Giải pháp phát triển cơ sở nhà nước ở việt nam hiện nay part3 - Pdf 18


17

đa dạng hóa sở hữu, thành lập tổng công ty ). Trong các đợt, giai đoạn,
thời kỳ khác nhau của quá trình đổi mới, do các yếu tố khách quan và chủ
quan quy định, việc đổi mới DNNN đợc tiến hành đồng thời kết hợp hai
mặt nêu trên hoặc chỉ thiên về một mặt nào đó .
Từ năm 1979, DNNN ở Việt nam mới thực sự đợc coi nh một đối tợng
đổi mới. Những bớc tổ chức sắo xếp, phát triển DNNN trớc năm 1979 về
cơ bản chỉ là những biện pháp có tính chất hành chính trong bố trí, sắp xếp,
phân bổ các DNNN giữa các bộ, các địa phơng và các liên hiệp xí nghiệp,
do đó chúng chỉ đợc coi là những biện pháp cải tiến quản lý trong mô hình
kế hoạch hoá tập trung mang tính chất bao cấp, thu đủ, chi đủ, phù hợp với
cơ chế quản lý và mô hình kinh tế cũ. Do vậy quá trình đổi mới kinh tế ở
nớc ta có thể chia thành ba giai đoạn
1. Giai đoạn 1980 1986
Giai đoạn đổi mới này gắn liền với đổi mới quan điểm của đảng và nhà
nớc về quản lý kinh tế nói chung và DNNN nói riêng. Cơ chế quản lý cũ đã
tỏ ra kìm hãm sức sản xuất, triệt tiêu động cơ phát triển, hậu quả là nền kinh
tế trì trệ, tụt dốc, khủng hoảng, đời sống nhân dân xa sút. Các DNNN ngày
càng xa sút. Hội nghị ban chấp hành trung ơng lần thứ sáu khoá IV tháng 9
1979 đã ra nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cấp bách đánh giá tình
hình thực tiễn và những yêu cầu bức thiết của xã hội, trong đó nhấn mạnh
phải cải tiến chính sách phân phối, lu thông ( giá, lơng, tài chính, ngân
hàng ). Tiếp đó Chính phủ đã ban hành các quyết định có liên quan để điều
hành nền kinh tế nói chung và các DNNN nói riêng nh quyết định số
25/CP tháng 1-1981 về kế hoạch ba phần, quyết định số 26 /CP tháng 2-

18

1981 về phân phối lu thông Nghị quyết trung ơng 6 khoá IV và quyết

bớc nâng cao tiền lơng thực tế của công nhân, viên chức, tăng tích luỹ cho
xí nghiệp và cho nhà nớc. Đại hội VI vẫn tiếp tục khẳng định vai trò chủ
đạo của DNNN nhng đã đa ra quan điểm coi chủ đạo không có nghĩa là
phải chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành, mọi địa phơng mà thể hiện ở
năng suất, chất lợng, hiệu quả
Sau đại hội đảng lần thứ VI, đổi mới DNNN thực sự trở thành nội dung
trung tâm của tiến trình đổi mới toàn bộ hệ thống kinh tế theo hớng nhất
quán chuyển sang kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, giải phóng
sức sản xuất xã hội. Tháng 11 1987 Hội đồng Bộ trởng ( nay là Chính
phủ ) ban hành quyết định 217/HĐBT đánh dấu bớc đổi mới cơ bản DNNN
theo hớng áp dụng cơ chế mới. Tiếp theo là các nghị định 50/HĐBT(3-
1988) bổ sung quyết định 217, nghị định 27/HĐBT ( 3-1989 ) ban hành điều
lệ xí nghiệp quốc doanh ( DNNN ) đã thúc đẩy tiếp quá trình đổi mới
DNNN.
Giai đoạn này đối với DNNN lầ giai đoạn bớc ngoặt đa các DNNN
chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh theo nguyên tắc thị trờng hay gọi là
quá trình thơng mại hoá có tác dụng bắt buộc các doanh nghiệp phải định
hớng vào thị trờng, đồng thời tăng quyền tự chủ của doanh nghiệp trong
các quyết định kinh doanh. Về mặt quan hệ với nhà nớc, trong giai đoạn
này hệ thống quan hệ kế hoạch dần dần chuyển từ kế hoạch trực tiếp sang kế
hoạch gián tiếp, do đó các DNNN từ chỗ phải hoạt động theo kế hoạch với 9
chỉ tiêu pháp lệnh dần dần bãi bỏ chỉ còn 1 chỉ tiêu nộp ngân sách, xoá bỏ

20

bao cấp từ ngân sách nhà nớc, bãi bỏ chế độ 2 giá, hạch toán kinh doanh
theo giá thị trờng. Về quản lý, quyết định 217/HĐBT trao quyền tự chủ rất
rộng rãi cho doanh nghiệp mà hầu nh không có biện pháp kiểm soát tơng
ứng. Các doanh nghiệp lại trao quyền tự chủ cho các bộ phận, chi nhánh của
mình trong tìm kiếm, ký hợp đồng và tổ chức sản xuất kinh doanh với các

hiện vai trò chủ đạo và chức năng của một công cụ quản lý vĩ mô của nhà
nớc.
Đại hội VIII của đảng năm 1996 tiếp tục khẳng định: tiếp tục đổi mới và
phát triển có hiệu quả KTNN để làm tốt vai trò chủ đạo: làm đòn bẩy đẩy
nhanh tăng trởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đờng,
hớng dẫn, hỗ trợ các thành phần khác cùng phát triển, làm lực lợng vật
chất để nhà nớc thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng
cho chế độ xã hội mới.
Thực hiện đờng lối đổi mới của đảng, Chính phủ đã ra hàng loạt quyết
định về đổi mới DNNN và trên thực tế đã tổ chức thực hiện hàng loạt biện
pháp rất mạnh trên cả hai mảng: sắp xếp tổ chức lại và đổi mới cơ chế quản
lý DNNN. Đó là quyết định 315/HĐBT(9-1990), nghị định 388/HĐBT (11-
1991), các quyết định 90 và 91/TTg (3-1994), luật doanh nghiệp nhà nớc
(4-1995), chỉ thị 500/TTg (8-1995), nghị định 28/CP (5-1996), nghị định
56/CP ( 10-1996), nghị định 59/CP ( 10-1996), nghị định 50/CP (8-1996),
chỉ thị 20/TTg (4-1998) và nghị định 44/CP (6-1998); đồng thời từng bớc
làm rõ thêm quan hệ quản lý giữa nhà nớc và doanh nghiệp.

22

3.1 Đổi mới cơ chế quản lý DNNN
Theo quyết định 315/HĐBT các doanh nghiệp phải rà soát lại chức năng
hoạt động kinh doanh, rà soát lại các yếu tố sản xuất kinh doanh nh: thị
trờng, công nghệ, vốn, tổ chức lao động, tổ chức bộ máy và cán bộ, soát xét
lại tình hình tài chính doanh nghiệp, chấp hành kỷ luật tài chính, kế toán,
thống kê. Những xí nghiệp không tiêu thụ đợc sản phẩm, không thực hiện
đợc nhiệm vụ kinh doanh, liên tiếp bị lỗ trong thời gian dài, không có khả
năng thanh toán và không thể khắc phục bằng các biện pháp nh chuyển
hớng sản xuất, thay đổi mặt hàng, đầu t trang bị lại, cũng nh các biện
pháp về chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất kinh doanh với sự hỗ trợ của cấp

có một loạt quyết định cho phép DNNN tăng quyền tự chủ trong sử dụng lao
động và trả lơng: chuyển chế độ biên chế sang hợp đồng, áp dụng cơ chế
quản lý theo lơng tối thiểu, cơ chế tuyển dụng, thôi việc thoả ớc tập thể
3.2 Sắp xếp lại DNNN
Trong giai đoạn 1991-1993 theo quyết định 315/HĐBT tháng 9 năm 1990
về giải thể và tổ chức lại những DNNN yếu kém, nghị định 388/HĐBT tháng
11 năm 1991 về nguyên tắc và điều kiện là thành lập lại DNNN, quyết định
số 202/CP ngày 8 tháng 6 năm 1992 thí điểm cổ phần hoá một số DNNN.
Trong giai đoạn 1994-1997, theo quyết định số 90/TTg và 91/TTg và chỉ
thị 500/TTg về sắp xếp các DNNN giải thể những liên hiệp xí nghiệp, tổng

24

công ty trớc đây, hình thành những tổng công ty có quy mô lớn( tổng công
ty 91) va quy mô vừa(tổng công ty 90), nghị định 28/CP( 5-1996) về chuyển
đổi một số DNNN thành công ty cổ phần.
Từ giữ những năm 1998 đến nay, theo chỉ thị 20/CT-TTg ( 4-1998), chỉ
thị 15/CT-TTg ( 5-1999) và nghị định 44/CP về cổ phần hoá kết hợp phơng
án tổng thể sắp xếp DNNN. Có ba nội dung cơ bản về sắp xếp tổ chức lại
DNNN đợc nhấn mạnh là: sắp xếp DNNN theo phơng án tổng thể từng
vùng, ngành,tổ chức lại tổng công ty theo hớng thí điểm thành lập tập đoàn
kinh tế : cổ phần hoá DNNN. Nghị định số 103/1999/NĐ-CP về giao , bán,
khoán, cho thuê DNNN có vốn dới 1tỷ đồng kinh doanh thua lỗ kéo dài
thuộc ngành nhà nớc không cần nắm giữ cổ phần đã đợc ban hành ngày
10-9-1999 để có cơ sắp xếp các DNNN nhỏ, yếu kém.
Giữa năm 2000 theo số liệu của ban đổi mới doanh nghiệp trung ơng,
đã giảm đợc trên một nửa số đầu mối DNNN, tổng số từ trên 12000 doanh
nghiệp giảm xuống còn 5280 doanh nghiệp, trong đó có 732 doanh nghiệp
công ích và 4548 doanh nghiệp kinh doanh. Nh vậy số DNNN đã giảm trên
một nửa, trong đó 48% là sáp nhập vào các doanh nghiệp lớn hơn, hiệu quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status