Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam - Pdf 18

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ CHÍNH
TRỊ
Đề tài: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghóa xã hội ở Việt Nam.
GV hướng dẫn: Lê Hùng
SV thực hiện: Võ Thò Ngọc Thủy
Lớp: Cao Đẳng 19E1
Khóa:19
TPHCM, 2005
rong lòch sử, một số nước đã tiến hành công nghiệp hóa bắt đầu từ cuối thế
kỷ XVIII, mở đầu là nước Anh bằng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
nhất. Thực chất của công nghiệp hóa trong thời đó là chuyển nền kinh tế
nông nghiệp với kỹ thuật thủ công sang nền kinh tế công nghiệp với kỹ thuật máy
móc. Ngày nay trên thế giới đang diễn ra cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ,
nó làm cho lực lượng sản xuất có bước phát triển mới về chất, thúc đẩy quá trình cấu
trúc lại nền kinh tế thế giới, làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội… Vì thế,
trong thời đại ngày nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa có vai trò rất quan trọng đối
với tất cả các nước có nền kinh tế chậm phát triển. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là
con đường duy nhất giúp các nước chậm phát triển thoát khỏi nguy cơ tụt hậu so với
các nước chung quanh.
T
Nước ta tiến lên chủ nghóa xã hội từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ, lao động thủ
công là phổ biến. Cái thiếu thốn nhất của chúng ta là một nền đại công nghiệp.
Chính vì vậy, chúng ta phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thay thế
lao động thủ công bằng lao động cơ khí hóa và một phần tự động hóa (khi có điều
kiện) trong các ngành của nền kinh tế quốc dân để đạt được năng suất lao động xã
hội cao. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tốt nhất để phát triển lực lượng
sản xuất vốn đã lạc hậu của nước ta để tạo một quan hệ sản xuất phù hợp cho quá

quản lý kinh tế – xã hội, được sử dụng bằng các phương tiện và các phương pháp
tiên tiến hiện đại cùng với kỹ thuật và công nghệ cao. Như vậy công nghiệp hóa
theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn
thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như
quan niệm trước đây.
Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước,
công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, công nghiệp hóa phải gắn với hiện đại hóa vì: Nước ta tiến hành công
nghiệp hóa trong điều kiện thế giới đang diễn ra cuộc Cách mạng khoa học và công
nghệ và một số nước đã bắt đầu phát triển nền kinh tế tri thức, bởi vậy không chỉ
chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí hóa mà còn phải tranh thủ ứng dụng
rộng rãi những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thời đại.
Thứ hai, công nghiệp hóa trước đây được tiến hành theo cơ chế kế hoạch hóa,
tập trung quan liêu bao cấp, với các chỉ tiêu pháp lệnh. Ngày nay, công nghiệp hóa,
hiện đại hóa theo cơ chế thò trường có sự quản lý của Nhà nước. Kế hoạch chủ yếu
mang tính đònh hướng; thò trường phản ánh nhu cầu xã hội, sẽ quyết đònh việc phân
bổ các nguồn lực cho sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế mới, lấy hiệu quả kinh tế –
xã hội làm thước đo.
Thứ ba, công nghiệp hóa trước đây được coi là việc riêng của Nhà nước; ngày
nay công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần
kinh tế. Phải giáo dục, phát động, tổ chức để toàn dân, mọi thành phần kinh tế tham
gia tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, muốn công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiến nhanh,
phát triển đúng đònh hướng phải tăng cường sức mạnh kinh tế Nhà nước, làm cho
kinh tế Nhà nước thật sự giữ vai trò chủ đạo thể hiện ở tiềm lực kinh tế, năng suất
lao động, hiệu quả sản xuất – kinh doanh, có khả năng hướng dẫn, chi phối nền kinh
tế đất nước.
Thứ tư, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải lấy việc phát huy nguồn
lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Trong mọi chủ
trương, chính sách phải nhằm giải phóng mọi tiềm năng của con người, thường

vật chất – kỹ thuật tương ứng. Cơ sở vật chất – kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ
thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật
tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất thỏa
mãn nhu cầu của xã hội. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nước ta trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghóa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghóa, là phải xây dựng cơ sở vật
chất và kỹ thuật của chủ nghóa xã hội, trong đó có công nghiệp và nông nghiệp hiện
đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Muốn thực hiện thành công nhiệm vụ quan
trọng nói trên, nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hóa , tức là chuyển nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp.
Chủ nghóa xã hội muốn tồn tại và phát triển, cũng cần phải có một nền kinh tế
tăng trưởng và phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công
hữu xã hội chủ nghóa về tư liệu sản xuất. Cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghóa xã
hội. Một mặt, kế thừa những thành quả đã đạt được trong xã hội tư bản chủ nghóa;
mặt khác, nó được phát triển và hoàn thiện nhờ ứng dụng những thành tựu của cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại theo nhu cầu của chế độ xã hội mới. Cơ
sở vật chất – kỹ thuật đó phải tạo ra được một năng suất lao động xã hội cao. Công
nghiệp hóa chính là quá trình tạo ra nền tảng cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân
xã hội chủ nghóa. Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một
bước tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghóa xã hội, phát triển mạnh mẽ
lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghóa.
Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa về kinh tế đang phát triển mạnh mẽ,
trong điều kiện cách mạng khoa học – kỹ thuật và công nghệ hiện đại phát triển rất
nhanh chóng; những thuận lợi và khó khăn về khách quan và chủ quan, có nhiều thời
cơ và cũng nhiều nguy cơ, vừa tạo ra vận hội mới, vừa cản trở, thách thức nền kinh
tế của chúng ta, đan xen với nhau, tác động lẫn nhau. Vì vậy, đất nước chúng ta phải
chủ động sáng tạo nắm lấy thời cơ, phát huy những thuận lợi để đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hóa tạo ra thế và lực mới để vượt qua những khó khăn, đẩy lùi nguy cơ,
đưa nền kinh tế tăng trưởng, phát triển bền vững.
3. Tác dụng của công nghiệp hóa
Công nghiệp hóa ở nước ta trước hết là quá trình thực hiện mục tiêu xây dựng

triển cao mà còn là yêu cầu khách quan của việc củng cố và tăng cường khả năng
quốc phòng – an ninh, của sự thống nhất giữa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghóa.
Mục tiêu lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý,
quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Như
vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế thực chất là một cuộc cải biến cách
mạng sâu sắc và toàn diện, trước hết và chủ yếu là từ phát triển lực lượng sản xuất,
dẫn tới một loạt hệ quả tất yếu tác động tích cực đến các mặt của đời sống xã hội,
hình thành những yếu tố của hình thái xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghóa. Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa bảo đảm giành thắng lợi cho chủ nghóa xã hội. Vì thế công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ
nghóa xã hội xuất phát từ nền kinh tế kém phát triển, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghóa
và là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong sự nghiệp xây dựng chủ nghóa
xã hội ở nước ta.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng nhấn mạnh: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới ở nước ta.
II. NỘI DUNG CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở
NƯỚC TA
1. Công nghiệp hóa xã hội chủ nghóa là quá trình xây dựng cơ sở vật chất –
kỹ thuật của chủ nghóa xã hội, thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội và ứng
dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
Công nghiệp hóa xã hội chủ nghóa và cách mạng kỹ thuật (ngày nay gọi là cách
mạng khoa học và công nghệ) là hai khái niệm khác nhau. Công nghiệp hóa chỉ tiến
hành ở những nước kinh tế phát triển chưa cao.
Cách mạng kỹ thuật không những được tiến hành ở những nước kém phát triển,
mà còn được thực hiện ở những nước có nền công nghiệp hoàn chỉnh, phát triển cao
và sẽ được tiến hành không ngừng với trình độ ngày càng cao. Tuy nhiên, trong điều
kiện một nước sản xuất nhỏ, lao động thủ công còn phổ biến tiến lên chủ nghóa xã
hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghóa như nước ta thì cả công nghiệp hóa và cách

khâu có ý nghóa quyết đònh trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, nhất là đối với
hàng xuất khẩu, ở những ngành tác động trực tiếp tới việc nâng cao trình độ công
nghệ của nhiều ngành khác.
Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, ưu tiên công nghệ ít
vốn, thu hồi vốn nhanh, tạo nhiều việc làm, tranh thủ ứng dụng và phát triển các
công nghệ tiên tiến như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới, chế
tạo máy, năng lượng.
Hai là, quan hệ giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu. Bảo
đảm vừa mở rộng xây dựng cơ sở mới cần thiết, vừa nâng cao và hiện đại hóa các cơ
sở hiện có. Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực hiện có, càng về sau càng
hướng mạnh vào phát triển theo chiều sâu.
Ba là, mối quan hệ giữa các loại quy mô của các doanh nghiệp.
Trong phát triển mới, cần ưu tiên các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, công
nghiệp tiên tiến, thu hồi vốn nhanh, đồng thời chỉ xây dựng những công trình có quy
mô lớn khi thật cần thiết và có hiệu quả.
Khi xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật mới, thực hiện cơ khí hóa các ngành của
nền kinh tế quốc dân, phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề như: xây dựng phải đi
đôi với quản lý, sử dụng để phát huy hiệu quả, kết hợp chặt chẽ giữa tổ chức lại sản
xuất với phân công lao động trong từng đơn vò kinh tế, trong phạm vi toàn xã hội;
giữa tổ chức sản xuất và phương thức hoạt động của nền kinh tế được cơ khí hóa với
cơ chế quản lý và hệ thống các chính sách, pháp luật; giữa sản xuất cơ giới với kết
cấu hạ tầng sản xuất và các điều kiện khác liên quan đến sản xuất; giữa đội ngũ cán
bộ quản lý, kinh doanh với đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật và công nhân lành
nghề.
2. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội chủ nghóa là quá trình hình thành
cơ cấu kinh tế mới
Hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế là một nội dung quan trọng khác của quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ cấu kinh tế hợp lý là điều kiện để nền kinh
tế tăng trưởng, phát triển. Vì vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải xây
dựng cơ cấu kinh tế hợp lý hiện đại.

40-41%, dòch vụ 42-43%.
3. Thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo đònh hướng xã hội chủ nghóa
Công nghiệp hóa ở nước ta nhằm mục tiêu xây dựng chủ nghóa xã hội. Do đó,
công nghiệp hóa không chỉ là phát triển lực lượng sản xuất, mà còn là quá trình thiết
lập, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp theo đònh hướng xã hội chủ
nghóa.
Theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất, bất cứ sự thay đổi nào của quan hệ sản xuất, nhất là quan hệ sở hữu
về tư liệu sản xuất, cũng đều là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ là phát triển mạnh lực lượng sản xuất, khơi
dậy và khai thác mọi tiềm năng kinh tế, mọi nguồn lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế và tùy theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà quan hệ sản xuất sẽ từng
bước được cải thiện cho phù hợp.
Trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất hiện đại tất yếu đòi hỏi phải xác
lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu. Vì vậy, khi cơ sở vật chất –
kỹ thuật của chủ nghóa xã hội được xây dựng xong về căn bản thì chế độ công hữu
sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối. Nhưng để đạt tới trình độ đó phải trải qua quá trình phát
triển kinh tế – xã hội lâu dài, trong đó quan hệ sản xuất được cải biến dần từ thấp
đến cao theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tiêu chuẩn căn bản để xét
một quan hệ sản xuất nhất đònh có phù hợp với tính chất và trình độ lực lượng sản
xuất hay không, có đúng đònh hướng xã hội chủ nghóa hay không, là ở chỗ nó có thúc
đẩy phát triển lực lượng sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân, tạo điều kiện thực
hiện công bằng xã hội tốt hơn hay không?
CHƯƠNG 2
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
I. GIAI ĐOẠN TẠO TIỀN ĐỀ CÔNG NGHIỆP HÓA: TỪ NĂM
1986 ĐẾN NĂM 1995
o Về chế độ sở hữu: từ chỗ dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất với hai

trung ưu tiên phát triển công nghiệp nặng nhằm tạo ra một nền công nghiệp làm nền
tảng vật chất cho chủ nghóa xã hội, thực chất là xác lập một nền kinh tế tự cấp, tự
túc. Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn nền kinh tế đến khủng
hoảng cơ cấu, đến lượt nó, khủng hoảng cơ cấu lại ảnh hưởng đến khủng hoảng kinh
tế. Đại hội VI đã chỉ ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng này. Một trong những chính
sách và biện pháp chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1986 – 1990 là: “… thực hiện cho
được chương trình mục tiêu về lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất
khẩu, …”. Thực hiện 3 chương trình mục tiêu này “không những có ý nghóa sống còn
trong tình hình trước mắt, mà còn là những điều kiện ban đầu không thể thiếu được
để triển khai công nghiệp hóa xã hội chủ nghóa trong chặng đường tiếp theo”. Thực
chất đây là sự chuyển hướng chiến lược công nghiệp hóa từ ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng sang lấy nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
làm trọng tâm.
o Về cơ chế vận hành: trong quá trình chuyển sang cơ chế thò trường, Đảng ta
chủ trương kiên quyết và dứt khoát: “… xóa bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, xây
dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và với trình độ phát triển của nền
kinh tế”. Nội dung cốt lõi của cơ chế mới là kế hoạch hóa theo phương thức hạch
toán kinh doanh xã hội chủ nghóa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, khắc phục sự
trì trệ, thiếu năng động của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, tạo ra một cơ sở mới
cho sự phát triển nền kinh tế nước ta. Mặt khác, phải sử dụng có hiệu quả các đòn
bẩy kinh tế nhằm kích thích sản xuất phát triển, lập lại trật tự và ổn đònh thò trường.
Đây là sự thay đổi về chất quan trọng nhất trong quá trình phát triển kinh tế của Việt
Nam, có thể nói, điều này đồng nghóa với việc thay thế phương thức tiến hành công
nghiệp hóa ở nước ta.
Cụ thể hóa các quan điểm và chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành một
hệ thống các chính sách, chẳng hạn: Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1987),
sửa đổi và bổ sung (1990), là luật ra đời sớm nhất trong thời kỳ đổi mới, được xem là
bước ngoặt trong mô hình phát triển kinh tế Việt Nam, đánh dấu sự chuyển biến có
tính chiến lược về xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Có thể nói,
đây là cơ sở pháp lý quyết đònh đặt nền kinh tế nước ta vào trung tâm của quá trình

trường bước đầu được hình thành, trở thành cơ chế quan trọng trong việc huy động,
luân chuyển và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của xã hội. Với việc áp dụng hệ
thống giá thò trường thay cho hệ thống giá kế hoạch, giá cả hình thành và thay đổi
hoàn toàn tự do không có sự can thiệp của nhà nước. Việc thiết lập mặt bằng giá
mới, khâu mấu chốt của việc áp dụng cơ chế giá thò trường đã góp phần vào ổn đònh
nền kinh tế và tạo ra môi trường khuyến khích sự cạnh tranh bình đẳng của các thành
phần kinh tế. Quan hệ cung – cầu và sự vận động của giá cả thò trường đã trở thành
tín hiệu cho các quyết đònh sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư, cung cấp hướng
dẫn thông tin để doanh nghiệp điều chỉnh hoạt động của mình. Thò trường hàng hóa
dòch vụ phát triển đã tạo động lực kích thích sản xuất kinh doanh, đáp ứng yêu cầu
tiêu dùng trong xã hội. Cơ cấu thò trường đã thay đổi cả về nội dung, hình thức và
chức năng hoạt động góp phần ổn đònh tình hình kinh tế – xã hội.
II. GIAI ĐOẠN ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA: TỪ NĂM
1996 ĐẾN NAY
Trên cơ sở đánh giá là đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ “chuẩn bò tiền đề cho
công nghiệp hóa” của chặng đường đầu của thời kỳ quá độ, khẳng đònh nước ta đã ra
khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội sau 10 năm đổi mới, cho phép chuyển sang giai
đoạn phát triển mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Với mục tiêu đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển nhằm khắc phục nguy cơ
tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước khác và tạo ra tiền đề để nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trên cơ sở đó nâng cao vò thế của
Việt Nam trên trường quốc tế, Đại hội VIII đã tiếp tục những quan điểm, chủ trương,
chính sách đổi mới đất nước trong bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi,
trên một số vấn đề chủ yếu sau:
o Khẳng đònh tiếp tục phát triển và thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, như cách phân đònh thành phần kinh tế
của Đại hội VII, nhưng cách xác đònh thành phần, tên gọi đã có thay đổi, thuật ngữ
“kinh tế nhà nước” thay cho “kinh tế quốc doanh”; thuật ngữ “kinh tế hợp tác” thay
cho “kinh tế tập thể”; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản
tư nhân.

tiêu và cơ chế vận hành, cần có chính sách thu hút mạnh hơn và quan tâm phân tích,
điều chỉnh để bảo đảm mối tương quan hợp lý với các thành phần kinh tế trong nước,
trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và kinh tế nhà nước cùng với kinh tế
tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Vấn đề
hình thành một cấu trúc quan hệ sản xuất mới với các thành phần kinh tế nêu trên
thực sự đóng vai trò mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Kế thừa các quan điểm và đònh hướng của Đảng ta về công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, Đại hội IX nhấn mạnh: “Con đường công nghiệp hóa của nước ta cần
và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy
vọt”. Đồng thời, tiếp tục khẳng đònh quan điểm: “… gắn chặt việc xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”. Đây là yêu cầu cấp thiết
của nước ta nhằm sớm thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển so với các nước và
các nền kinh tế khác, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và sự phát triển
của nền kinh tế tri thức, mặt khác, Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để rút
ngắn thời gian thực hiện công nghiệp hóa đất nước.
o Về cơ chế quản lý, Đảng ta khẳng đònh: “tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố
thò trường; đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của nhà nước”, với việc thúc
đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thò trường theo đònh
hướng xã hội chủ nghóa như thò trường hàng hóa và dòch vụ, thò trường lao động, thò
trường khoa học – công nghệ, thò trường vốn, thò trường bất động sản… Đồng thời,
tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vó mô của nhà nước, với chức năng cơ bản là
đònh hướng phát triển, tạo môi trường pháp lý và kinh tế cho các chủ thể kinh tế hoạt
động, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế theo đúng luật pháp và chính sách…
Nhà nước tôn trọng nguyên tắc và cơ chế hoạt động khách quan của thò trường.
Việc hiện thực hóa các đònh hướng nêu trên thể hiện thông qua việc hoàn thiện
các cơ chế, chính sách đã được ban hành, bổ sung và sửa đổi một số bộ luật và luật,
đáp ứng nhu cầu của thực tiễn đặt ra. Mặt khác, công tác xây dựng thể chế và cải
cách thủ tục hành chính đã có những bước tiến nhất đònh. Nhiều cơ chế, chính sách
mới như phát huy nội lực, chuyển dòch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu đi đôi với
việc mở rộng thò trường trong nước, khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất kinh

cương lónh, chiến lược ổn đònh và phát triển kinh tế – xã hội. Đây là tiền đề chính trò
bên trong cho công nghiệp hóa.
Môi trường quốc tế và xu hướng phát triển mới của thế giới cũng tạo ra tiền đề
bên ngoài thuận lợi cho quá trình công nghiệp hóa ở nước ta. Trước hết, đó là môi
trường hòa bình, xu hướng hòa hoãn và hợp tác quốc tế cho phép ta mở rộng quan hệ
bạn bè và hợp tác với nhiều nước, tranh thủ sự viện trợ, giúp đỡ đa phương của quốc
tế. Xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới tạo điều kiện và thời cơ cho
những nước kém phát triển, trong đó có Việt Nam có thể sử dụng những thành tựu
mới của cách mạng khoa học và công nghệ, nguồn vốn nước ngoài vào sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa bằng cách tham gia vào sự phân công và hợp tác quốc
tế. Sự lớn mạnh của các lực lượng đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và tiến bộ, sự
thức tỉnh của nhân loại về một thế giới mới cũng là hoàn cảnh thuận lợi cho các nước
kém phát triển đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế. Mấy
chục năm qua, một số nước đã biết lợi dụng hoàn cảnh quốc tế đẩy nhanh quá trình
này trong thời gian ngắn, từ một nước lạc hậu kém phát triển trở thành một nước
công nghiệp.
2. Tích lũy vốn là điều kiện có tầm quan trọng bậc nhất
Có hai nguồn để tích lũy vốn:
Một là, tích lũy vốn từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.
Hai là, dựa vào viện trợ và vay nợ nước ngoài và các tổ chức phi chính phủ.
Trong hai nguồn đó, nguồn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân xét về lâu dài
là nguồn chủ yếu, có vai trò quyết đònh. Song, nguồn vốn từ bên ngoài cũng rất quan
trọng, nhất là chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghóa xã hội.
Tích lũy vốn từ nội bộ nền kinh tế quốc dân được thực hiện trên cơ sở nâng cao
hiệu quả sản xuất: nguồn của nó là lao động thặng dư của người lao động thuộc tất
cả các thành phần kinh tế tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghóa xã hội.
Con đường cơ bản để giải quyết vấn đề tích lũy vốn trong nước là tăng năng suất
lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, công nghệ mới, hợp
lý hóa sản xuất, xóa bỏ cơ chế kinh tế và cơ chế quản lý cũ, chuyển sang cơ chế thò
trường có sự quản lý của nhà nước.

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
5. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ và sử dụng công
nghệ mới
Công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ cần được xúc tiến mạnh mẽ nhằm
vạch ra phương hướng chính xác cho việc lựa chọn và sử dụng những thành tựu của
cách mạng khoa học và công nghệ, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghóa
xã hội.
Khoa học bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật và
công nghệ… phải bảo đảm cơ sở khoa học cho các quyết đònh quan trọng của các cấp
lãnh đạo quản lý, là công cụ chủ yếu để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả
của hoạt động kinh tế – xã hội. Trong việc phát triển nghiên cứu khoa học và công
nghệ hiện nay, cần chú trọng nghiên cứu ứng dụng những công nghệ thích hợp với
điều kiện của nước ta; đồng thời nghiên cứu ứng dụng có trọng điểm một số công
nghệ hiện đại thành những ngành mới với công nghệ cao hơn như công nghệ dầu khí,
hóa dầu, điện tử, tin học, sinh học, vật liệu mới, công nghệ gia công chế biến…
6. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Tiến hành quá trình công nghiệp hóa ở các nước kinh tế kém phát triển là nhiệm
vụ vô cùng khó khăn, gian khổ.
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và xu hướng toàn
cầu hóa đời sống kinh tế ngày càng sâu rộng, đã và đang tạo ra mối liên hệ và sự
phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế dân tộc; đồng thời cũng tạo ra khả năng và
điều kiện để các nước tham gia vào phân công hợp tác quốc tế. Đặc điểm đó của
thời đại cho phép các nước chậm phát triển mở rộng các quan hệ kinh tế với nước
ngoài để tranh thủ vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức quản lý, đào tạo cán bộ, công
nhân… thông qua việc đa phương hóa các quan hệ và đa dạng hóa các hình thức hoạt
động kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Biết khai thác và sử
dụng khéo léo các nguồn lực bên ngoài để huy động tối đa mọi nguồn lực và lợi thế
bên trong sẽ tạo ra các tiền đề cần thiết để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Song, việc tranh thủ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
bên ngoài, lại tùy thuộc vào khả năng hấp thụ ở trong nước. Do đó, tự lực tự cường,

MỞ BÀI 1
CHƯƠNG I: CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TRONG THỜI KỲ QUÁ
ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 2
III. TÍNH TẤT YẾU CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 2
4. Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa 2
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ Ⅸ , Nxb. Chính trò quốc gia,
Hà Nội, 2001, tr. 89 – 90.
5. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghóa xã hội ở nước ta 4
6. Tác dụng của công nghiệp hóa 5
IV. NỘI DUNG CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở
NƯỚC TA 6
Công nghiệp hóa xã hội chủ nghóa là quá trình xây dựng cơ sở vật chất – kỹ
thuật của chủ nghóa xã hội, thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội và ứng
dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ 6
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội chủ nghóa là quá trình hình thành cơ
cấu kinh tế mới 8
Thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo đònh hướng xã hội chủ nghóa 9
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN
ĐẠI HÓA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở
NƯỚC TA 10
I. GIAI ĐOẠN TẠO TIỀN ĐỀ CÔNG NGHIỆP HÓA: TỪ NĂM 1986 ĐẾN
NĂM 1995 10
II. GIAI ĐOẠN ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA: TỪ NĂM 1996
ĐẾN NAY 12
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA 16
1. Phải có sự ổn đònh về chính trò – xã hội 16
2. Tích lũy vốn là điều kiện có tầm quan trọng bậc nhất 16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status