Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
TRƯỜNG ………………
KHOA………
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Tiền gửi trong Ngân Hàng
Thương Mại
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
1
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
MỤC LỤC
Lời mở đầu…………………………………………………………. 1
Chương 1 …………………………………………………………. 3
1. Khái quát chung về nguồn tiền gửi trong NHTM………… 3
1.1. Khái niệm và đặc điểm của tiền gửi trong NHTM………… 3
1.2 Vai trò của tiền gửi trong NHTM 6
2. Phân loại tiền gửi trong Ngân hàng thương mại…………… 7
2.1 Tiền gửi phi giao dịch …………………………………………. 7
2.2 Tiền gửi giao dịch …………………………………………. 10
3. Chi phí đối với các loại tiền gửi…………………………… 15
4. Các phương pháp định giá tiền gửi …………………………. 16
4.1 Định giá tiền gửi theo phương pháp tổng hợp chi phí - thu nhập 17
4.2 Phương pháp đánh giá chi phí dịch vụ tiền gửi trung bình 18
4.3 Phương pháp tập trung nguồn vốn 18
4.4 Phương pháp sử dụng chi phí cận biên để xác định lãi suất tiền gửi 19
4.5 Phương pháp định giá xâm nhập thị trường 20
4.6 Định giá mục tiêu trọng điểm 21
4.7 Định giá tiền gửi trên cơ sở mối quan hệ tổng thể với khách hàng 21
4.8 Định giá tiền gửi để đạt mục tiêu của ngân hàng 22
4.9 Phương pháp Bảng tỷ lệ phí tiền gửi 22
cho vay và do đó, nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển trong ngân
hàng. Khả năng huy động vốn với mức lãi suất hợp lý cũng như khả năng đáp ứng yêu
cầu xin vay là những chỉ số đánh giá tình hiệu quả trong quản lý ngân hàng.
Từ vai trò quan trọng của tiền gửi đối với mỗi NH nói riêng, và nền kinh tế
nói chung, em đã chọn đề tài :” Tiền gửi và nghiệp vụ huy động tiền gửi của Ngân
Hàng Thương Mại” để sử dụng những kiến thức đã học và tiếp xúc với thực tế để hiểu
rõ hơn về hoạt động này của NHTM.
Trên cơ sở những kiến thức đã học và những nội dung tham khảo qua
sách báo, thông tin đại chúng, em đã thực hiện đề án này. Kết cấu gồm 2 phần chính :
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về tiền gửi trong NHTM
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
3
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
Chương 2: Thực trạng tiền gửi trong NHTM ở Việt Nam.
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ của NH là rất đa dạng và
phong phú. Vì thời gian có hạn, thiếu kinh nghiệm, nên đề án này chỉ tập trung vào
hoạt động huy động tiền gửi của NHTM. Bài làm còn có nhiều thiếu sót nên em rất
mong nhận được sự đánh giá, góp ý, sửa chữa của thầy.
Em xin chân thành cảm ơn thầy.
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
4
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
Chương 1 - Một số lý luận cơ bản về tiền gửi trong NHTM
1. Khái quát chung về nguồn tiền gửi trong NHTM
1.1. Khái niệm và đặc điểm của tiền gửi trong NHTM
1.1.1. Khái niệm
Thuở sơ khai (thế kỉ XVI - XVII), những nghiệp vụ đầu tiên mà các ngân
hàng thực hiện là lưu giữ bảo đảm các vật có giá (như tài sản bằng vàng, bạc) bởi vì
trong giai đoạn này công chúng rất lo ngại về tình trạng mất mát tài sản do an ninh
hoặc chiến tranh. Những nhà buôn cảm thấy an toàn khi để tài sản của họ ở ngân hàng
định nghĩa “tiền gửi”. ở các nước phát triển, người ta định nghĩa “tiền gửi” trong một
bản luật: “Được coi là tiền gửi, tiền mà ngân hàng nhận được của khách hàng bất
luận dưới danh từ nào, dù phải trả lãi hay không trả lãi, với quyền sử dụng tiền đó cho
hoạt động kinh doanh của mình và với bổn phận làm nghiệp vụ ngân quỹ cho người ký
gửi, nhất là phải trả trong giới hạn số tiền nhận được, tất cả những lệnh phải trả tiền
của ngườitiền gửi bằng séc, lệnh chuyển khoản, thư tín dụng… hay bất cứ bằng cách
nào khác; cũng thâu nhập vào khoản tiền tiền gửi mọi số tiền mà ngân hàng thu hộ cho
người gửi”. “Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác.
Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi
tiền”. Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM, chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của NH.
Như vậy, các khái niệm về tiền gửi theo quy định pháp lý nêu trên có mối liên
quan mật thiết với tài khoản của khách hàng tại ngân hàng. Người gửi tiền có thể lựa
chọn các loại hình tiền gửi theo mục đích của họ và được hưởng các dịch vụ do ngân
hàng cung cấp, được hưởng lãi suất. Đồng thời có nghĩa vụ để ngân hàng sử dụng các
số tiền gửi đó cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng với cam kết thực hiện việc
hoàn trả vào ngày đáo hạn (đối với tài khoản có kì hạn ) hoặc theo yêu cầu của khách
hàng (đối với tài khoản không kì hạn). Ngày nay, khách hàng có nhiều cách gửi tiền và
có thể làm cho tài sản bằng tiền sinh ra lãi theo các dự đoán và tính toán của chính họ.
1.1.2. Đặc điểm
Tiền gửi phải được thanh toán khi có sự yêu cầu của khách hàng, ngay cả khi
đó là tiền gửi có kì hạn chưa đến hạn. Hoạt động nhận tiền gửi được nhìn nhận như là
một nghiệp vụ kinh doanh của NHTM, với nội dung chủ yếu là nhận tiền gửi của
khách hàng thông qua mở cho khách hàng một tài khoản như tài khoản gửi định kì
(tiền gửi có kỳ hạn), tài khoản tiền gửi hoạt kỳ (tiền gửi không kỳ hạn) và tài khoản
tiền gửi tiết kiệm. Giao dịch nhận tiền gửi của NH được hiểu là cam kết song phương
giữa NHTM với khách hàng gửi tiền, thông qua việc giao kết hợp đồng tài khoản tiền
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
6
gửi - nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng. Một mặt, ngân hàng phải trả một mức
lãi suất đủ lớn để có thể thu hút và duy trì sự ổn định trong lượng tiền gửi của khách
hàng. Mặt khác, ngân hàng phải cố gắng hạn chế việc trả lãi suất quá cao bởi vì điều
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
7
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
này sẽ làm giảm mức thu nhập tiềm năng của ngân hàng. Hiện nay, sự cạnh tranh gay
gắt trong thị trường cung cấp các dịch vụ tài chính càng làm cho vấn đề nêu trên trở
nên phức tạp hơn bởi vì cạnh tranh có xu hướng làm tăng chi phí trả lãi tiền gửi trong
khi làm giảm thu nhập dự kiến từ hoạt động đầu tư và cho vay.
1.2. Vai trò của tiền gửi trong NHTM
Các khách hàng doanh nhân thông qua việc mở tài khoản để được ngân
hàng cung ứng các dịch vụ về ngân quỹ, thu chi tài vụ một cách nhanh chóng và an
toàn. Những nghiệp vụ này nếu tự khách hàng đứng ra đảm trách sẽ tốn rất nhiều công
sức và thời gian. Về phía ngân hàng, qua nghiệp vụ này, cũng thu hút được một số
lượng tiền gửi của khách hàng trên tài khoản và một lệ phí nhất định.
Đối với khách hàng thuộc tầng lớp dân cư, việc mở tài khoản và ký gửi
tiền tại ngân hàng, ngoài việc được ngân hàng cung cấp một số séc để thuận tiện chi
trả, còn được ngân hàng cung ứng một loạt dịch vụ đa dạng về tài chính có sinh lời.
Trong nền kinh tế thị trường, một công dân muốn tích luỹ vốn trước hết có hai khả
năng lựa chọn: hoặc giữ đồng tiền tích luỹ được của mình trong két sắt, hoặc mua cổ
phần (của các công ty cổ phần) hay mua trái phiếu (của nhà nước và của công ty). Cả
hai khả năng này đều có rủi ro hoặc ít khả năng thanh toán. Do đó, họ phải có cách lựa
chọn thứ ba: gửi tiền vào ngân hàng để vừa gữ được vốn tích lũy của mình tương đối
an toàn, vừa thu được một khoản lợi tức nhất định.
Đối với các NHTM, tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển
của Ngân hàng, là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt Ngân
hàng với các loại hình doanh nghiệp khác. Tiền gửi là cơ sở chính cho các khoản cho
vay của NHTM, là nguồn gốc xâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của Ngân hàng.
Khi huy động tiền gửi, ngân hàng phải duy trì sự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các
tiền gửi không kỳ hạn. Lý do ở đây là, ngân hàng hoàn toàn yên tâm sử dụng tiền gửi
của khách hàng để cho vay với thời hạn ổn định và sẽ kiếm được nhiều ợi nhuận
hơn. Vì thế tiền thù lao nó trả cho khách hàng cũng phải cao hơn để kích thích sự gửi
tiền nhiều nữa.
Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, những người giàu có và các doanh nghiệp được
cung cấp tài khoản gửi kì hạn xác định ( thường kéo dài 30,60,90 hay 180 ngày). Gần
đây, tiền gửi kì hạn được phát hành với lãi suất thay đổi định kì ( thương là 90 ngày ).
Tiền gửi loại này có kì hạn tối thiểu là 7 ngày và không được rút trước thời hạn. Tiền
gửi kì hạn này rất đa dạng về chủng loại, từ chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng
( Negotiable CDs) tới tiền gửi giáng sinh, tiền gửi cho đi nghỉ… Chứng chỉ tiền gửi
(CDs) được phân thành 2 loại : loại có thể chuyển nhượng ( có thể được trao đổi trước
khi mãn hạn) - chứng chỉ có mệnh giá trên 100.000USD thường được các doanh
nghiệp và người giàu mua bán và loại không thể chuyển nhượng ( không thể được mua
bán trước ngày mãn hạn) thường được cá nhân mua ( theo Quản trị ngân hàng thương
mại – Peter S. Rose). Tên gọi "có kỳ hạn" có nghĩa là khoản tiền được gửi sẽ có thời
gian gửi tối thiểu theo thỏa thuận giữa ngân hàng và thân chủ, và không được rút ra
trước hạn kỳ đã định nói trên. Nếu vì lý do đặc biệt phải rút tiền ra trước hạn kỳ,
NHTM có một trong ba cách xử lý: 1) Từ chối. Họ đã từng có quyền làm như vậy
trước đây, bởi vì việc gửi tiền của khách hàng là một hợp đồng cho vay với thời hạn đã
thống nhất. Khi khách hàng đòi lại trước thời hạn, điều đó sẽ gây thiệt hại cho hoạt
động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, thông thường ngân hàng áp dụng hai cách
mềm dẻo hơn, là 2) yêu cầu khách hàng phải báo trước, ít nhất một khoảng thời gian
nào đó về ý định rút tiền và 3) với những yêu cầu rút tiền đột xuất như vậy, khoản lãi
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
10
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
suất mà ngân hàng trả cho tiền gửi của khách hàng sẽ rất thấp, do khách hàng phải
chịu lãi suất phạt vì đã lâm ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng. Tuy
nhiên, thực tế hiện nay do áp lực của cạnh tranh, ngân hàng thường cho phép khách
hàng rút ra trước hạn với điều kiện hàng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, hoặc ngân
này có dặc điểm: người gửi tham gia gửi tiền vào ngân hàng rất dông, nhưng số tiền
gửi từng lần thường ít, về số lượng tuyệt đối lại rất lớn, chiếm tỷ trọng rất quan trọng
trong cơ cấu vốn ký thác huy động được. Thông thường có 2 loại : Có kì hạn và không
có kì hạn. Hình thức chủ yếu gồm :
a) Tiết kiệm lập sổ ( pass-book savings) : được cung cấp cho khách hàng là
gia đình với giá trị nhỏ ( số dư mở tài khoản tiết kiệm tối thiểu là 5 USD) và có đặc
quyền rút vốn không bị hạn chế. Mặc dù theo luật, ngân hàng có thể yêu cầu khách
hàng thông báo trước về những lệnh rút tiền từ tài khoản tiết kiệm thấp và đồng tiền
gửi loại này nói chung có xu hướng ổn định, ít nhạy cảm với những thay đổi trong lãi
suất. Doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức phi lợi nhuận và các cơ quan Chính phủ cũng
có thể sử dụng tài khoản tiết kiệm nhưng giới hạn quy mô tiền gửi tối đa là 150.000
USD.
b) Tiết kiệm thông báo ( statement savings deposits ): trong đó thông qua
việc truy cập trên máy vi tính, khách hàng sẽ nhận được các bản thống kê thể hiện số
tiền gửi, lệnh rút tiền, lãi và số dư tài khoản hàng tháng.
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
12
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
Nguồn vốn từ loại tiết kiệm không kỳ hạn có lãi suất thấp, làm cho lãi suất
đầu vào của ngân hàng rất thấp và rất có lợi khi cho vay.Việc điều hành các tài khoản
này, tại phần lớn các nước được qui định như sau: Các sổ tiết kiệm chỉ được mở cho
các thể nhân và chỉ mở một sổ cho mỗi người. Người gửi tiền, khi mở sổ tiết kiệm,
phải cam đoan chưa mở một tài khoản tiết kiệm nào ở một ngân hàng khác.
Các nghiệp vụ cho phép thực hiện được hạn chế tối đa: chỉ có thể gử tiền mặt
và chỉ có chủ tài khoản mới được rút tiền, không cấp tập sec.
Các nghiệp vụ thực hiện phải chẵn số, nghĩa là phải là bội số của l00đ hay
l000đ chẳng hạn.
2.2 Tiền gửi giao dịch
Một trong những dịch vụ nhận tiền gửi lâu đời nhất mà ngân hàng cung
cấp là nhận tiền gửi để thực hiện thanh toán hộ cho khách hàng. Tiền gửi giao dịch đòi
tiền trong tài khoản séc (checking accounts). Khách hàng không có ý định để dành và
cũng không chú trọng đến tiền lãi. Khách hàng chỉ muốn đổi hình thức tiền tệ này
bằng một hình thức tiền tệ khác và thích thanh toán bằng séc hơn là bằng tiền mặt. Khả
năng tiện lợi của tiền gửi không kỳ hạn trong thanh toán phụ thuộc vào tổ chức và hoạt
động của NHTM đã phát hành ra nó. Nếu gửi tiền vào tài khoản này ở một NHTM có
chi nhánh ở khắp nơi trên lãnh thổ kể cả những vùng xa xôi hẻo lánh nhất, thì séc do
chủ tài khoản viết ra có hiệu lực thanh toán và được chấp nhận nhanh chẳng kém gì
tiền mặt. Đó là lý do để tiền gửi không kỳ hạn được xem là loại hình gần tiền mặt nhất
rong tất cả các loại tiền của NHTM. Khả năng chuyển đổi từ nó sang tiền mặt là nhanh
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
14
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
nhất vào bất cứ lúc nào và vì thế ở các nước phát triển, người ta xem nó như là một
loại tiền mạnh. Tuy nhiên, nếu ngân hàng mà chúng ta gửi tiền vào có quá ít chi nhánh
hoặc không quan hệ tốt với các ngân hàng khác, séc của nó do chúng ta viết ra được
chấp nhận trong thanh toán ở vùng này, nhưng chưa chắc đã được chấp nhận ở các
vùng khác. Có lẽ vì lý do này mà ở các nước mới phát triển, tiền séc vẫn chưa được
xem là tiền mạnh.
Tiền gửi loại này có thể phát xuất từ khách hàng là một thương nhân hay từ
một công dân bình thường. Việc phân biệt giữa các tài khoản vãng lai (current
account) mở cho thương nhân và các tài khoản sec (checking account) mở cho công
dân rất cần thiết cho ngân hàng không những về mặt pháp lý mà cả về mặt kỹ thuật.
Khoản tiền khách hàng gửi vào thực chất là một khoản khách hàng cho ngân hàng vay.
Ngân hàng sẽ phải trả lãi cho khách hàng hàng tháng mặc dù rất thấp. Do đó, đối với
ngân hàng nó là một khoản nợ, khoản nợ này sẽ được trả theo nhu cầu của người
gửi.Xã hội càng phát triển càng có tính đa dạng. Và vì thế, ở các nước phát triển, sự
tồn tại nhiều loại tiền gửi không kỳ hạn để thỏa mãn tất cả những nhu cầu đa dạng của
xã hội, của cá nhân là điều tất nhiên. ở các nước này, tiền gửi không kỳ hạn bao gồm:
a) Tiền gửi dùng séc (đã được trình bày ở trên) (checking deposits).
b) Tiền gửi rút tiền tự động hay tiền gửi thông dụng (ordinary deposits) thực
thể đưa ra một loại hình tiền gửi mới để cạnh tranh với tài khoản đầu tư chứng khoán
có lãi suất cao hơn, được cung cấp bởi các quỹ trên thị trường tiền tệ và được bảo đảm
bằng không danh mục đầu tư chứng khoán có chất lượng cao. Kết quả là đưa tới sự ra
đời của tài khoản tiền gửi trên thị trường tiền tệ (MMDA) và tài khoản Super NOW.
MMDA là
tài khoản tiền gửi thời hạn ngắn, có thể là vài ngày, vài tuần hay vài tháng và Ngân
hàng có thể trả lãi suất ở mức đủ lớn để thu hút và nắm giữ tiền gửi của khách hàng.
Có tới sáu hối phiếu uỷ quyền trước đượcphép thực hiện trong một tháng nhưng số
lượng séc phát hành chỉ đượcgiới hạn là 3 lần. Đối với lệnh rút tiền cá nhân thì không
có hạn chế (mặcdù ngân hàng có quyền đặt mức tối đa cho quy mô tiền rút và cho số
lượnglệnh rút tiền cá nhân). Không như NOW, MMDA có thể được nắm giữ bởi cả
doanh nghiệp và cá nhân.
Super
NOW (SNOW) ra đời gần như cùng thời gian với MMDA. nhưng tài khoản này chỉ có
thể được nắm giữ bởi cá nhân và các tổ chức phi lợi nhuận. Không có quy định nào
hạn chế số lượng séc người gửi tiền có thể phát hành. Tuy nhiên, Ngân hàng áp dụng
một mức lãi đối với SNOW thấp hơn cả với MMDA bởi vì SNOW có thể được phát
séc thường xuyên hơn. Do dó, các nhà quản lý trung ương xếp MMDA vào nhóm tiền
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
16
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
gửi tiết kiệm. Tuy vậy, chúng ta xếp lài khoản loại này vào phần tài khoản giao dịch vì
chúng có đặc quyền phát séc(theo quản trị ngân hàng thương mại của Peter S.Rose)
g) Tiền gửi đặc biệt
Nhằm phát triển tiền gửi, một số ngân hàng áp dụng loại tiền gửi đặc biệt với
các nội dung sau:
- Có khi khách hàng ký gửi một số tiền vào ngân hàng để chuẩn bị cho một
doanh vụ đã có dự định trước. Cũng có khi dùng loại tiền gửi này để tạo một bảo đảm
cho chính ngân hàng hay một bên thứ ba, hoặc tiền gửi được dùng để tạo một khoản
dự phòng để trả lãi công trái, hoặc là các khoản tiền đã được gửi nhằm dể mua các
thay mặt khách hàng đưa ra các quyết định cụ thể, ví dụ như ta lựa chọn tài khoản để
gửi tiền nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu chi tiêu của khách hàng. Tiền gửi tại phòng tín
thác đòi hỏi phải tuyệt đối an toàn. Chúng được bảo hiểm giống như các loại tiền gửi
được bảo hiểm theo giới hạn luật định, bất kì lượng tiền nào vượt quá giới hạn bảo
hiểm đều được bảo vệ bằng các loại chứng khoán chất lượng cao của ngân hàng
3. Chi phí đối với các loại tiền gửi
Loại tiền gửi
Lãi suất thực hàng năm trả bởi
NH
nhỏ (tiền gửi
dươí 50 triệu
USD)
NH
t.bình (tiền gửi
từ 50-200 triệu
USD)
NH
lớn (tiền gửi
trên 200 triệu
USD)
Tài khoản giao dịch đặc biệt và
thông thường
0,00% 0,00% 0,00%
Tài khoản giao dịch tương lai 2,77 2,23 2,06
Tài khoản tiền gửi tiết kiệm 2,7 2,94 2,7
Chứng chỉ tiền gửi dưới
100.000USD
5,63 5,51 5,55
Chứng chỉ tiền gửi trên 100.000
USD
trò quan trọng trong việc hình thành lãi suất tiền gửi. Ví dụ các ngân hàng ở New
York, Lon don hay Tokyo nhờ vào quy mô lớn và sức mạnh tài chính nên có thể thu
hút tiền gửi ở mức lãi suất bình quân thấp nhất, trong khi lãi suất được thông báo tại
các ngân hàng khác thường cao hơn. Những yếu tố quan trọng là triết lý về Marketing
và mục tiêu của việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng nào quyết định chọn
mục tiêu là cạnh tranh giành tiền gửi sẽ luôn luôn đặt ra mức lãi suất cao hơn để kéo
khách hàng khỏi các đối thủ cạnh tranh. Ngược lại khi ngân hàng muốn hạn chế quy
mô của một loại hình tiền gửi nào đó, ngân hàng sẽ hạ lãi suất công bố thấp hơn mức
lãi suất của các đối thủ cạnh tranh đưa ra.
4. Các phương pháp định giá tiền gửi
Hiện nay,các nhà quản lý ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng tiến
thoại lưỡng nan trong việc định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi - nguồn vốn
quan trọng nhất của ngân hàng. Một mặt, ngân hàng phải trả một mức lãi suất đủ lớn
để có thể thu hút và duy trì sự ổn định trong lượng tiền gửi của khách hàng. Mặt khác,
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
19
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
ngân hàng phải cố gắng hạn chế việc trả lãi suất quá cao bởi vì điều này sẽ làm giảm
mức thu nhập tiềm năng của ngân hàng. Hiện nay sự cạnh tranh gay gắt trong thị
trường cung cấp các dịch vụ tài chính càng làm cho vấn đề nêu trên trở nên phức tạp
hơn bởi vì cạnh tranh có xu hướng làm tăng chi phí trả lãi tiền gửi trong khi làm giảm
thu nhập dự kiến từ hoạt động đầu tư và cho vay.
Vì vậy, việc định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi rất quan trọng. Bao
gồm các phương pháp sau:
4.1 Định giá tiền gửi theo phương pháp tổng hợp chi phí - thu nhập
Trong hoạt động ngân hàng ngày nay, các nhà quản lý nhìn chung không chấp
nhận quan điểm cho rằng khách hàng là người phải chịu toàn bộ chi phí dịch vụ liên
quan đến tiền gửi. Cho đến vài năm gần đây, luận điểm "khách hàng nên được sử dụng
miễn phí các dịch vụ về tiền gửi" được xem như một đường lối khôn ngoan nhằm đối
phó với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt phía các trung gian tài chính khác trên thị
Chi phí
hoạt
động cho
1 đơn vị
dịch
vụ tiền
gửi
Chi phí
quản lý
cung dự
tính phân bổ
cho bộ phận
nhận tiền gửi
Định mức
lợi
nhuận từ
1
đơn vị
dịch
vụ tiền
gửi
Phương pháp định giá theo chi phí như công thức trên khuyến khích các ngân
hàng đặt giá sát hơn với chi phí và loại bỏ nhiều dịch vụ trước đây miễn phí. Ví dụ,
ngày càng nhiều ngân hàng Mỹ áp đặt phí cho dịch vụ chấp nhận thấu chi, tăng lệ phí
đối với các tờ séc bị máy rút tiền tự động ATM, tính phí hàng tháng cho việc duy trì
tài khoản kể cả đối với tài khoản tiết kiệm nhỏ, đồng thời nâng cao mức quy định về số
dư tiền gửi tối thiểu. Trong hầu hết các trường hợp, những khoản phí dịch vụ này
dường như tăng nhanh hơn tỷ lệ lạm phát. Kết quả của những xu hướng này nói chung
có lợi cho ngân hàng, thu nhập từ phí dịch vụ vượt trội tổn thất do những khách hàng
khó tính đóng tài khoản của họ tại ngân hàng.
Nhiều nhà phân tích tài chính cho rằng nếu như điều kiện cho phép, các ngân
hàng không nên dùng chỉ tiêu chi phí bình quân mà nên sử dụng chi tiêu chi phí cận
biên – chi phí tăng thêm cho một đồng vốn mới - trong việc định giá các khoản tiền
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
22
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
gửi và các nguồn vốn khác của ngân hàng. Lý do ở đây là sự thay đổi liên tục của lãi
suất sẽ làm cho chi phí trung bình trở thành một tiêu chuẩn không trung thực và phi
thực tế trong việc định giá tiền gửi. Ví dụ, nếu lãi suất đang giảm, chi phí tăng thêm
(chi phí cận biên biên) để huy dộng một nguồn vốn mới có thể giảm đáng kể, xuống
dưới mức chi phí nguồn vốn bình quân của ngân hàng. Một số khoản tín dụng và đầu
tư có thể được coi là không sinh lợi khi đánh giá theo chi phí nguồn vốn trung bình
nhưng lại có thể là sinh lợi nếu đánh giá theo chỉ tiêu chi phí lãi cận biên bởi vì hiện
tại ngân hàng đang huy dộng vốn với lãi suất thấp hơn để thực hiện các khoản tín dụng
và đầu tư này. Trái lại khi lãi suất đang tăng, chi phí cận biên của các khoản vốn mới
có thể lớn hơn chi phí nguồn vốn trung bình đáng kể. Nếu việc xét duyệt những khoản
cho vay mới được thực hiện trên cơ sở chi phí trung bình thì khả năng sinh lời của các
khoản cho vay này có thể sẽ rất hạn chế khi đánh giá theo chi phí huy động vốn cận
biên - một chỉ tiêu đã tăng rất nhanh trong những năm gần đây.
Thật vậy, “nguyên nhân của một trong những vụ phá sản được biết tới nhiều
nhất trong lịch sử - Vụ sụp đổ của Franklin National Banh of New York năm 1974 -
cũng một phần bắt nguồn từ chiến lược quản lý mà theo đó nhà quản lý so sánh tỷ lệ
thu nhập dự tính của các khoản tín dụng mới với chi phí nguồn vốn trung bình. Nếu
thu nhập dự tính của khoản tín dụng lớn hơn chi phí nguồn vốn trung bình từ 1 % trở
lên, cán bộ tín dụng của Franklin được phép cho vay. Không may. khi lãi suất huy
dộng vốn tăng lên đáng kể thì 0,5% lợi nhuận biên của Franklin so với chi phí trung
bình trở lên quá nhỏ bé. Thu nhập thực tế từ một lượng lớn các khoản tín dụng và đầu
tư khổng lồ không đủ bù đắp chi phí nguồn vốn hiện tại. Điều này đã làm suy giảm
vốn tự có của Franklin”
“Nhà kinh tế học James E. Mc Nulty đã khuyên các ngân hàng nên sử dụng
lãi suất cao hơn mức bình quân thị trường trong một thời gian đủ dài để tạo ra sự trung
thành của khách hàng thì trong tương lai, khách hàng vẫn sẽ gửi tiền vào ngân hàng dù
rằng lãi suất mà ngân hàng đưa ra không còn cao như trước. Chi phí không nhỏ cho
việc lựa chọn và thay đổi ngân hàng là nguyên nhân giải thích cho hành vi nêu trên của
khách hàng.
Trên thực tế, sự thất bại của các ngân hàng trong chiến lược thu hút
thêm tiền gửi bằng cách giảm lệ phí hoặc nâng cao lãi suất bắt nguồn từ tính ổn định
tương đối của tiền gửi: khách hàng thường không thay đổi ngân hàng ngay lập tức
bởi vì chi phí và rủi ro cho sự thay đổi này là không nhỏ. Các công ty và các hộ gia
đình trước khi quyết định gửi tiền vào một ngân hàng nào đều xem xét đến rất nhiều
yếu tố, không chỉ có lãi suất.
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
24
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
4.6 Định giá mục tiêu trọng điểm
Một số ngân hàng, nhất là những ngân hàng ở các thành phố lớn, có nhiều
tài khoản tiền gửi với số dư lớn, ổn định, thường mạnh dạn sử dụng phương pháp định
giá mục tiêu trọng điểm. Các chương trình quảng cáo công phu ở họ thường hướng
những người có địa vị trong xã hội và các gia đình khá giả tới những dịch vụ của ngân
hàng. Đối với những tài khoản khác, đặc biệt là các tài khoản có số dư thấp, ít ổn định,
việc định giá có thể nhằm vào mức hòa vốn hoặc ngân hàng có thể hạn chế các tài
khoản này bằng việc định giá cao hơn. Chiến lược này thường được kết hợp với
chương trình nhà ngân hàng cá nhán (personal banker), theo đó mỗi khách hàng lớn
được một cán bộ ngân hàng chịu trách nhiệm đáp ứng tất cả các nhu cầu về dịch vụ
ngân hàng.“Điều tra ở New England do Crane và Reilly Murphy và Mandell thực hiện
cho thấy một số khách hàng - đặc biệt là khách hàng lớn - có phản ứng rất nhanh đối
với sự thay đổi về giá cả tiền gửi.”
Ngày nay, trên các thị trường tiền gửi, sức cạnh tranh gay gắt giữa các ngân
hàng cùng với việc ngày càng nhiều ngân hàng sử dụng phương pháp định giá mục
tiêu trọng điểm đã khiến cho khách hàng được thông tin tốt hơn và nhạy cảm hơn với