Tiền gửi trong Ngân Hàng Thương Mại - Pdf 27

Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
ĐỀ TÀI : Tiền gửi trong Ngân Hàng Thương Mại

LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng (NH) là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dùng (cá nhân,
hộ gia đình) và với hầu hết các cơ quan chính quyền địa phương (thành phố, tỉnh…).
Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp nhỏ ở địa phương, từ người bán rau quả cho tới
người kinh doanh ô tô, ngân hàng là tổ chức cung cấp tín dụng cơ bản phục vụ cho việc
mua hàng hóa dự trữ hoặc mua ô tô trưng bày. Khi kinh doanh và người tiêu dùng phải
thanh toán cho các khoản mua hàng hóa dịch vụ, họ thường sử dụng séc, thẻ tín dụng
hay tài khoản điện tử. Và khi cần thông tin tài chính hay cần lập kế hoạch tài chính, họ
thường tìm đến ngân hàng để nhận được lời tư vấn.
Hiện nay ở nước ta, thị trường tài chính chưa phải là kênh phân bổ vốn một
cách có hiệu quả, do đó vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế
vẫn phải dựa vào nguồn vốn tín dụng của hệ thống ngân hàng. Với vai trò là một trung
gian tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế, các Ngân hàng thương mại (NHTM) đã
trở thành kênh cung ứng vốn hữu hiệu cho nền kinh tế. Sự thịnh vượng và phát triển của
một NHTM căn cứ vào đâu? Không thể là gì khác ngoài Tiền gửi.
Tiền gửi là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt Ngân
hàng với các loại hình doanh nghiệp khác. Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho
vay và do đó, nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển trong ngân hàng.
Khả năng huy động vốn với mức lãi suất hợp lý cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu xin
vay là những chỉ số đánh giá tình hiệu quả trong quản lý ngân hàng.
Từ vai trò quan trọng của tiền gửi đối với mỗi NH nói riêng, và nền kinh tế nói
chung, em đã chọn đề tài :” Tiền gửi và nghiệp vụ huy động tiền gửi của Ngân Hàng
Thương Mại” để sử dụng những kiến thức đã học và tiếp xúc với thực tế để hiểu rõ hơn
về hoạt động này của NHTM.
Trên cơ sở những kiến thức đã học và những nội dung tham khảo qua
sách báo, thông tin đại chúng, em đã thực hiện đề án này. Kết cấu gồm 2 phần chính :
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về tiền gửi trong NHTM

tiền gửi là các số tiền do khách hàng gửi vào và để lại trong tài khoản của họ tại ngân
hàng. Hiểu như thế chưa trọn nghĩa :
+ Đối với người gửi tiền, ý nghĩa tiền gửi phụ thuộc vào mục đích gửi của
họ. Có thể dễ dàng nhận ra hai trường hợp sau: Thứ nhất là khách hàng mở tài khoản để
hưởng các lợi ích từ các công cụ thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho họ. Thứ hai là
khách hàng gửi tiền vào để hưởng lãi như gửi vào tài khoản tiết kiệm hoặc tài khoản
định kì. Nhưng đổi lại, họ không thể sử dụng các công cụ thanh toán của ngân hàng như
séc chẳng hạn.
+ Đối với ngân hàng, cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó
các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một trong những
nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng – một quỹ sinh lợi
được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi
khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao. Như vậy các loại tiền gửi đã tạo thành
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
3
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
nguồn vốn cung cấp cho các nghiệp vụ sinh lợi trong các hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Đối với NHTM, có hai nguồn tiền gửi chủ yếu là : tiền gửi của doanh nhân và tiền
gửi của dân cư.
Qua những điều trình bày ở trên, người ta nhận thấy có khó khăn trong việc
định nghĩa “tiền gửi”. ở các nước phát triển, người ta định nghĩa “tiền gửi” trong một
bản luật: “Được coi là tiền gửi, tiền mà ngân hàng nhận được của khách hàng bất luận
dưới danh từ nào, dù phải trả lãi hay không trả lãi, với quyền sử dụng tiền đó cho hoạt
động kinh doanh của mình và với bổn phận làm nghiệp vụ ngân quỹ cho người ký gửi,
nhất là phải trả trong giới hạn số tiền nhận được, tất cả những lệnh phải trả tiền của
ngườitiền gửi bằng séc, lệnh chuyển khoản, thư tín dụng… hay bất cứ bằng cách nào
khác; cũng thâu nhập vào khoản tiền tiền gửi mọi số tiền mà ngân hàng thu hộ cho
người gửi”. “Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền
gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền”.

giai đoạn khởi thuỷ) mà quan trọng hơn nó là nghiệp vụ huy động vốn - nghiệp vụ đi
vay của NHTM từ nền kinh tế. Do đó khi người gửi tiền yêu cầu thanh toán thì NH buộc
phải thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng.
Quy mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác.Thông thường chiếm
hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của ngân hàng.“Tiền gửi
là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của Ngân hàng. Đây là khoản mục duy nhất
trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt Ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp
khác. Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó, nó là nguồn gốc sâu xa
của lợi nhuận và sự phát triển trong ngân hàng.
Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc. Các ngân hàng có thể giữ tiền
mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn
tỷ lệ này. Nếu thiếu hụt tiền mặt các ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt,
thường là từ ngân hàng trung ương để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đây là một trong
những công cụ của ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách
làm thay đổi số nhân tiền tệ. Chính vì thế nên chi phí tiền gửi cao hơn trả lãi cho tiền
gửi. Khi huy động tiền gửi, ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các
khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể cho vay phần tiền gửi
còn lại. Hiện nay, hầu hết các nhà quản lý ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng
tiến thoái lưỡng nan trong việc định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi - nguồn vốn
quan trọng nhất của ngân hàng. Một mặt, ngân hàng phải trả một mức lãi suất đủ lớn để
có thể thu hút và duy trì sự ổn định trong lượng tiền gửi của khách hàng. Mặt khác, ngân
hàng phải cố gắng hạn chế việc trả lãi suất quá cao bởi vì điều này sẽ làm giảm mức thu
nhập tiềm năng của ngân hàng. Hiện nay, sự cạnh tranh gay gắt trong thị trường cung
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
5
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
cấp các dịch vụ tài chính càng làm cho vấn đề nêu trên trở nên phức tạp hơn bởi vì cạnh
tranh có xu hướng làm tăng chi phí trả lãi tiền gửi trong khi làm giảm thu nhập dự kiến
từ hoạt động đầu tư và cho vay.
1.2. Vai trò của tiền gửi trong NHTM

Chiếm khoảng 40% tiền gửi ngân hàng. Các tài khoản này chủ yếu được
tương trưng bằng chứng chỉ tiền gửi (certificates of deposits – CDs) và được ghi rõ cả
thời gian đến hạn và số lượng. Việc rút tiền trước sẽ bị phạt tiền và có thể vượt quá tiền
lãi được hưởng, tính đến ngày rút tiền.
Là loại tiền gửi được ủy thác vào ngân hàng mà có sự thỏa thuận về thời
gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Như vậy, về nguyên tắc, khách hàng gửi
tiền chỉ được rút tiền ra, khi đến hạn đã thỏa thuận. Thực ra, các loại tiền gửi định kỳ
này không phải là những tiền gửi theo nghĩa của pháp lý, mà nó có dạng như một khoản
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
7
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
tiền vay của ngân hàng nhưng không thể hiện bằng một phiếu khoán. Nó là một ngoại lệ
của quy tắc khả dụng, bởi vì ngân hàng chỉ phải hoàn lại số tiền tiền gửi vào ngày đáo
hạn ghi trên hợp đồng. Tiền gửi có kỳ hạn có những đặc điểm sau:
Tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cố định. Tuy nhiên, giữa các loại tiền gửi
có kỳ hạn khác nhau lãi suất được trả sẽ khác nhau. Tiền gửi có kỳ hạn với thời gian
càng lâu, lãi suất sẽ càng lớn bởi vì ngân hàng hoàn toàn có thể dùng tiền gửi này đem
đầu tư vào những dịch vụ hoặc sản xuất có tính lâu dài hơn, lợi tức cao và ổn định hơn;
Lãi suất mà ngân hàng trả cho tiền gửi có kỳ hạn thường là cao hơn nhiều so với tiền
gửi không kỳ hạn. Lý do ở đây là, ngân hàng hoàn toàn yên tâm sử dụng tiền gửi của
khách hàng để cho vay với thời hạn ổn định và sẽ kiếm được nhiều ợi nhuận hơn. Vì
thế tiền thù lao nó trả cho khách hàng cũng phải cao hơn để kích thích sự gửi tiền nhiều
nữa.
Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, những người giàu có và các doanh nghiệp được
cung cấp tài khoản gửi kì hạn xác định ( thường kéo dài 30,60,90 hay 180 ngày). Gần
đây, tiền gửi kì hạn được phát hành với lãi suất thay đổi định kì ( thương là 90 ngày ).
Tiền gửi loại này có kì hạn tối thiểu là 7 ngày và không được rút trước thời hạn. Tiền
gửi kì hạn này rất đa dạng về chủng loại, từ chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng
( Negotiable CDs) tới tiền gửi giáng sinh, tiền gửi cho đi nghỉ… Chứng chỉ tiền gửi
(CDs) được phân thành 2 loại : loại có thể chuyển nhượng ( có thể được trao đổi trước

a) Các chứng chỉ tiền gửi (Certificate of depoits – CD).
b) Chứng thư tiết kiệm (savings certificates).
c) Trái phiếu tiết kiệm
d) Ngoài ra còn có : Tài khoản hưu trí cá nhân ( Individual Retirement Account
_ IRA ra đời 1986) và tiền gửi hưu trí có tên “Keogh plan” ra đời năm 1962. Ưu điểm
mạnh nhất của loại tài khoản này đối với ngân hàng là tính ổn định cao, ngân hàng có
thể nhận được những khoản vốn có kì hạn kéo dài vài năm.
2.1.2 Tiền gửi tiết kiệm
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
9
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
Được lập
ra để thu hút vốn của những người muốn dành riêng một khoản tiền cho những mục tiêu
hay cho một nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai. Lãi suất áp dụng cho loại
tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch. Trong khi chi phí trả lãi cao, chi
phí duy trì và quản lý đối với tài khoản tiết kiệm nói chung thấp.
Một khoản ký thác dưới hình thức tiết kiệm rất đa dạng và phổ biến trong nền
kinh tế được NHTM huy động là các khoản tiền tiết kiệm trong xã hội, Loại ký thác này
có dặc điểm: người gửi tham gia gửi tiền vào ngân hàng rất dông, nhưng số tiền gửi
từng lần thường ít, về số lượng tuyệt đối lại rất lớn, chiếm tỷ trọng rất quan trọng trong
cơ cấu vốn ký thác huy động được. Thông thường có 2 loại : Có kì hạn và không có kì
hạn. Hình thức chủ yếu gồm :
a) Tiết kiệm lập sổ ( pass-book savings) : được cung cấp cho khách hàng là
gia đình với giá trị nhỏ ( số dư mở tài khoản tiết kiệm tối thiểu là 5 USD) và có đặc
quyền rút vốn không bị hạn chế. Mặc dù theo luật, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng
thông báo trước về những lệnh rút tiền từ tài khoản tiết kiệm thấp và đồng tiền gửi loại
này nói chung có xu hướng ổn định, ít nhạy cảm với những thay đổi trong lãi suất.
Doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức phi lợi nhuận và các cơ quan Chính phủ cũng có thể
sử dụng tài khoản tiết kiệm nhưng giới hạn quy mô tiền gửi tối đa là 150.000 USD.
b) Tiết kiệm thông báo ( statement savings deposits ): trong đó thông qua

hình tiền gửi phát séc có hưởng lãi khác.
2.2.2 Tiền gửi giao dịch hưởng lãi (chủ yếu là các loại tiền gửi không kì
hạn)

Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
11
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
Là các loại
tiền gửi hoàn toàn theo quy tắc khả dụng, nghĩa là người gửi có quyền rút tiền vào bất
cứ lúc nào họ muốn. Ngân hàng sẽ sắp xếp loại tiền gửi này vào nhóm tiền gửi không kỳ
hạn, nghĩa là các khoản gửi với thời gian không xác định. Người vừa mới gửi tiền vào
sáng nay, nếu cần anh ta có thể rút ra ngay vào buổi chiều cùng ngày. Nếu không có nhu
cầu sử dụng, anh ta có thể một thời gian sau mới rút ra. Tính bất định về thời gian gửi,
cùng với địa điểm có thể rút ra bất cư lúc nào đã làm cho loại tiền gửi này có tên gọi
theo tiếng Anh là tiền gửi theo yêu cầu.Tiền gửi không kỳ hạn vào mỗi thời điểm trong
các tài khoản không kỳ hạn của các NHTM tạo khả năng có thể viết séc để chi tiền hoặc
chuyển nhượng khi cần. Vì vậy, tiền gửi không kỳ hạn còn được gọi là tiền trong tài
khoản séc (checking accounts). Khách hàng không có ý định để dành và cũng không chú
trọng đến tiền lãi. Khách hàng chỉ muốn đổi hình thức tiền tệ này bằng một hình thức
tiền tệ khác và thích thanh toán bằng séc hơn là bằng tiền mặt. Khả năng tiện lợi của
tiền gửi không kỳ hạn trong thanh toán phụ thuộc vào tổ chức và hoạt động của NHTM
đã phát hành ra nó. Nếu gửi tiền vào tài khoản này ở một NHTM có chi nhánh ở khắp
nơi trên lãnh thổ kể cả những vùng xa xôi hẻo lánh nhất, thì séc do chủ tài khoản viết ra
có hiệu lực thanh toán và được chấp nhận nhanh chẳng kém gì tiền mặt. Đó là lý do để
tiền gửi không kỳ hạn được xem là loại hình gần tiền mặt nhất rong tất cả các loại tiền
của NHTM. Khả năng chuyển đổi từ nó sang tiền mặt là nhanh nhất vào bất cứ lúc nào
và vì thế ở các nước phát triển, người ta xem nó như là một loại tiền mạnh. Tuy nhiên,
nếu ngân hàng mà chúng ta gửi tiền vào có quá ít chi nhánh hoặc không quan hệ tốt với
các ngân hàng khác, séc của nó do chúng ta viết ra được chấp nhận trong thanh toán ở
vùng này, nhưng chưa chắc đã được chấp nhận ở các vùng khác. Có lẽ vì lý do này mà ở

tiền. Do đòi hỏi này ít khi được thực hiện nên NOW được sử dụng như là một tài khoản
phát séc để chi trả cho việc mua hàng hóa và dịch vụ .Từ năm 1981, NOW được chấp
nhận rộng rãi trên toàn nước Mỹ theo Luật về Phi quản lý hoá.Các tổ chức nhận tiền gửi
(Depository Institutions Deregulation Act of 1980). Tuy nhiên loại tài khoản này chỉ có
thể được nắm giữ bởi cá nhân và các tổ chức phi lợi nhuận (nonprofit institutions). Khi
NOW được chấp nhận trên toàn nước Mỹ, chính phủ Mỹ cho phép ngân hàng thực hiện
nghiệp vụ chuyển vốn tự động, trong đó khách hàng uỷ quyền trước (preauthorize) cho
ngân hàng trong việc chuyển vốn từ tài khoản tiết kiệm sang tài khoản séc đền bù đắp
thấu chi (overdraft). Kết quả cuối cùng là khách hàng hưởng lãi trên tài khoản giao
dịch tương đương với lãi thu được từ tài khoản tiền tiết kiệm.
f) Tài khoản MMDA và tài khoản Super NOW : Việc thông qua đạo luật về các
tổ chức nhận tiền gửi Garn-St Germain năm 1982, hai loại hình tài khoản giao dịch
hưởng lãi quan trọng đã ra đời. Ngân hàng và các tổ chức tiết kiệm phi ngân hàng có thể
đưa ra một loại hình tiền gửi mới để cạnh tranh với tài khoản đầu tư chứng khoán có lãi
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
13
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
suất cao hơn, được cung cấp bởi các quỹ trên thị trường tiền tệ và được bảo đảm bằng
không danh mục đầu tư chứng khoán có chất lượng cao. Kết quả là đưa tới sự ra đời của
tài khoản tiền gửi trên thị trường tiền tệ (MMDA) và tài khoản Super NOW.
MMDA là
tài khoản tiền gửi thời hạn ngắn, có thể là vài ngày, vài tuần hay vài tháng và Ngân hàng
có thể trả lãi suất ở mức đủ lớn để thu hút và nắm giữ tiền gửi của khách hàng. Có tới
sáu hối phiếu uỷ quyền trước đượcphép thực hiện trong một tháng nhưng số lượng séc
phát hành chỉ đượcgiới hạn là 3 lần. Đối với lệnh rút tiền cá nhân thì không có hạn chế
(mặcdù ngân hàng có quyền đặt mức tối đa cho quy mô tiền rút và cho số lượnglệnh rút
tiền cá nhân). Không như NOW, MMDA có thể được nắm giữ bởi cả doanh nghiệp và
cá nhân.
Super NOW
(SNOW) ra đời gần như cùng thời gian với MMDA. nhưng tài khoản này chỉ có thể

các ngân hàng lớn và trung bình đều có bộ phận tín thác. Phòng tín thác không được
phép tiết lộ thông tin về khách hàng mà nó đang phục vụ với các nhân viên tại những bộ
phận khác trong ngân hàng.
Nghiệp vụ kinh doanh tín thác có từ rất lâu đời và kéo dài suốt đến thời kì
Trung đại khi mà các chủ đất và những người giàu có ( người ủy thác) thường giao việc
quản lý của cải cho những nhà quản lý ( người được uỷ thác), những người sẽ bảo vệ và
kiểm soát việc sử dụng các tài sản đó để tạo ra lợi nhuận cho người chủ sở hữu. Các
ngân hàng cấp bang của Mỹ được chính phủ công nhận có quyền thực hiện nghiệp vụ
tín thác đã và đang cung cấp dịch vụ tín thác trong nhiều năm.
Phòng tín thác cung cấp một lượng rất lớn tiền gửi cho ngân hàng bởi vì họ
quản lý tài sản của khách hàng ( bao gồm cả tiền gửi), trong đó các khách hàng có thể là
doanh nghiệp, các cơ quan thuộc chính phủ, các cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức nhân
đạo. Trong hoạt động, cán bộ tín thác có thể chịu sự chỉ đạo của khách hàng hoặc thay
mặt khách hàng đưa ra các quyết định cụ thể, ví dụ như ta lựa chọn tài khoản để gửi tiền
nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu chi tiêu của khách hàng. Tiền gửi tại phòng tín thác đòi
hỏi phải tuyệt đối an toàn. Chúng được bảo hiểm giống như các loại tiền gửi được bảo
hiểm theo giới hạn luật định, bất kì lượng tiền nào vượt quá giới hạn bảo hiểm đều được
bảo vệ bằng các loại chứng khoán chất lượng cao của ngân hàng
3. Chi phí đối với các loại tiền gửi
Loại tiền gửi Lãi suất thực hàng năm trả bởi
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
15
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
NH
nhỏ (tiền gửi
dươí 50 triệu
USD)
NH
t.bình (tiền gửi
từ 50-200 triệu

đầu tư vào các tài sản có mức lãi suất cao nhất, ngân hàng sẽ tối đa hoá mức chênh lệch
lãi suất, và có thể tối đa hoá thu nhập ròng của cổ đông. Nhưng đâu là nguồn tiền gửi có
chi phí tháp nhất? Và loại tiền gửi nào tạo ra thu nhập ròng cao nhất? Khoản chi phí lớn
nhất cho đến nay là lãi tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm. Khoản chi phí này năm 1986
chiếm hơn 50% tổng chi phí của các NHTM năm đó.
Giảng viên : ThS. Hồ Hữu Tiến
16
Lê Văn Hiếu – 33k15 Đề án nhập môn tài chính tiền tệ
Nói chung, theo lý thuyết giá trị của tiền theo thời gian và theo mối quan hệ tỷ
lệ thuận trong đường cong thu nhập thì tiền gửi có kỳ hạn thanhtoán càng dài sẽ tạo ra
mức lãi càng cao cho người gửi tiền Ví dụ. tài khoản NOW và tài khoản tiết kiệm đều
có thể được rút tiền ngay lập tức, và do đó khách hàng được hưởng mức lãi thấp nhất
trong số tất cả các loại tiền. Ngược lại ngân hàng trả lãi suất tiền gửi cao nhất cho chứng
chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng với kỳ hạn một năm hoặc dài hơn.
Quy mô và mức độ rủi ro trong hoạt động của ngân hàng cũng đóng một vai trò
quan trọng trong việc hình thành lãi suất tiền gửi. Ví dụ các ngân hàng ở New York,
Lon don hay Tokyo nhờ vào quy mô lớn và sức mạnh tài chính nên có thể thu hút tiền
gửi ở mức lãi suất bình quân thấp nhất, trong khi lãi suất được thông báo tại các ngân
hàng khác thường cao hơn. Những yếu tố quan trọng là triết lý về Marketing và mục
tiêu của việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng nào quyết định chọn mục tiêu
là cạnh tranh giành tiền gửi sẽ luôn luôn đặt ra mức lãi suất cao hơn để kéo khách hàng
khỏi các đối thủ cạnh tranh. Ngược lại khi ngân hàng muốn hạn chế quy mô của một
loại hình tiền gửi nào đó, ngân hàng sẽ hạ lãi suất công bố thấp hơn mức lãi suất của
các đối thủ cạnh tranh đưa ra.
4. Các phương pháp định giá tiền gửi
Hiện nay,các nhà quản lý ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng tiến thoại
lưỡng nan trong việc định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi - nguồn vốn quan trọng
nhất của ngân hàng. Một mặt, ngân hàng phải trả một mức lãi suất đủ lớn để có thể thu
hút và duy trì sự ổn định trong lượng tiền gửi của khách hàng. Mặt khác, ngân hàng phải
cố gắng hạn chế việc trả lãi suất quá cao bởi vì điều này sẽ làm giảm mức thu nhập tiềm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status