Cơ sở khoa học của việc sử dụng cây thuốc và hợp chất chiết xuất từ thảo dược - Pdf 18

Cơ sở khoa học của việc sử dụng cây thuốc và hợp chất
chiết xuất từ thảo dược trong phòng trị bệnh cho ĐVTS
Nguồn dược liệu trong tự nhiên rất phong phú và đa dạng,
bao gồm thực vật, động vật và khoáng vật. Trong đó, dược
liệu từ thảo mộc vẫn có vị trí quan trọng nhất về thành
phần, chủng loại cũng như giá trị sử dụng.
Vì thế, từ thời kỳ thượng cổ, nhân dân ta đã biết dùng các
cây thuốc, vị thuốc nam để phòng, trị một số bệnh cho gia
súc, gia cầm và người, từ đó đã xây dựng được những học
thuyết và tích lũy được những kinh nghiệm quý báu về
phương pháp chẩn trị đông y. Tiến theo khoa học hiện đại
về vật lý, hóa học, sinh học, …các ngành nhân y, thú y
cũng sớm cho ra đời các nghiên cứu chuyên đề về cây
thuốc nam, vị thuốc nam cho gia súc, gia cầm và người.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản việc nghiên
cứu và sử dụng cây thuốc nam và các hợp chất chiết xuất từ
thảo dược còn rất mới. Do đó việc nghiên cứu có hệ thống
việc sử dụng cây thuốc, vị thuốc trong phòng trị bệnh cho
ĐVTS là rất cần thiết. Việc nghiên cứu có hệ thống bao
gồm:
- Nghiên cứu về dược lý: nghiên cứu về cơ chế tác dụng
của cây thuốc, vị thuốc trên đối tượng sử dụng về sinh lý,
bệnh lý.
- Nghiên cứu về thành phần hóa học, các hoạt chất có tác
dụng sinh học có trong cây thuốc, vị thuốc thảo mộc.
- Nghiên cứu về dược liệu: phân loại học cây thuốc,
phương pháp trồng, thu hoạch và chế biến.
- Nghiên cứu xây dựng quy trình tách chiết các hoạt chất và
các dạng bào chế thích hợp cho từng loài thảo dược.
2.4.2. Tình hình nghiên cứu sử dụng thảo dược trong
phòng trị bệnh ở động vật thuỷ sản trên thế giới

dụng chống lại các loài vi khuẩn Staphilococcus, Shigella,
Salmonella, Pacilus, E. Coli, Cloestridium và
Pseudomonas[25]
Năm 2004, Hasnabana đã nghiên cứu sử dụng Azadirachta
indik, Allium sativum và Poligonum hidropiper là 3 loại
thảo mộc dùng để kháng khuẩn [18]. Kết thảo mộc đối với
tính miễn dịch của cá chép Ấn Độ. Thí nghiệm tiến hành
trên cá có trọng lượng (200±17g) cho ăn thức ăn có chứa
0,5% rễ cây Achyranthes astera (Amaranthaceae) sau 4
tuần cho ăn nhận thấy cá có khả năng sinh ra kháng thể
(Vasudeva rao.y; Romesh.m, Syngh a và Chakrabarti,
2004).[23].
Ở Trung Quốc, người ta đã nghiên cứu hiệu quả của 2 loại
thảo mộc (Astragalus radix và Scutellavia radiis) lên tính
miễn dịch không đặc hiệu của cá Rô phi. Kết quả cho thấy
Astragalus radix cho ăn với nồng độ 0,1 và 0,5% trong thời
gian 3 tuần là nồng độ và thời điểm có hiệu quả tối ưu nhất.
Riêng Scutellavia radiis cần có thêm thí nghiệm để tìm ra
nồng độ và thời gian cho ăn thích hợp. Năm 2007 cũng tại
Trung Quốc thêm một nghiên cứu khác về tính miễn dịch
của cá Chép, trộn lẫn một số loại thảo mộc với nhau như
Astragalus mempranaceus (phần rễ và thân), Poligonum
multiflorum (phần rễ), Isatis tinctoria (phần rễ),
Glycyrrhida grabra (phần thân) cho cá Chép ăn 0,5% và
1% trong thời gian 30 ngày, kết quả cho thấy thảo dược
giúp tính miễn dịch của cá tăng lên đáng kể (Chuntao
Yuan, Dongmei Li, Wei Chen, Fangfang Sun, Guanghong
Wu, Yi Gong, Fianqing Tang, Meifang và Xiaodong Han,
2007).[22]
Hiện ở Trung Quốc sản phẩm có nguồn gốc từ tỏi (Allium


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status