Trường Đại Học Ngoại Thương Hà Nội
Khoa Lí Luận Chính Trị
TIỂU LUẬN NGUYÊN LÍ
MÁC-LÊNIN I
Phép biện chứng về mâu thuẫn và vận
dụng phân tích mâu thuẫn biện chứng
trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Nguyễn Thùy Linh
Lớp A6-TC Khóa 48
Giáo viên hướng dẫn: Trần Huy Quang
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2009
Trường Đại Học Ngoại Thương Hà Nội
Khoa Lí Luận Chính Trị
TIỂU LUẬN NGUYÊN LÍ
MÁC-LÊNIN I
Phép biện chứng về mâu thuẫn và vận dụng
phân tích mâu thuẫn biện chứng trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta
Nguyễn Thùy Linh
Lớp A6-TC Khóa 48
2
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2009
3
Mục lục
Lời mở đầu 5
Phần I: Lý luận phép biện chứng về mâu thuẫn 6
2. Phân loại mâu thuẫn 7
3. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển. 8
4. Ý nghĩa phương pháp luận 9
Lời mở đầu
Được khởi xướng bởi Đảng Cộng sản Việt Nam trong những năm đầu thập niên
1980, Chính Sách Đổi Mới đã được thông qua trong Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt
Nam lần thứ VI và bắt đầu thực hiện trên toàn quốc. Chính Sách Đổi Mới này đã tạo nên
quá trình chuyển biến trong nền kinh tế nước ta: từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình đổi mới, Nhà Nước đã chấp nhận sự tồn
tại, bình đẳng và hợp pháp của nhiều thành phần kinh tế mà kinh tế Nhà Nước giữ vai trò
chủ đạo. Chính sách là sự tiếp thu những tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như
học thuyết kinh tế thị trường xã hội của Samuelson- người đạt giải Nobel năm 1970 với lí
thuyết nền kinh tế hỗn hợp. Nhờ vậy, công cuộc đổi mới của nước ta đã đạt những thành
tựu to lớn : chặn đứng khủng hoảng kinh tế; thu hút vốn đầu tư nước ngoài; nâng cao các
mặt phúc lợi xã hội, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân; đẩy mạnh sự phát
triển về văn hóa, xã hội, chính trị,
Tuy nhiên, trong những thành công luôn tồn tại những điểm mâu thuẫn kìm hãm
sự phát triển của công cuộc đổi mới, ví dụ: sự phân hóa giàu nghèo, ảnh hưởng ô nhiễm
nặng nề tác động lên môi trường, tệ nạn xã hội, v.v. Đây là những hạn chế đòi hỏi cần có
sự quan tâm và phương pháp giải quyết nhằm thúc đẩy sự đi lên của nước ta, đưa nước ta
thực sự trở thành nền kinh tế thị trường, sánh vai cùng các nước trên thế giới.
Với tính cấp thiết như trên cùng mong muốn tìm hiểu sâu về nền kinh tế nước ta,
quan điểm lí luận cũng như những giải pháp giải quyết mâu thuẫn tồn tại trong quá trình
phát triển kinh tế, em chọn đề tài “ Phép biện chứng về mâu thuẫn và vận dụng phân tích
mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta” để viết tiểu luận Triết học Mác-Lênin. Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, bài
tiểu luân của em không tránh khỏi những sai sót. Em mong thầy cô giáo có thể đóng góp
ý kiến để giúp bài tiểu luận của em được hoàn thiện.
5
Phần I: Lý luận phép biện chứng về mâu thuẫn
Trong quá trình vận động và phát triển của sự vật luôn luôn xẩy ra mâu thuẫn, đó
là mâu thuẫn giữa các yếu tố trong bản thân sự vật hay mâu thuẫn giữa các sự vật với
nhau, tạo thành động lực bên trong của mọi quá trình vận động và phát triển khách quan
của chính bản thân các sự vật hiện tương.
Mâu thuẫn là một hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư
duy của con người. Khoa học tự nhiên hiện đại chứng minh rằng thế giới vi mô là sự
thống nhất giữa những thực thể có điện tích trái dấu, hạt và trường, hạt và phản hạt.
Trong sinh học có hấp thụ và bài tiết, di truyền và biến di. Xã hội loài người có những
mâu thuẫn phức tạp hơn, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ
sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; giữa các giai cấp đối kháng giữa chủ nô và nô lệ,
nông dân và địa chủ, tư sản và vô sản. Hoạt động kinh tế mâu thuẫn cũng mang tính phổ
biến, chẳng hạn như cung và cầu , tích luỹ và tiêu dùng, tính kế hoạch hoá của từng xí
6
nghiệp, Công ty với tính vô chính phủ của nền kinh tế hàng hóa,…Trong tư duy của con
người cũng có những mâu thuẫn như chân lý và sai lầm,…
Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật mới xuất hiện cho tới khi sự vật kết thúc Trong
mỗi sự vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ có một mà có thể có nhiều mâu thuẫn,
vì sự vật trong cùng một lúc có rất nhiều mặt đối lâp. Mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn
khác hình thành Ăng-ghen( chính sự vận động đơn giản nhất của vật chất cũng là một
mâu thuẫn. Vật chất tồn tại ở hình thức vận động cao hơn, mâu thuẫn càng rõ nét hợn Nó
gắn liền với sự vật, xuyên suốt quá trình phát sinh phát triển và diệt vong của sự vât. Đó
chính là những thuộc tính quy định tính khách quan và phổ biến của mâu thuẫn.
+) Mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú
Tính đa dạng của mâu thuẫn biểu hiện ở chỗ: mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình
đều có thẻ bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những
điều kiện lịch sử, cụ thể khác nhau; chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau với sự tồn tại, vận
động và phát triển của sự vật. Mâu thuẫn được phân chia thành nhiều loại: mâu thuẫn bên
trong/bên ngoài, mâu thuẫn cơ bản/không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu/thứ yếu, v.v
Trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại những mâu thuẫn với những tính chất khác
nhau tạo nên tính phong phú trong sự biểu hiện của mâu thuẫn.
2. Phân loại mâu thuẫn
- Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt các mâu
lợi ích cơ bản đối lập với nhau. Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực
lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau, chỉ đối lập về lợi ích không cơ bản,
cục bộ, tạm thời.
3. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát
triển.
Sự thống nhất và đối lập của các mặt đối lập là hai xu hướng tác động khác nhau
của các mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn. Sự thống nhất và đấu tranh không tách rời nhau
trong quá trình vận động, phát triển của sự vật. Quá trình thống nhất và đấu tranh của các
mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa giữa chúng. Lúc mâu thuẫn mới xuất hiện, nó
thể hiện sự khác biệt và phát triển thành hai mặt đối lập. Khi hai mặt đối lập của mâu
thuẫn xung đột với nhau gay gắt và khi điều kiện đã chín muồi, chúng sẽ chuyển hóa lẫn
nhau. Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới được hình thành, quá trình tác động, chuyển
hóa giữa các sự vật được tiếp diễn, làm cho hiện tượng luôn vận động và phát triển.
Tuy nhiên, không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn đến sự
chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến một trình
độ nhất định, hội đủ các điểu kiện cần thiết mới dẫn đến chuyển hoá giữa chúng, bài trừ
và phủ định lẫn nhau. Trong giới tự nhiên, chuyển hoá của các mặt đối lập thường diễn ra
một cách tự phát, còn trong xã hội, chuyển hoá của các mặt đối lập nhất thiết phải thông
qua hoạt động có ý thức của con người.
Do đó, không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập chỉ là sự hoán
đổi vị trí một cách dơn giản máy móc. Thông thường thì mâu thuẫn chuyển hoá theo hai
phương thức:
+ Phương thức thứ nhất: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia nhưng
ở trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vât.
+ Phương thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để thành hai mặt
đối lập mới hoàn toàn.
Từ những mâu thuẫn trên cho ta thấy trong thế giới hiện thực, bất kỳ sự vật hiện
tượng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những thuộc tính có khuynh
hướng phát triển ngược chiều nhau. Sự đấu tranh chuyển hoá của các mặt đối lập trong
điều kiện cụ thể tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan, phổ biến trên
cạnh tranh kém sẽ bị đào thải.
Về nhược điểm, cơ chế phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế thị trường có thể dẫn
tới bất bình đẳng. Đấy là chưa kể vấn đề thông tin không hoàn hảo có thể dẫn tới việc
phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Do một số nguyên nhân, giá cả có thể không linh hoạt
trong các khoảng thời gian ngắn hạn khiến cho việc điều chỉnh cung cầu không suôn sẻ,
dẫn tới khoảng cách giữa tổng cung và tổng cầu. Đây là nguyên nhân của các hiện tượng
thất nghiệp, lạm phát.
Trong thực tế hiện nay, không có một nền kinh tế thị trường hoàn hảo, cũng như
không có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hoàn toàn (trừ nền kinh tế Bắc Triều Tiên).
Thay vào đó là nền kinh tế hỗn hợp. Tùy ở mỗi nước mà các yếu tố thị trường nhiều hay
ít.
Trong thương mại quốc tế, mức độ thị trường hóa nền kinh tế có thể được sử dụng
làm tiêu chí trong xác định điều kiện thương mại giữa hai nước.
1.2 Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tên gọi một hệ thống kinh tế
được Đảng Cộng sản Việt Nam sáng tạo và chủ trương triển khai tại Việt Nam từ thập
niên 1990.
Cho đến nay, chính Đảng Cộng sản Việt Nam cũng thừa nhận rằng chưa có nhận
thức rõ, cụ thể và đầy đủ về thế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
mà chỉ có giải thích hạn chế và chung chung rằng, đó là một nền kinh tế vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hướng
tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nguyên nhân
của tình trạng này là hệ thống kinh tế này là hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử.
Thêm vào đó, công tác lý luận ở Việt Nam về hệ thống kinh tế này còn chưa theo kịp
10
thực tiễn. Gần 20 năm theo đuổi chủ trương xây dựng hệ thống kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng các thể chế cho hệ thống này hoạt động vẫn chưa có đầy
đủ. Mãi tới hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
khóa X, Đảng mới ra nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 30 tháng 1 năm 2008 về tiếp tục
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Và, mãi tới ngày 23
Nước ta, việc thực hiện mô hình này, trong thực tế, chẳng những là nội dụng của
công cuộc đổi mới mà hơn thế nưa còn là công cụ, là phương thức để nước ta đi tới mục
tiêu xây dựng CNXH.
Nền kinh tế nước ta hiện nay chỉ có thể nó đang trong giai đoạn quá độ, chuyển
tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản
lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng XHCN. Do vậy, những đặc điểm của giai đoạn
quá độ trong nền kinh tế nước ta, đương nhiên là một vấn đề rất có ý nghĩa, rất cần được
nghiên cứu, xem xẹt Nhận thức được những đặc điểm phức tạp của giai đoạn quá độ, chi
phối những đặc điểm đó, chúng ta sẽ tránh được những sai lầm chủ quan nóng vội, duy ý
chí hoặc những khuynh hướng cực đoan, máy moc,sáo chép, chấp nhận nguyên bản kinh
tế thị trường từ bên ngoài vạo
11
Như chúng ta đã biết, trong nền kinh tế tập trung , bao cấp, mọi chức năng kinh tế
xã hội của nền kinh tế đều được triển khai trong quá trình kế hoạch hoá ở cấp độ quốc
gia. Tính bao cấp của nhà nước đối với các hoạt động của sản xuất lưu thông, phân phối
khá nặng nề, ở nước ta trước đây, chế độ hạch toán, trên thực tế còn nặng về hình thực
.Lợi ích kinh tế, đặc biệt là lợi ích cá nhân người lao động, một động lực trực tiếp của
hoạt động xã hội chưa được quan tâm đúng mực Vì thế, sự vận động của nền kinh tế nhìn
chung là chậm chạp, kém năng động.
Kể từ đại hội Đảng lần thú VI (121986/) đến nay, theo đường lối đổi mới, đất
nước ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường với định hướng Xã hội chủ
nghĩa. Và điều đó có ý nghĩa là chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng,
những thành tựu cho phép chúng ta “ điều chỉnh và bổ sung nhận thức, làm cho quan
niệm về chủ nghĩa xã hội ngày càng cụ thể: đường lối chủ trương, chính sách ngày càng
đồng bộ, có căn cứ khoa học và thực tiễn. Những thành tựu đó, trong một chừng mực
nhất định cũng gián tiếp khả năng của nền kinh tế thị trường trong việc năng động hoá
nền kinh tế đất nước.
Kinh tế thị trường, như chúng ta đã biết là một quan hệ kinh tế – xã hội mà trong
đó sản xuất và tái sản xuất gắn liền với thị trường, tức là gắn chặt với quan hệ hàng hoa
tiền tệ, với quan hệ cung- cầu … Trong nền kinh tế thị trường , nét biểu hiện có tính chất
2. Những mâu thuẫn tồn tại trong nền kinh tế định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
2.1 Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng xã
hội chủ nghĩa.
Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta từ một nước phong kiến đi lên bỏ
qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa nên gặp rất nhiều khó khăn và thử thách, đặc biệt là trong
lĩnh vực kinh tế. Điều đó đòi hỏi nhà nước ta phải có những biện pháp phù hợp để phát
triển nền kinh tế thị trường nhưng vẫn giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trước đây để xây dựng nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
nước ta đã xây dựng một nền kinh tế kế hoạch với hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn
dân và sở hữu tập thể. Vì vậy đã làm kìm hãm sự phát triển nền kinh tế.
Khi đất nước ta hoàn toàn thống nhất, Đảng và Nhà nước ta đã xác định nước ta
sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Nhưng lúc đó chúng ta còn
nhận thức đơn giản về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nên chúng
ta đã coi chủ nghĩa xã hội là một nhà nước của dân và do dân làm chủ, xoá bỏ chế độ tư
hữu về tư liệu sản xuất nên đã thiết lập nên một nền kinh tế mà chỉ có sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể. Do đó đã tạo nên một nền kinh tế quản lý tập trung quan liêu bao cấp. Hậu
quả là cơ quan quản lý nhà nước làm thay chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Còn các doanh nghiệp vừa bị trói buộc vì không có quyền tự chủ, vừa ỷ lại
vào cấp trên vì không bị ràng buộc với kết quả sản xuất kinh doanh. Thêm vào đó bộ máy
quản lý cồng kềnh làm triệt đi tính năng động sáng tạo của các đơn vị kinh tế, hình thành
cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội. Khi đó chủ yếu phát triển kinh tế theo chiều
rộng chứ không phải phát triển kinh tế theo chiều sâu. Vì vậy, tại đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI năm 1986, Đảng ta đã đề ra phương hướng đổi mới kinh tế là chuyển nền kinh
tế nước ta sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước.
Như vậy chấp nhận nền kinh tế thị trường là chúng ta chấp nhận sự mâu thuẫn của
nó với tính định hướng xã hội chủ nghĩa vì nền kinh tế thị trường gồm có nhiều thành
phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu và do đó cũng có nhiều hình thức phân phối. Sự
phức tạp và đa dạng của nền kinh tế thị trường làm cho định hướng xã hội chủ nghĩa ngày
loại khác, nắn dòng sông, đào kênh, bạt núi, xây dựng các trạm thuỷ điện với các hồ chứa
nước nhân tạo… những hoạt động đó đã ảnh hưởng tới khí hậu, từ đó tác động mạnh tới
sinh quyển. Trước đây, ở nước ta có 3/4 diện tích đất đai là rừng, nay chỉ còn 1/4 là rừng.
Nhiều loại gỗ quý như gụ, lát hoa, giáng hương, sến, táu… đã bị khai thác đến mức gần
như cạn kiệt.
Rừng bị triệt hạ nhiều làm cho lượng ôxi trong không khí và lượng chất hữu cơ
sản sinh bị giảm sút rõ rệt. Lượng nước dự trữ do rừng giữ lại ngày càng ít dần, làm cho
quá trình sa mạc hoá và thảo nguyên hoá càng tăng nhanh. Quá trình đô thị hoá nhanh
làm cho diện tích đất trồng ngày càng bị thu hẹp. Sự phân phối nước ngọt cho người và
cho vật nuôi, cây trồng cũng bị hạn chế. Tiến bộ khoa học kĩ thuật được ứng dụng tích
cực vào sản xuất đã kéo theo sự nhiễm bẩn của tất cả các quyển. Các chất thải của nhà
máy làm cho các hồ ao, sông ngòi, cửa biển, cảng và biển cả bị nhiễm bẩn ngày càng
nhiều. Các tầu biển đã thải ra biển và đại dương nhiều chất thải độc hại, làm chết nhiều
sinh vật nổi và những sinh vật khác ăn sinh vật nổi cũng chết theo…
Những khí thải của các nhà máy khi vào trong khí quyển đã làm tăng lượng khí CO và
CO2 trong không khí gây hiện tượng hiệu ứng nhà kính, gây thủng tầng ôzôn, làm cho
trái đất nóng lên dẫn đến băng ở hai cực Trái Đất tan ra, vì vậy nước biển sẽ dâng lên và
nhấn chìm đất liền.
Sự ô nhiễm bầu khí quyển làm cho trái đất ngày càng nóng lên dẫn đến sự thay
đổi thời tiết, khí hậu ở Việt Nam cũng như ở các khu vực khác trên thế giới. Gần đây hiện
tượng sóng thần đã gây thiệt hại nặng nề về người và của cho các nước ở khu vực Nam á
và Đông Nam ở nước ta, tuy không nằm trong khu vực ảnh hưởng của sóng thần nhưng
với thời tiết khô và nhiệt độ cao đã gây ra hàng loạt các vụ cháy rừng ở Sơn La và hạn
hán ở Tây Nguyên, Ninh Thuận, Bình Thuận…
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì nó đã kéo theo hàng loạt các
nhân tố gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Đây là vấn đề quan trọng được đặt ra
không chỉ ở Việt Nam mà cả trên toàn thế giới. Nó đòi hỏi cần phải được giải quyết triệt
14
để nếu không môi trường bị phá huỷ là con người sẽ tự huỷ hoại môi trường sống của
chính bản thân mình.
làm cho người lao động và nâng cao hiệu quả kinh tế nông thôn.
Tăng cường hỗ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất, vươn lên làm giàu: Hỗ trợ
vốn cho người nghèo, hướng dẫn người nghèo làm kinh tế, tăng đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng nông thôn, đặc biệt cho các xã khó khăn, trước hết là xây dựng
đường giao thông đến các xã, thôn, bản tạo điều kiện cho phát triển kinh tế.
Tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội, đặc biệt là các dịch vụ cơ
bản như y tế, giáo dục, kế hoạch hoá gia đình, nước sạch sinh hoạt…
Thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá công tác xoá đói giảm nghèo. Cụ thể là: Đa
dạng hoá các nguồn lực cho xoá đói giảm nghèo; tuyên truyền nhằm nâng cao
nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm xoá đói giảm nghèo từ Trung ương đến cơ sở
15
và người dân, tạo phong trào và sức mạnh tổng hợp xoá đói giảm nghèo; thực
hiện quy chế dân chủ, đảm bảo cho người nghèo tham gia vào các công cuộc xoá
đói, giảm nghèo, công khai về nguồn lực tài chính đảm bảo sự trợ giúp đến được
với người nghèo; tổ chức thực hiện nhân rộng các mô hình xoá đói giảm nghèo
thành công.
3.1.3 Giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường và vấn đề bảo vệ môi
trường.
Sản xuất theo chu kỳ khép kín; khử và lọc nước và khí thải; nghiên cứu những
nhiên liệu mới không hoặc ít gây ô nhiễm; thay thế dần các nhà máy công nghiệp đang
dùng bằng các nhà máy có hệ thống nước khép kín.
Bảo đảm lọc nước theo hệ thống ao lọc; phủ xanh các cơ sở công nghiệp; vận
dụng mạnh mẽ hơn các biện pháp đấu tranh sinh học; xây dựng những vùng kinh tế rừng,
xây dựng nhiều khu rừng quốc gia.
Rừng không chỉ sản xuất ra gỗ mà còn là một cỗ máy khổng lồ của thiên nhiên
làm điều hoà khí hậu, giữ ẩm cho đất, góp phần ngăn chặn các nạn lũ lụt, xói mòn đất đai.
Vì vậy, phải có quy hoạch tổng thể khoa học, vừa khai thác rừng, vừa trồng và bảo vệ
rừng, xây dựng các khu rừng cấm quốc gia, tăng cường sử dụng các biện pháp đấu tranh
sinh học, bảo đảm sự cân bằng sinh học trong rừng, chống nạn cháy rừng.
Luật bảo vệ môi trường của nước ta đã được Quốc hội thông qua năm 1993 nêu
mới kỹ thuật, công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện chế độ quản lý
công ty đối với tất cả các doanh nghiệp kinh doanh có vốn của Nhà nước, doanh nghiệp
thực sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh
doanh.
Phát triển kinh tế kinh tế tập thể dưới nhiều hình thức đa dạng. Trong đó hợp tác
xã là nòng cốt. Nhà nước cần giúp đỡ hợp tác xã về đào tạo cán bộ, xây dựng phương án
sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường. Thực hiện tốt việc chuyển đổi hợp tác xã theo
Luật hợp tác xã.
Khuyến khích kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển ở cả thành thị và nông thôn. Nhà
nước tạo điều kiện và giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển có hiệu quả. Khuyến
khích kinh tế tư bản tư nhân phát triển trong những ngành nghề sản xuất kinh doanh mà
luật pháp không cấm. Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh,
liên kết giữa kinh tế tư nhân trong và ngoài nước: tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài hướng vào mục tiêu phát triển các sản phẩm xuất khẩu, tăng khả năng cạnh
tranh, gắn thu hút vốn với thu hút công nghệ hiện đại.
3.2.2 Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học
– công nghệ; trên cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội là cơ sở chung của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Vì
vậy, để phát triển kinh tế hàng hoá phải đẩy mạnh phân công lao động xã hội. Nhưng sự
phát triển của phân công lao động xã hội do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
quyết định, cho nên muốn mở rộng phân công lao động xã hội, cần đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của nền sản xuất
lớn hiện đại.
3.2.3 Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các nguồn lực kinh tế đều thông qua thị
trường mà được phân bố vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế một cách tối ưu. Vì
vậy, để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng
ta phải hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường. Trong những năm tới chúng
ta cần phải:
Phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ thông qua việc đẩy mạnh sản xuất, thúc
là điều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư.
Muốn giữ vững sự ổn định chính trị ở nước ta hiện nay cần phải giữ và tăng cường vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước, phát
huy quyền làm chủ của nhân dân.
Hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần. Nó tạo ra hành lang luật pháp cho hoạt động kinh tế, buộc
các doanh nghiệp chấp nhận sự điều tiết của Nhà nước.
3.2.6 Xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hoàn thiện cơ chế quản lý kinh
tế của Nhà nước.
Việc xoá bỏ triệt để cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hình thành đồng bộ và
vận hành có hiệu quả cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước có ý nghĩa hết sức
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế hàng hoá của nước ta.
Để nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, cần nâng cao năng lực
của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, thực hiện cải cách nền hành chính quốc
gia. Nhà nước thực hiện định hướng sự phát triển kinh tế; có hệ thống chính sách nhất
quán để tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho hoạt động kinh tế; hạn chế những mặt
tiêu cực của cơ chế thị trường. Nhà nước thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước về
kinh tế và chức năng chủ sở hữu tài sản công, không can thiệp vào chức năng quản trị
kinh doanh để các doanh nghiệp có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Nhà nước sử
dụng các biện pháp kinh tế là chính để điều tiết nền kinh tế, chứ không phải là mệnh lệnh.
Vì vậy, phải tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính
sách tiền lương và giá cả.
18
Phần III: Kết luận
Phép biện chứng về mâu thuẫn đóng một vai trò to lớn trong hoạt động nhận thức
cũng như thực tiễn. Điều quan trọng là cần coi trọng mâu thuẫn, tìm hiều, phân tích
đầy đủ các mặt đối lập để nắm rõ được bản chất, nguồn gốc và đặc điểm của mâu
thuẫn; đồng thời phân biệt được các hình thức mâu thuẫn, xác định cụ thể và chính
xác phương pháp giải quyết mâu thuẫn. Hơn nữa, ta cần nắm vững nguyên lí của giải
quyết mâu thuẫn, đó là: sự đấu tranh giữa các mặt đối lập diễn ra theo qui luật phá bỏ
trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa”
/>Object=17134728&news_ID=291055685
Tạp chí Cộng sản điện tử - Nguyễn Hữu Dũng-TS Viện Khoa học Lao Động và
Xã hội – bài báo “Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta”
/>Object=17134728&news_ID=9642342
Trang web Wikipedia Tiếng Việt – Kinh tế thị trường
/>%C6%B0%E1%BB%9Dng
Trang web Wikipedia Tiếng Việt – Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa />%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%91%E1%BB%8Bnh_h%C6%B0%E1%BB
%9Bng_x%C3%A3_h%E1%BB%99i_ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a
20