SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH
GIỎI MÔN TIẾNG VIỆT Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC THỊ TRẤN YÊN LẠC
MỤC LỤC
Trang
Phần I. Đặt vấn đề
1
Lý do chọn đề tài.
3
2
Mục đích nghiên cứu:
4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4
Phương pháp nghiên cứu
4
5 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu 4
Phần II. Nội dung
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN
1
1.1. Nội dung tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi .
16
1.2. Các hình thức tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi.
16
2
Một số giải pháp bồi dưỡng học sinh giỏi.
17
2.1.Nội dung và biện pháp nâng cao nhận thức.
17
2.2. Xây dựng kế hoạch phát hiện, tuyển chọn học sinh giỏi.
18
2.3. Tổ chức phát hiện tuyển chọn học sinh giỏi.
18
2.4. Bồi dưỡng năng lực giáo viên.
20
2.5. Tổ chức biên soạn tài liệu giảng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi.
22
2.6.Tổ chức hoạt động dạy học đội tuyển học sinh giỏi.
23
2.7. Huy động cộng đồng tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi.
28
2.8. Kiểm tra đánh giá công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
29
2.9. Tổ chức thi đua, khen thưởng học sinh giỏi.
29
Phần I. Đặt vấn đề
1. Lý do chọn đề tài.
1.1. Về mặt lý luận.
Lịch sử phát triển của nhân loại, ở bất kỳ thời đại nào, quốc gia nào con
người luôn là động lực của sự phát triển xã hội mà động lực tiên phong thúc đẩy
sự phát triển nhanh và bền vững là do những người tài, những người có trí tuệ
tạo ra. Chính “Những người tài giỏi là cái gốc làm nên sự nghiệp”. Họ đã tạo ra
những bước ngoặt trong sự phát triển lịch sử xã hội loài người, sản sinh ra
những giá trị vật chất tinh thần tiêu biểu trong nền văn minh nhân loại. Đặc biệt
bước vào thế kỷ của nền văn minh trí tuệ thế kỷ mà “cạnh tranh chất xám” sẽ
diễn ra ngày càng gay gắt thì nhiều nước trong khu vực và trên thế giới lại càng
quan tâm tới chiến lược nhân tài, đầu tư cho giáo dục, đầu tư cho việc đào tạo
nhân tài và coi trọng nhân tài là chiến lược quyết định cho sự phồn thịnh của đất
nước.
Theo "chiến lược con người" của Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ với mục
tiêu: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" đã được cụ thể hoá
trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt trong xu thế hội nhập
quốc tế mục tiêu "Bồi dưỡng nhân tài" càng được Đảng và Nhà nước quan tâm
lớn "Hiền tài là nguyên khí quốc gia". Đất nước muốn phồn thịnh đòi hỏi phải
Xác định thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường Tiểu học
thị trấn Yên Lạc .
Xây dựng và tổ chức thực nghiệm phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi ở
trường Tiểu học Thị trấn Yên Lạc nhằm nâng cao chất lượng mũi nhọn.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Là học sinh giỏi trường Tiểu học Thị trấn Yên Lạc.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường Tiểu học Thị trấn Yên Lạc.
4. Phương pháp nghiên cứu.
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc sách, văn bản để thu nhập tư
liệu, thông tin cần thiết cho chương một của đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Điều tra cơ bản (bằng phiếu điều tra) kết hợp với quan sát, đàm thoại,
phỏng vấn, trò chuyện để nghiên cứu phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi ở
trường Tiểu học Thị trấn Yên Lạc.
Thực nghiệm sư phạm để thử nghiệm phương pháp bồi dưỡng học sinh
giỏi nhằm nâng cao kết quả của hoạt động dạy và học trong nhà trường. Phương
pháp này được sử dụng ở chương ba.
Nghiên cứu sản phẩm hoạt động của giáo viên và học sinh (giáo án, sổ
sách…) để xác định kết quả công tác dạy - học của giáo viên và học sinh.
4.3. Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ:
Thống kê toán học để phân tích số liệu điều tra và thực nghiệm như tính
phần trăm, tính trung bình.
Trò chuyện của cô giáo với học sinh.
5. Phạm vi, giới hạn nghiên cứu.
Trong đề tài này, chúng tôi xin được giới hạn phạm vi nghiên cứu trong
khuôn khổ phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng việt ở trường Tiểu
học Thị trấn Yên Lạc, giai đoạn 2010 -2013 nhằm nâng cao chất lượng và hiệu
quả dạy bồi dưỡng học sinh giỏi.
1.1.2. Trí nhớ của học sinh tiểu học.
a. Khái niệm trí nhớ:
Trí nhớ là quá trình tâm lý giúp học sinh ghi lại, giữ lại những tri thức
cũng như cách thức tiến hành hoạt động học mà các em tiếp thu được khi cần có
thể nhớ lại được, nhận lại được.
Có hai loại trí nhớ: trí nhớ có chủ định và trí nhớ không chủ định.
Tính trực quan trong hình ảnh trìu tượng giảm dần từ lớp 1 đến lớp 5; ở
học sinh đầu cấp tiểu học tính trực quan thể hiện rất rõ trong hình ảnh trìu
tượng. Đến lớp 4, 5 hình ảnh trìu tượng bắt đầu mang tính khái quát.
b. Đặc điểm trí nhớ của học sinh tiểu học.
Cả hai loại trí nhớ đều được hình thành và phát triển ở học sinh tiểu học.
Trí nhớ không chủ định tiếp tục phát triển nếu tiết học của giáo viên tổ
chức không điều khiển học sinh hành động để giải quyết các nhiệm vụ học thì dễ
dàng rơi vào ghi nhớ không chủ định.
Do yêu cầu hoạt động học trí nhớ có chủ định hình thành và phát triển.
Học sinh phải nhớ công thức, quy tắc, định nghĩa, khái niệm để vận dụng giải
bài tập hoặc tiếp thu tri thức mới, ghi nhớ này buộc học sinh phải sử dụng cả hai
phương pháp của trí nhớ có chủ định là: ghi nhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa.
Trí nhớ trực quan hình ảnh phát triển mạnh hơn trí nhớ từ ngữ trìu tượng
nghĩa là tài liệu, bài học có kèm theo tranh ảnh thì học sinh ghi nhớ tốt hơn so
với tài liệu bài học không có tranh ảnh.
1.1.3. Tưởng tượng của học sinh.
a. Khái niệm tưởng tượng.
Tưởng tượng của học sinh là một quá trình tâm lý nhằm tạo ra các hình
ảnh mới dựa vào các hình ảnh đã biết.
Ở học sinh Tiểu học có hai loại tưởng tượng: Tưởng tượng tái tạo (hình
dung lại) và tưởng tượng sáng tạo (tạo ra biểu tượng mới) để tạo ra hình ảnh mới
trong tưởng tượng học sinh sử dụng các thao tác sau: nhấn mạnh chi tiết thành
phần của sự vật để tạo ra hình ảnh mới. Thay đổi kích thước thành phần, ghép
đầu được hình thành. Tư duy cụ thể được thể hiện rõ ở học sinh lớp 1, 2 nghĩa là
học sinh tiếp thu tri thức mới phải tiến hành các thao tác với vật thực hoặc các
hình ảnh trực quan.
VD: Khi dạy về cấu tạo ngữ âm của tiếng, học sinh phải dựa vào hệ chữ
cái Tiếng Việt.
Tư duy trìu tượng bắt đầu được hình thành bởi vì tri thức các môn học là
các tri thức khái quát.
VD: Tri thức về cấu tạo 2 phần của tiếng.
Tuy nhiên tư duy này phải dựa vào tư duy cụ thể.
Giai đoạn 2: Đặc điểm học sinh tiểu học lớp 4, 5.
Tư duy trìu tượng bắt đầu chiếm ưu thế so với tư duy cụ thể nghĩa là học
sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằng cách tiến hành các thao tác tư duy
với ngôn ngữ, với các loại ký hiệu quy tắc.
VD: Học sinh sử dụng công thức tính diện tích tam giác để tìm công thức
tính diện tích hình thang.
Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành 1 chỉnh thể có cấu trúc
hoàn chỉnh.
Thao tác thuận : a + b = c
Thao tác nghịch: c - b = a, c - a = b
Thao tác đồng nhất : a + 0 = a
Tính kết hợp nhiều thao tác: (a+b) + c = a + (b+c)
Thao tác phân loại không gian, thời gian phát triển mạnh.
Đặc điểm khái quát hoá: Học sinh biết dựa vào các dấu hiệu bản chất của
đối tượng để khái quát thành khái niệm.
Đặc điểm phán đoán suy luận: Học sinh biết chấp nhận giả thiết trung
thực. Học sinh không chỉ xác lập từ nguyên nhân đến kết quả mà còn xác lập
khái niệm từ kết quả đến nguyên nhân.
1.2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học.
1.2.1. Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học.
a. Khái niệm nhu cầu nhận thức.
+ Xu hướng, năng lực, sự kiên trì.
1.2.3. Tình cảm của học sinh tiểu học.
a. Khái niệm tình cảm:
Tình cảm của học sinh là thái độ cảm xúc đối với sự vật hiện tượng có
liên quan tới sự thoả mãn hay với nhu cầu, động cơ học sinh.
Tình cảm được biểu hiện qua những cảm xúc, xúc cảm là những quá trình
rung cảm ngắn và tình cảm được hình thành qua những xúc cảm do sự tổng hợp
hoá, động lực hoá và khái quát hoá. ở học sinh có những loại tình cảm sau:
Tình cảm đạo đức: là thái độ của học sinh đối với chuẩn mực và hành vi
đạo đức.
Tình cảm trí tuệ là những thái độ của học sinh đối với các quá trình nhận
thức.
Tình cảm thẩm mỹ: Là thái độ đối với cái đẹp.
Tình cảm hoạt động là thái độ đối với việc học.
b. Đặc điểm tình cảm của học sinh:
Tình cảm của học sinh tiểu học gắn liền với tính trực quan hình ảnh cụ thể
hay nói cách khác đối tượng gây ra tình cảm ở học sinh là những sự vật cụ thể
và những hình ảnh trực quan.
Nguyên nhân:
Hệ thống tín hiệu thứ nhất vẫn chiếm ưu thế so với hệ thống tín hiệu thứ
hai.
Nhận thức của học sinh tiểu học vẫn là nhận thức cụ thể. Nhận thức xác
lập đối tượng nguyên nhân gây nên tình cảm.
Học sinh tiểu học dễ xúc cảm hay xúc động khó làm chủ được cảm xúc
của mình.
Nguyên nhân:
+ Quá trình hưng phấn mạnh hơn ức chế.
+ Các phẩm chất ý chí đang được hình thành chưa đủ để điển hình sự hình
thành tình cảm của học sinh.
2.1.2. Lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ của từng cá nhân vào
trong những điều kiện giao tiếp cụ thể.
Lời nói có đặc điểm.
+ Tính cá nhân: riêng của từng người một.
+ Tính cụ thể: mỗi một lời nói ở trong những hoàn cảnh cụ thể
khác nhau.
+ Lời nói có tính vô hạn.
+ Lời nói có tính phi hệ thống.
2.1.3. Hoạt động ngôn ngữ:
Hoạt động ngôn ngữ giao tiếp là hoạt động của người nói dùng ngôn ngữ
để truyền đạt cho người nghe những hiểu biết, tư tưởng, tổ chức thái độ của
mình về một thực tế khách quan nào đó nhằm làm cho người nghe có những
hiểu biết về tư tưởng, tình cảm, thái độ về hiện thực đó.
Trong quá trình hoạt động ngôn ngữ có những nhân tố sau:
+ Nhân vật giao tiếp.
+ Hiện thực được nói tới.
+ Hoàn cảnh nói năng.
+ Mục đích giao tiếp.
+ Ngôn ngữ.
Trong 5 nhân tố này 4 nhân tố đầu tiên là nhân tố phi ngôn ngữ làm tiền
đề của giao tiếp. Trong quá trình giao tiếp 5 nhân tố này tác động, ảnh hưởng lẫn
nhau để tạo ra lời nói tốt.
2.2. Các nguyên tắc và phương pháp dạy học Tiếng việt.
2.2.1. Các nguyên tắc dạy học Tiếng việt:
a. Khái niệm: Nguyên tắc dạy học Tiếng việt là những điểm lý thuyết cơ
bản xuất phát để làm chỗ dựa cho việc lựa chọn nội dung phương pháp, biện
pháp và phương tiện dạy học Tiếng việt.
b. Các nguyên tắc dạy học Tiếng việt.
Nguyên tắc thứ nhất: Nguyên tắc phát triển lời nói (nguyên tắc giao
2.2.2. Các phương pháp dạy học Tiếng việt.
a. Khái niệm:
Phương pháp dạy học Tiếng việt là cách thức làm việc của thầy giáo và
học sinh nhằm làm cho học sinh nắm vững kiến thức và kỹ năng Tiếng việt.
b. Các phương pháp dạy học Tiếng việt thường dùng ở Tiểu học.
* Phương pháp phân tích ngôn ngữ:
Đây là phương pháp được sử dụng một cách có hệ thống trong việc xem
xét các mặt của ngôn ngữ. Ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, cấu tạo từ với mục
đích làm rõ cấu trúc các kiểu đơn vị ngôn ngữ, hình thức phát triển cách thức
cấu tạo, ý nghĩa của iệc sử dụng chúng trong nói năng.
* Phương pháp luyện tập theo mẫu.
Là phương pháp mà học sinh tạo ra các đơn vị ngôn ngữ, lời nói bằng
cách mô phỏng mẫu mà giáo viên đưa ra, hoặc mẫu có trong sách giáo khoa.
Các bước đầy đủ của phương pháp luyện tập theo mẫu bao gồm:
+ Lựa chọn và giới thiệu mẫu.
+ Hướng dẫn học sinh quan sát, phân tích cấu tạo mẫu, có thể là quy trình
tạo ra mẫu, đặc điểm của mẫu.
+ Học sinh áp dụng tạo ra các sản phẩm theo mẫu.
+ Kiểm tra kết quả sản phẩm làm theo mẫu, đánh giá, nhận xét xem mức
độ sáng tạo của mỗi sản phẩm trong sự so ánh với mẫu.
Nhắc nhở những sản phẩm lời nói mô phỏng máy móc theo mẫu, khuyến
khích những sản phẩm có sự sáng tạo.
* Phương pháp giao tiếp.
Cơ sở của phương pháp giao tiếp là chức năng giao tiếp của ngôn ngữ,
dạy theo hướng giao tiếp coi trọng sự phát triển lời nói, mọi kiến thức lý thuyết
đều được nghiên cứu trên cơ sở phân tích các hiện tượng ngôn ngữ trong giao
tiếp sinh động, phương pháp giao tiếp coi trọng sự phát triển lời nói của từng cá
nhân học sinh. Vì thế để thực hiện phương pháp giao tiếp phải tạo ra cho học
sinh nhu cầu giao tiếp, nội dung giao tiếp, môi trường giao tiếp, các phương tiện
viết đòi hỏi văn viết phải chặt chẽ, chỉ sử dụng phép lặp với mục đích tu từ.
Từ hai đặc điểm của dạng nói và dạng viết như trên một nguyên tắc đưa ra
trong dạy luyện nói và luyện viết là phải dạy học sinh nói đúng đặc điểm của
dạy nói viết đúng đặc điểm của dạy viết, không được viết như nói và ngược lại.
3. Cơ sở thực tiễn.
Việc tổ chức thi chọn học sinh giỏi và bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm động
viên khích lệ học sinh và giáo viên dạy giỏi, góp phần thúc đẩy việc cải tiến,
nâng cao chất lượng dạy và học, chất lượng của việc quản lý chỉ đạo của các cấp
quản lý giáo dục, đồng thời phát hiện học sinh có năng khiếu để tiếp tục bồi
dưỡng ở cấp học cao hơn, nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước.
Trong quá trình dạy học thì việc chú ý tới sự phát triển của từng học sinh
luôn là yêu cầu cơ bản. Bởi vậy việc bồi dưỡng học sinh giỏi bao giờ cũng là
nhiệm vụ quan trọng của mỗi giáo viên và cán bộ quản lý.
Trường tiểu học là nơi đầu tiên tham gia vào viêc học với tư cách là hoạt
đéng chủ đạo. Nhờ có các nội dung giáo dục toàn diện mà các em có điều kiện
bộc lộ năng khiếu tài năng. Nếu cha mẹ, bạn bè và thầy cô cảm nhận, phát hiện,
nâng đỡ bồi dưỡng mầm mống năng khiếu kích thích niềm say mê học tâp thì
biểu hiện của năng khiếu sẽ ngày càng rõ hơn. Năng khiếu được bồi dưỡng sớm
sẽ định hướng phát triển và dần định hình trở thành học sinh năng khiếu, ngược
lại năng khiếu của các em không được phát hiện hay không được quan tâm bồi
dưỡng thì năng khiếu của các em mất dần, mầm mống năng khiếu tuy có nhưng
sẽ bị mai một, thui chột đi.
Tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học là phát huy hết khả năng phát
triển tiềm tàng của trẻ, là tạo nguồn học sinh giỏi cho các cấp học tiếp theo, thực
hiện chiến lược “ bồi dưỡng nhân tài cho đất nước”. Mặt khác tổ chức bồi dưỡng
học sinh giỏi là một tiêu chí không thể thiếu để đánh giá sự phát triển của một
nhà trường. Mỗi học sinh giỏi không những là niềm tự hào của cha mẹ, thầy cô
mà còn là niềm tự hào của cả cộng đồng.
Ban giám hiệu nhà trường chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo việc bồi
đại vừa giữ được những tinh hoa văn hoá dân tộc vừa tiếp thu tốt những giá trị
văn hoá tiên tiến trên thế giới. Qua phỏng vấn, khảo sát chúng tôi nhận thấy
những vấn đề sau:
Giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng việt nắm khá chắc nội dung
chương trình và kiến thức Tiếng việt, biết vận dụng đổi mới phương pháp dạy
học: lấy học sinh làm trung tâm, biết tôn trọng sự sáng tạo của học sinh.
Trong quá trình giảng dạy biết sử dụng nhiều câu hỏi gợi mở để hướng
học sinh phân tích, tìm hiểu bài tập.
Tuy nhiên vẫn còn một số khó khăn và thuận lợi sau:
* Thuận lợi:
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi hiện nay đã được nhà trường và chính
quyền địa phương quan tâm chỉ đạo sát sao đặc biệt là chính quyền địa
phương đã có những phần thưởng có tính khích lệ để động viên giáo viên và học
sinh .
Bên cạnh đó nhà trường tạo mọi điều kiện cần thiết đảm bảo cho công tác
bồi dưỡng đạt hiệu quả như: phòng học, chế độ bồi dưỡng của giáo viên, đồ
dùng dạy học và đặc biệt là Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn thường
xuyên hội ý, rút kinh nghiệm trong từng giai đoạn bồi dưỡng, Hiệu trưởng trực
tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá.
Giáo viên bồi dưỡng thường là những giáo viên có năng lực giảng dạy tốt,
có uy tín trong học sinh, nhân dân và đồng nghiệp.
Đời sống kinh tế của nhân dân được nâng cao, dân trí được phát triển vì
vậy nhận thức của phụ huynh học sinh về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được
sáng tỏ. Vì vậy việc cho con em tham gia các lớp bồi dưỡng được các phụ huynh
hết sức ủng hộ và tạo mọi điều kiện vật chất để con em mình tham gia.
Thị trường sách trong sự hội nhập nền kinh tế thị trường rất dồi dào, vì
vậy mỗi phụ huynh học sinh có thể tìm mua cho con em mình những cuốn sách
phù hợp với việc bồi dưỡng nâng cao kiến thức môn Tiếng việt.
* Khó khăn: Về phía phụ huynh học sinh, số lượng phụ huynh có nguyện vọng
cho con em mình đi học bồi dưỡng môn Tiếng việt ít hơn môn Toán.
Xác định cấu trúc tổ chức hợp lý của đối tượng đó là học sinh giỏi.
Xây dựng cấu trúc tổ chức hợp lý : Từ Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, các
tổ chức chuyên môn và giáo viên trực tiếp bồi dưỡng.
Tạo ra một mạng lưới các quan hệ tổ chức giữa những người trong hệ
quản lý và hệ được quản lý là màng lưới từ Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, các tổ
chuyên môn đến giáo viên đứng lớp, giáo viên bồi dưỡng đội tuyển học sinh
giỏi.
Bồi dưỡng giáo viên dạy đội tuyển.
Tổ chức bồi dưỡng một cách khoa học nhằm nâng cao hiệu quả học sinh
giỏi.
1.2. Các hình thức tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi.
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng tỏ rằng thế hệ trước muốn
truyền lại kiến thức, kinh nghiệm về mọi mặt cho lớp người sau một cách tối ưu
thì phải qua các hình thức giáo dục đào tạo thích hợp. Vì vậy đối với học sinh
giỏi ở bậc tiểu học cần phải có hình thức bồi dưỡng phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lý của các em, phù hợp với mục tiêu, nội dung, phương pháp ở bậc Tiểu
học.
Các hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi rất đa dạng phong phú song có thể
phân thành ba loại: Bồi dưỡng theo nhóm, bồi dưỡng trong lớp học sinh bình
thường và hình thức bồi dưỡng đặc biệt.
*Bồi dưỡng theo nhóm:
Người ta phân loại sắp xếp học sinh theo các nhóm đặc biệt có sự tương
đồng về năng lực, thành tích, năng khiếu, hứng thú hoặc động cơ. Các nhóm học
sinh này có sinh hoạt mỗi tuần một hoặc hai buổi.
- Ưu điểm:
Hình thức bồi dưỡng này giảm bớt sự khác biệt giữa các cá nhân trong
nhóm, cho phép dễ áp dụng thử nghiệm các nội dung học ở mức độ cao hơn.
Học sinh được phát huy được hết khả năng nhận thức của mình. Tạo nhiều cơ
hội để kích thích học sinh trao đổi những năng lực, thành tích, hứng thú và phán
Mỗi hình thức đều có những ưu, nhược điểm riêng. Người ta thường sử
dụng phối hợp hình thức bồi dưỡng theo nhóm và bồi dưỡng ngay tại lớp bình
thường để hạn chế các nhược điểm, phát huy các ưu điểm của mỗi hình thức.
2. Một số giải pháp bồi dưỡng học sinh giỏi.
2.1.Nội dung và biện pháp nâng cao nhận thức.
Toàn thể cán bộ giáo viên, cha mẹ học sinh đặc biệt là giáo viên được
phân công bồi dưỡng đội tuyển phải hiểu và phân biệt rõ các khái niệm: Năng
lực, tài năng, năng khiếu, thông minh, thiên tài đồng thời phải có hiểu biết về
cơ sở khoa học của các giai đoạn phát triển của một tài năng. Mặt khác phải hiểu
một cách sâu sắc các tiêu chuẩn của năng khiếu tài năng Bên cạnh đó phải
hiểu tâm lý của học sinh giỏi, học sinh năng khiếu. Từ đó nhận thức được vị trí
của học sinh giỏi. Giúp phụ huynh có phương pháp nuôi dạy khoa học, định
hướng cho học sinh giỏi có sự phát triển tự nhiên toàn diện, cân bằng về tình
cảm và nhận thức.
Nhà trường cũng như cha mẹ học sinh cần hiểu đúng về chính sách nhân
tài của Đảng ta, tạo ra sự ủng hộ hợp tác hoá tích cực của cha mẹ học sinh đối
với nhà trường trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi.
Đưa các nội dung, biện pháp và các hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi
cũng như nâng cao về kiến thức về trình độ để bồi dưỡng học sinh vào các buổi
sinh hoạt tổ chuyên môn. Kết hợp với cha mẹ học sinh tạo được sự hỗ trợ trong
giáo dục và giảng dạy.
Động viên, khích lệ kịp thời những giáo viên, học sinh có sự cố gắng cũng
như có thành tích trong học tập, rèn luyện.
2.2. Xây dựng kế hoạch phát hiện, tuyển chọn học sinh giỏi.
Đây là một việc làm hết sức cần thiết góp phần quyết định sự thành công
của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Kế hoạch phải được rõ ràng chi tiết ngay
từ đầu năm học và giáo viên đưa vào kế hoạch công tác giảng dạy, phụ trách
lớp. Trong kế hoạch phải thể hiện rõ: Thời gian tuyển chọn; hình thức tuyển
chọn ; địa điểm tuyển chọn, nội dung tuyển chọn, số lượng học sinh vào đội
tuyển, ai sẽ thực hiện việc tuyển chọn, hỗ trợ học sinh giỏi có hoàn cảnh khó
Bước 1: Giáo viên phụ trách lớp tiến hành khảo sát chất lượng học sinh
bằng cách kiểm tra những nội dung kiến thức cơ bản trong chương trình học,
kiến thức nâng cao bằng các hình thức kiểm tra viết, thảo luận trao đổi hằng
ngày. Sau đó lập danh sách học sinh giỏi của lớp mình phụ trách với số lượng
không hạn chế. Đây là một việc làm hết sức cần thiết bởi chỉ có giáo viên phụ
trách lớp trực tiếp giảng dạy mới đánh giá chính xác đối tượng học sinh giỏi.
Bước 2: Tổ chức thi chọn.
Lập kế hoạch và tổ chức tuyển chọn: Tham mưu với Ban giám hiệu nhà
trường trong việc ra đề kiểm tra, việc bố trí thời gian, cách thức tuyển chọn.
Phối hợp tất cả giáo viên trong khối mình để tiến hành tuyển chọn một cách
chính xác, khách quan. Tiến hành như sau:
Ra đề kiểm tra: nội dung kiểm tra phải nằm trong hệ thống kiến thức cơ
bản của chương trình học, có nâng cao, có dạng bài tập mở và đề bài phải phù
hợp với khả năng đặc điểm tâm sinh lý của học sinh.
Tổ chức thi và chấm bài: Việc tổ chức thi và chấm bài là việc quyết định
chọn đúng đối tượng học sinh giỏi, chính vì vậy cần phải tiến hành một cách
nghiêm túc và thật sự khách quan.
Sau khi thành lập được đội tuyển của khối, tiến hành bồi dưỡng trong thời
gian ngắn để chuẩn bị cho các em dự thi các vòng do trường tổ chức.
Bước 3: Tổ chức thi chọn để thành lập đội tuyển học sinh giỏi của trường.
Ra đề kiểm tra.
Tổ chức thi và tuyển chọn đội tuyển.
Hình thức ra đề, tổ chức thi và tuyển chọn tiến hành tương tự như bước 2
nhưng ở bước này cần tuyển chọn chính xác và khách quan. Giáo viên chủ
nhiệm và giáo viên phụ trách chính là những người chính thức bồi dưỡng các em
trong đội tuyển sau khi đã được tuyển chọn.
Việc phát hiện và thi tuyển chọn học sinh giỏi tiến hành hàng năm sẽ
nhằm củng cố, bổ sung số học sinh trong đội tuyển hoặc loại những học sinh có
những biểu hiện hạn chế về năng lực.
Năng lực chuyên môn:
Có trình độ văn hoá sâu rộng, có vốn hiểu biết trên nhiều lĩnh vực.
Bồi dưỡng giáo
viên
Bồi
dưỡng
năng lực
chuyên
môn
Bồi
dưỡng
năng
lực sư
phạm
Bồi
dưỡng
kinh
nghiệm
thực tế
Bồi
dưỡng
các kiến
thức bổ
trợ
độ kiến thức, các lớp tập huấn giáo viên do Phòng GD & ĐT Yên Lạc và Sở GD
& ĐT Vĩnh Phúc tổ chức hàng năm.
Thực hiện tốt công tác này là điều kiện quan trọng góp phần nâng cao
chất lượng dạy học, là chỗ dựa vững chắc cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi.
* Tổ chức bồi dưỡng năng lực sư phạm
Dạy học là một nghề vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật.
Tính khoa học ở đây là năng lực chuyên môn, còn tính nghệ thuật chính là năng
lực sư phạm. ĐÓ đảm bảo việc dạy tốt đem lại hiệu quả chất lượng cao đỏi hỏi
người giáo viên phải có cả hai. Song đặc thù của bậc tiểu học lại mang tính nghệ
thuật nhiều hơn. Để tiến hành bồi dưỡng năng lực sư phạm của bản thân tôi đã
tiến hành như sau:
Tổ chức tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý học sinh, về khả năng thiết kế các
hoạt động dạy học để có điều kiện tích luỹ thêm vốn kinh nghiệm của mình.
Tham gia các buổi thao giảng, hội giảng có dịp thể hiện các kỹ năng sư
phạm cao nhất.
Dự giờ thăm lớp đồng nghiệp thường xuyên rút kinh nghiệm về kiến thức
và phương pháp giảng dạy của mình.
Thực hiện ứng xử sư phạm, cách đối xử với học sinh, xử lý các tình
huống xảy ra ở tháng học trước giúp giáo viên có thêm năng lực sư phạm của
mình.
Thường xuyên tự bồi dưỡng để hoàn thiện mình hơn.
* Tổ chức bồi dưỡng kinh nghiệm thực tế
Tích cực học tập, trao đổi kinh nghiệm với giáo viên của những trường có
thành tích bồi dưỡng học sinh giỏi. Rèn và bắt buộc giáo viên có sổ tích luỹ ghi
chép các thông tin, giải các bài tập Tiếng việt khó, các đề thi qua các năm ở bậc
Tiểu học.
Tổ chức viết sáng kiến kinh nghiệm đặc biệt là sáng kiến kinh nghiệm
trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi.
* Tổ chức bồi dưỡng các kiến thức hỗ trợ.
giáo viên phải đầu tư thời gian, trí tuệ và sự nỗ lực của bản thân. Hiệu trưởng,
phó Hiệu trưởng phải là người tham mưu tốt cho giáo viên.
2.6.Tổ chức hoạt động dạy học đội tuyển học sinh giỏi.
Trên cơ sở xây dựng được nội dung như trên, để tiến hành tổ chức hoạt
động dạy học được tốt hơn phải thống nhất được phương pháp giảng dạy, bởi
phương pháp dạy học của giáo viên quy định trình độ lĩnh hội của học sinh. Do
vậy phải triệt để vận dụng các phương pháp tích cực để học sinh được độc lập
suy nghĩ, phát huy tính sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Cụ thể xây dựng
tiến trình một giờ dạy bồi dưỡng học sinh giỏi như sau:
Bước 1: Cho học sinh thông báo kết quả bài tập được giao làm ở nhà
trong giờ học trước. Giáo viên nhận xét và sửa chữa.
Bước 2: Giáo viên đưa ra những bài bài tập để học sinh giải quyết. Học
sinh đọc kỹ đề bài.
Bước 3: Hướng dẫn học sinh phân tích, tìm hiểu đề bài, nêu cách làm tổng
quát của bài đó. Cho học sinh tự làm bài.
Bước 4: Học sinh nêu kết quả kết hợp giải thích cách làm. Giáo viên cùng
học sinh nhận xét, kết luận đánh giá cách làm nào có tính khả thi, mang tính
sáng tạo từ đó khái quát hoá để rút ra cách giải quyết của một loại bài tập hay
những điều cần ghi nhớ.
Bước 5: Giao bài tập về nhà vào những ngày nghỉ trong tuần.
2.6.1.Phát hiện học sinh có khả năng trở thành học sinh giỏi môn
Tiếng việt.
Những học sinh có khả năng về môn Tiếng việt có những biểu hiện sau:
Các em có lòng say mê văn học, có hứng thú với nghệ thuật ngôn
từ, yêu thích thơ ca, ham mê đọc sách báo, thích nghe kể chuyện. Có những em
ước mơ thành nhà văn, nhà báo hoặc trở thành cô giáo. Phần lớn các
em không hờ hững trước những vẻ đẹp của ngôn từ trong văn chương, gắng ghi
nhớ và ghi chép những câu thơ, câu văn mình yêu thích.
VD: đọc 2 câu thơ:
"Con xót lòng mẹ hái trái bưởi đào
phải chỉ ở các lớp bồi dưỡng mà ở các tiết học, các môn học các em cần phải
được uốn nắn và phát hiện.
2.6.2. . Bồi dưỡng hứng thú học tập:
Hứng thú là một khâu quan trọng, là một hiện tượng tâm lý trong
đời sống mỗi người. Hứng thú tạo điều kiện cho con người học tập lao động
được tốt hơn. Nhà văn M.gocki nói: "Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công
việc". Việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng việt là một việc làm cần
thiết. Để tạo được sự hứng thú học tập cho các em, người giáo viên bồi dưỡng
phải tạo được sự thoải mái trong học tập, phải làm cho các em cảm nhận được
vẻ đẹp và khả năng kỳ diệu của ngôn từ trong tất cả các giờ học, các môn học để
các em chiêm nghiệm, để kích thích vốn từ sẵn có của từng em.
VD: Giới thiệu bài: Chúng ta đã được học rất nhiều bài về mẹ.
"Bao tháng năm mẹ bế con trên đôi tay mềm mại ấy";"Mẹ là ngọn gió của
con suốt đời";"Bình yên nhất là đôi bàn tay mẹ, những ngón tay gầy gầy,
xương xương". Hôm nay cô cùng các em lại tìm hiểu một bài thơ có tựa đề "Mẹ"
của nhà thơ Bằng Việt. Chúng ta cùng đọc xem bài thơ này có gì khác với các
bài thơ mà các em đã học nhé.
Cả những bài về từ ngữ, ngữ pháp cũng không gây cho các em cảm giác
khô khan, chán học nếu chúng ta biết gây hứng thú cho học sinh, nếu giáo viên
nắm được vấn đề và dùng phương pháp thích hợp để gây chú ý của học sinh.
Cho các em tiếp xúc càng nhiều càng tốt với những tác phẩm văn chương,
những mẫu câu sử dụng cú pháp hay, mẫu mực như Lê Trí Viễn đã nói "không
làm thân với văn thơ thì không nghe lời thầy được tiếng lòng chân thật của nó".
Cùng với sự tiếp xúc về văn chương còn có thể kể cho học sinh nghe về
cuộc đời riêng của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, xuất xứ của những câu chuyện
hay, tác phẩm đặc sắc, tổ chức nói chuyện văn thơ, ngoại khoá Tiếng việt.
2.6.3. Bồi dưỡng vốn sống:
Hiện nay các giáo viên khi dạy bài tập làm văn cho học sinh thường thiên
về dạy các kỹ thuật mà giáo viên cung cấp cho các em những chất liệu cuộc