lệnh tương đối. (Sự kế thừa, cách tân và hoàn thiện
dần từ chương trình Cải cách giáo dục đến chương trình mới trên đại thể và chi tiết
được không ít ý kiến bàn thảo lâu nay là một minh chứng cho điều này). Có mạnh
dạn thay đổi quan điểm như thế, người dạy mới có thể chủ động, sáng tạo trong
việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học giải nghĩa từ hiện hành. Tính khả thi
của tiến trình dạy học này, khách quan mà nói, không chỉ được quyết định bởi bản
thân đội ngũ giáo viên mà còn phụ thuộc rất nhiều ở sự đồng thuận, khuyến khích
của các cá nhân, đơn vị trực tiếp quản lí giáo dục - đào tạo như Bộ, Sở, Phòng Giáo
dục - Đào tạo, Ban giám hiệu trường tiểu học, tổ/khối trưởng chuyên môn,
4. Cần đặt từ trong văn cảnh để giải thích. Văn cảnh ở đây không chỉ là văn cảnh
hẹp - tức nội dung của bài học; mà còn là văn cảnh rộng - tức thực tế sử dụng từ
ngữ đa dạng, sinh động của các em.
5. Tránh dùng các từ Hán Việt xa lạ, các thuật ngữ khoa học rắc rối, khó hiểu với
học sinh để giải nghĩa từ.
6. Chú trọng tính tinh giản, sáng rõ của "cái được biểu đạt" nhưng không vì thế mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status