Bài thu hoạch thực tế về quản lý cán bộ công chức cơ sở
I-Những vấn đề lý luận về cán bộ và công tác cán bộ:
1-Thực trạng về cán bộ và công tác cán bộ:
a-Vị trí vai trò của chính quyền cơ sở:
Xã,phường,thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở,trực tiếp tiếp xúc và giải quyết
các công việc hàng ngày của nhân dân.Trong hệ thống chính trị ở nước ta,chính quyền cơ
sở có một vị trí vô cùng quan trọng,là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà
nước với nhân dân,thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế,văn
hoá,xã hội,an ninh trật tự,an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân
cấp,đảm bảo cho các chủ trương,chính sách của Đảng,pháp luật của nhà nuốc được triển
khai thực hiện trong cuộc sống.Việc thực thi tốt các chủ trương ,chính sách,pháp luật vừa
có ý nghĩa đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và tính hiệu quả,hiệu lực quản lý của Nhà
nước,tạo niềm tin sâu sắc về Đảng cũng như tính công bằng-dân chủ-văn minh trong lòng
nhân dân.
b-Vị trí,vai trò của cán bộ công chức nói chung và cán bộ công chức cơ sở nói riêng:
Đội ngũ cán bộ,công chức nó chung và cán bộ công chức cơ sở nói riêng có vai
trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở,trong hoạt
động thi hành nhiệm vụ,công vụ.Hiệu lực,hiệu quả của bộ máy chính quyền cơ sở nói
riêng và của hệ thống chính trị cơ sở nói chung,xét cho cùng được quyết định bởi phẩm
chất,năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ,công chức cơ sở.Trong nghị quyết
của Đảng đã chỉ rõ:“nguyên nhân của mọi nguyên nhân là cán bộ và công tác cán
bộ”.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy:mọi việc thành bại bắt nguồn tư nguyên nhân về
cán bộ.Trong nền hành chính nhà nước được cấu thành từ 4 nhân tố:
-Cơ chế-chính sách của nền hành chính nhà nước.
-Bộ phận tổ chức-bộ máy nền hành chính nhà nước.
-Cán bộ-công chức-chế độ công vụ của nền hành chính nhà nước.
-Tài chính công của nền hành chính nhà nước(gồm tài sản và ngân sách nhà nước).
Trong đó ,nhân tố con người là nhân tố tiên quyết,chủ thể của nền hành chính nhà
nước.Trong nhiều văn kiện của Đảng đều khẳng định vai trò cán bộ nói chung và cán
bộ,công chức cơ sở nói riêng đối với sự nghiệp cách mạng nói chung cũng như trong quá
trình cải cách nền hành chính hiện nay nói riêng.Trong văn kiện trung ương 3(khoá VIII)
-Về mặt yếu kém,khuyết điểm:
+Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị,đạo đức lối sống,bệnh cơ hội,chủ
nghĩa cá nhân,thực dụng,thoái hoá biến chất,quan liêu,tham nhũng,lãng phí ,thiếu trách
nhiệm,thiếu tự giác rèn luyện,phấn đấu,thiếu tinh thần đồng chí trong một bộ phận không
nhỏ cán bộ diễn ra nghiêm trọng,kéo dài nhưng chưa có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn
và kịp thời xử lý.Một số ít cán bộ có biểu hiện bất mãn,suy giảm niềm tin,nói và làm trái
quan điểm,đường lối của Đảng,vi phạm nguyên tắc,vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng rất
xấu trong xã hội.Tình trạng cán bộ,công chức bỏ việc,chuyển sang làm kinh tế hoặc
những nơi có thu nhập cao hơn đang có chiều hướng gia tăng;tình trạng “ chạy chức”,
“chạy quyền”, “chạy tội”, “ chạy bằng cấp” không giảm.Những biểu hiện tiêu cực nêu
trên chưa được ngăn chặn,đẩy lùi có hiệu quả,thậm chí có mặt còn nghiêm trọng hơn đã
làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng,với chế độ.
+Chất lượng đội ngũ cán bộ còn nhiều yếu kém,bất cập.chưa đáp ứng tốt yêu cầu
nhiệm vụ của thời kỳ mới trong lĩnh vực xây dựng Đảng,quản lý nhà nước,quản trị doanh
nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế.Từ nhận thức đến lãnh đạo,tổ chức thực hiện mô hình
phát triển cũng như bản lĩnh hội nhập và xử lý những tình huống phát sinh còn nhiều lúng
túng.
+Cơ cấu đội ngũ cán bộ vẫn mất cân đối,thiếu đồng bộ,chưa hợp lý.Cơ cấu theo
ngành nghề,địa bàn,lĩnh vực;tỷ lệ cán bộ trẻ,cán bộ nữ,cán bộ người dân tộcthiểu số,cán
bộ xuất thân từ công nhân chưa đạt yêu cầu mục tiêu chiến lược nhưng chậm có giải pháp
khắc phục.Việc chuyển tiếp giữa các thế hệ cán bộ lãnh đạo chưa được chuẩn bị chu
đáo;thiếu cán bộ lãnh đạo quản lý giỏi,cán bộ đầu ngành,cán bộ có trình độ cao có khả
năng dự báo vá xử lý tốt những vấn đề phức tạp phát sinh,nhất là ở lĩnh vực quản lý tài
chính-tiền tệ,văn hoá-thông tin,tôn giáo.Nhiều cán bộ thích làm việc trong các cơ quan
chính quyền,ở các bộ,ngành kinh tế,tập đoàn,tổng công ty nhà nước,ở các đô thị-thành
phố lớn;ngại làm việc trong lĩnh vực công tác đảng,đoàn thể,ở địa bàn miền núi,vùng
sâu,vùng xa,vùng có nhiều khó khăn.
Trong đánh giá 4 đối tượng cán bộ thì trong đối tượng cán bộ đảng,nhà nước,Mặt
trận-đoàn thể,báo cáo đã đánh giá.Bên cạnh những mặt mạnh thì hạn chế còn là: “ trình
độ,năng lực,kiến thức về kinh tế thị trường,luật pháp,ngoại ngữ,khả năng quản lý nhà
tác cán bộ chậm được khắc phục.Tuy đã cố gắng thể chế hoá,cụ thể hoá nhiều chủ
trương,quan điểm của đảng về công tác cán bộ nhưng còn chậm đổi mớio cơ chế,phương
pháp và quy trình đánh giá ,bổ nhiệm,miễn nhiệm,từ chức đối với cán bộ.Thiếu cơ chế có
hiệu lực để phát huy dân chủ,sắp xếp bố trí lại đội ngũ cán bộ,thay thế kịp thời những cán
bộ yếu kém,trì trệ;quy trình bổ nhiệm cán bộ kéo dài nhưng vẫn còn sơ hở.Việc tạo
nguồn và đào tạo cán bộ trẻ từ học sinh,sinh viên xuất sắc trong và ngoài nước không
thành công;chưa có chính sách đủ hiệu lực khơi dậy tài năng và thu hút nhân tài vào các
lĩnh vực quan trọng của đất nước,vào công tác trong các cơ quan của đảng và nhà
nước.Công tác cán bộ chưa góp phần đẩy lùi tham nhũng,tiêu cực,chưa thể hiện rõ vai trò
của nhân dân tham gia xây dựng đảng cũng như trong công tác cán bộ và xây dựng đội
ngũ cán bộ.
-Môi trường làm việc của cán bộ chưa tạo được động lực để khuyến khích,thu
hút,phát huy năng lực,sự cống hiến của cán bộ;chưa cổ vũ ý chí phấn đấu vươn lên,sự
gắn bó mật thiết của cán bộ với công việc,với cơ quan,với hệ thống chính trị.Đầu vào,đầu
ra của công tác cán bộ không thông thoáng,khó phát hiện được người tài;nặng về quá
trình,thâm niên.Không quan tâm đúng mức đến đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ
cán bộ,công chức và người lao động;còn cào bằng trong thưởng phạt,khen chê. . .nhận
thức và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không đầy đủ ,không rõ trách nhiệm cá
nhân;tự phê bình và phê bình còn xuê xoa,hình thức hoặc bị lợi dụng để ca tụng nhau hay
hãm hại nhau.Mặt khác,sự tác động bởi mặt tra1i của cơ chế thị trường cùng với chủ
nghĩa cá nhân ở mnột bộ phận cán bộ dẫn đến nạn chạy chức,chạy quyền,chạy tội,chạy
Học viên:Phạm Công Phúc - 3 - Lớp trung cấp chính trị-hành chính
Bài thu hoạch thực tế về quản lý cán bộ công chức cơ sở
chỗ tinh vi hơn,nguy hiểm hơn.Tâm lý chỉ có thăng quan tiến chức mới là tiến bộ;hoặc
chức quyền đi liền với bổng lộc đang gây ra những bức xúc trong đội ngũ cán bộ,trong
nhân dân,làm giảm hiệu quả công tác,làm suy yếu đảng.
Trong nghị quyết trung ương 5(khoá IX) về đổi mới và nâng cao chất lượng của
hệ thống chính trị ở cơ sở xã,phường,thị trấn.Khi nói về cán bộ ở cấp cơ sở,nghị quyết
cũng có một số đánh giá sau:
-Tình trạng tham nhũng,quan liêu,mất đoàn kết nội bộ,vừa vi phạm quyền làm chủ của
-Đổi mới và nâng cao hiệu lực của chính quyền cơ sở.Thông qua đó tạo sự tác động và
làm chuyển biến về yêu cầu cũng như chất lượng đối với đội ngũ cán bộ công chức chính
quyền cơ sở.
II-Những vấn đề thực tiễn của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ ( trên cơ sở xem
xét thực tiễn khu vực Tây nguyên thông qua chuyến đi thực tế vừa qua):
1-Thực trạng của đội ngũ cán bộ công chức cơ sở và công tác cán bộ ở cơ sở:
a-Về đội ngũ cán bộ cơ sở:
Số liệu cơ sở(số liệu của Sở Nội vụ Tỉnh Gia lai-Tính đến ngày 31/12/2008 )
Học viên:Phạm Công Phúc - 4 - Lớp trung cấp chính trị-hành chính
Bài thu hoạch thực tế về quản lý cán bộ công chức cơ sở
Số Đối tượng cán bộ
Đại Biểu
HĐND
(CT,PCT)
Cán bộ
Chuyên
trách
CB không
Chuyên
trách
Cán bộ
chuyên môn
A- Về giới tính: 2363 3439 1401
I- Nam 397 2493
II- Nữ 35 946
B- Dân tộc 224 1466
B- Tuổi đời:
I- Dưới 30 tuổi 1327
II- Từ 31-45 tuổi 1197
III- Từ 46-60 tuổi 758
Đại học 09 112 40
Sau đại học 12
III- Trình độ lý luận 432
Học viên:Phạm Công Phúc - 5 - Lớp trung cấp chính trị-hành chính
Bài thu hoạch thực tế về quản lý cán bộ công chức cơ sở
Chưa qua đào tạo 86 629 2334 820
Sơ cấp 132 858 745 398
Trung cấp 195 763 298 183
Cao đẳng 19 113 20
Đại học
Sau đại học
IV- Trình độ quản lý 432
Chưa qua đào tạo 231 2045 3347
Sơ cấp(bồi dưỡng) 185 272 82 92
Trung cấp 11 42 10 21
Cao đẳng 04 04
Đại học 05
Sau đại học
V- Trình độ Ngoại ngữ
Chưa bồi dưỡng 2257
CT.A 02 106 96
CT.B
CT.C
VI- Trình độ tin học
Chưa bồi dưỡng 371 2314
CT.A 54 49 390
CT.B 07
CT.C
VII- Biết tiếng dân tộc 893 351 342
VIII BDKTQP 154 898 337 292
giữ vai trò chính,quán xuyến gia đình nên ít có điều kiện tham gia công tác xã hội.
-Cơ cấu dân tộc:tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia chiếm từ 1/3 đến 2/3 đội ngũ cán bộ
ở cơ sở.Điều nầy phù hợp với điều kiện vùng Tây nguyên mang đặc trưng là vùng dân
tộc.
-Cơ cấu về độ tuổi:
Dưới 30 tuổi 1327 38,58%
Từ 31-45 tuổi 1197 34,8%
Từ 46-60 tuổi 758 22,04%
Trên 60 tuổi 157 4,56%
Tỷ lệ theo độ tuổi hợp lý theo tính kế thừa.Song tínbh theo độ tuổi bình quân thì
cao hơn vùng đồng bằng,mặt khác còn có trên 60 tuổi tham gia đều nầy cho,nhìn chung
còn tập trung thấy nguồn dự bị cho đội ngũ cán bộ cơ sở còn nhiều khó khăn.
-Cơ cấu về thâm niên công tác và thâm niên giữ chức vụ phản ánh tính hài hoà tương đối
do đặc thù vùng núi,vùng xa,vùng dân tộc.
-Cơ cấu về trình độ:nhìn chung về trình độ các mặt,đội ngũ cán bộ ở đây còn trình độ
thấp,tỷ lệ học vấn tiểu học hoặc chưa qua đào tạo còn nhiều.Trong đào tạo còn tập trung
đào tạo chính trị,đào tạo chuyên môn,quản lý,kỷ năng khác còn ít.Đều nầy phản ánh do
xuất phát điểm của vùng Tây nguyên còn nhiều khó khăn.
Tuy nhiên vẫn có 12 trường hợp được đào tạo chuyên môn sau đại học.Điều nầy
phản ánh những nổ lực cố gắng của địa phương trong đào tạo cán bộ cấp cơ sở.Mặt khác
phản ánh việc thực hiện tốt các chính sách động lực thu hút nhân tài và lưu chuyển cán bộ
nên cấp cơ sở vẫn có đội ngũ có trình độ sau đại học.
Đặc biệt do là vùng dân tộc,địa phương đã có những chính sách tốt vận động đội
ngũ cán bộ công chức cơ sở tích cực học tập thổ ngữ Tây nguyên để từ đó làm tốt nhiệm
vụ chính trị của mình.
III-Những kiến nghị chung nhằm hoàn thiện đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ ở cơ
sở:
-Để có nguồn dự bị cán bộ lâu dài,không chỉ giải quyết tình thế trước mắt có ý nghĩa trực
tiếp đến công tác cán bộ.Điều quan trọng là thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội,hạn chế dần
khoảng cách giữa vùng núi với đồng bằng và đô thị.Có như thế sẽ tác động tích cực cho