ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KỸ THUẬT SẢN XUẤT
GIỐNG VÀ NUÔI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM HAI
MẢNH VỎ
2.1. Một số đặc điểm sinh học
Có khoảng 7000 loài Bivalvia phân bố rộng ở các
vùng sinh thái khác nhau, từ vùng biển nông đến vùng sâu
nhất của đại dương nhưng những loài có giá trị kinh tế là
đối tượng nuôi trồng chủ yếu thuộc một vài họ gồm
Ostreidae, Mytilidae, Pectinidae, Arcidae, Triđacniae,
Mactridae, Phần này mô tả đặc điểm sinh học cơ bản
của một số loài trong các họ kể trên.
tốt hơn môi trường nghèo thức ăn. Vào kỳ nước cường (đặc
biệt là lúc nước lên) Hầu sinh sản tốt hơn kỳ nước kém (đặc
biệt khi nước xuống).
2.1.1. Hầu (Oyster)
Hầu là động vật thân mềm 2 vỏ có giá trị dinh dưỡng
cao, chứa 45-75% protein, 7 - 11% lipid, 19 - 38% glucid,
nhiều chất khoáng, đại vitamin và các chất khác. Thịt Hầu
có thể ăn sống, nấu chín, phơi khô hay đóng hộp. Thịt một
số loài Hầu còn dùng làm nguyên liệu chế biến thuốc như
loài Crassostrea gigas. Vỏ Hầu dùng để nung vôi, làm bột
phấn, làm vật bám để nuôi Hầu và các hải sản khác.
Họ Hầu gồm 2 giống là Ostrea và Crassostrea với tất cả
khoảng 100 loài, phân bố rộng khắp thế giới từ hàn đới, ôn
đới, nhiệt đới, đâu đâu cũng có dấu vết của chúng . Ở
nước ta có trên 20 loài Hầu phân bố trong đó có các loài có
giá trị kinh tế cao như Hầu cửa sông Crassostrea rivularis,
Hầu sú Ostrea cucullata, Hầu belcheri C. belcheri
Cơ thể Hầu được bao bọc bởi 2 vỏ chắc cứng, vỏ trái lớn
hơn và thường bám chắc vào nền đá, có dạng hình chén. Vỏ
phải nhỏ và phẳng, đỉnh vỏ ở phía trên có bản lề sừng gắn
bố thẳng đứng của các loài Hầu tương đối chặt chẽ, nếu ta
làm xáo trộn sự phân bố của chúng, thí dụ như đem Hầu
vảy dày nuôi ở vùng bãi triều thì chỉ trong một thời gian
ngắn sẽ thấy chúng gầy yếu, sinh trưởng kém.
Giới hạn sinh trưởng và chủng loại Hầu: Hầu có nhiều loại
lớn nhỏ khác nhau, Hầu (O. pestigris), Hầu răng cưa O.
crenulifera) và Hầu sò (O. glomerata) ít khi lớn quá 4cm.
Ngược lại, Hầu lưỡi (O. hyotis), Hầu sông (C. rivularis),
Hầu ống (C. gigas) đều là những loại Hầu to. Trong cùng
một loài Hầu, cùng một điều kiện sống nhưng sức lớn cũng
khác nhau, Hầu sú (O. cuculata) 1 tuổi nuôi cùng một nơi
có con dài 68 mm, cao 55 mm, có con chỉ dài 53,8 mm, cao
43,2 mm. Do đó, trong chọn giống nuôi cần chú ý.
Sự sinh trưởng của Hầu có thể chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn phát triển vỏ: chia làm 2 thời kỳđầu và cuối. Ở
thời kỳ đầu, tốc độ phát triển của vỏ rất nhanh, chỉ trong 3
tháng vỏ đã dài lên 50 – 85 mm. Trong thời kỳ cuối, Hầu
tích luỹ nhiều vật chất, trọng lượng thân tăng lên dần để
chuẩn bị qua đông và tạo điều kiện phát triển sinh dục vào
mùa xuân. Tốc độ phát triển vỏ giảm giảm đi rất nhiều,
tổng cộng hai năm tám tháng sau 3 tháng của giai đoạn dầu,
vỏ chỉ dài thêm 7,1mm và cao thêm 2,1mm – trung bình tốc
độ sinh trưởng của từng tháng so với giai đoạn đầu giảm đi
trên 18 lần.
+ Giai đoạn trưởng thành: Giai đoạn trưởng thành của Hầu
bắt đầu 1 năm sau khi Hầu bám. Với mỗi loài Hầu khác
nhau thì có tốc độ phát triển khác nhau: Giai đoạn này sự
sinh trưởng đã Hầu như kết thúc dù điều kiện sống hết sức
thuận lợi (với Hầu sú). Một số loài Hầu có kích thước lớn,
cần phải có nhiều thời gian để xây dựng cơ thể nên giai
2 vụ chính. Vụ 1 tháng 4 đến tháng 6, vụ 2 tháng 8 đến
tháng 10.
- Sức sinh sản: Số lượng trứng của các loài đẻ trứng
rất lớn (Hầu Crassostrea virginica 15.000.000 đến
115.000.000 trứng, Hầu ống C. gigas 55.800.000 trứng) vì
sau khi đẻ phải trải qua nhiều giai đoạn thụ tinh, phân cắt,
phát triển thành ấu trùng. Trong quá trình này Hầu thường
phải chịu ảnh hưởng xấu của nhiều nhân tố ngoại cảnh,
đồng thời địch hại cũng nhiều, nên tỷ lệ trứng phát triển
thành Hầu con thường thấp. Đây là một cách thích nghi để
bảo vệ nòi giống. Hầu ấu sinh, trứng được bảo vệ trong cơ
thể mẹ trong giai đoạn đầu nên lượng trứng đẻ ít hơn Hầu
noãn sinh.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh sản của Hầu: Hoạt động
sinh sản của Hầu chịu ảnh hưởng nhiều nhân tố ngoại cảnh,
đặc biệt là nhiệt độ và độ mặn của nước. Thí nghiệm của
Loosanoff về ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của
tuyến sinh dục Hầu C.virginica cho thấy ở nhiệt độ dưới
10
o
C thì sau 35 ngày TSD vẫn không phát triển, giới hạn
nhiệt độ thấp nhất để tuyến sinh dục thành thục là 15,8
o
C,
nhiệt độ càng cao hơn, thời gian thành thục càng ngắn. ở
nhiệt độ 20
o
C và 25
o
C chỉ 5 ngày TSD đã có thể thành
(đã thành
th
ục) (%)
không
thành th
ục
S
ố Hầu đẻ
(%)
(đã thành
không
thành th
ục
S
ố Hầu đẻ
(%)
(đã thành
th
ục) (
%)
không
thành th
ục
S
ố Hầu đẻ
18 52 40 8
20 18
82
60 38 2
25 44 56
50
50 0
30 70
3035 6 68
2640 6 76
1845 12 72
16
Hình 11. Sơ đồ biểu diễn các giai đoạn phôi và ấu trùng
Hầu sú O. cucullata
Chú thích: 1-2_ Trứng chưa thụ tinh; 3-4_ Cực thể thứ nhất
và thứ hai xuất hiện ở trứng đã thụ tinh; 5-7_ Quá trình
phân cắt lần thứ nhất và sự thò thụt của cực Điệp; 8-9_
Phân cắt lần thứ hai; 10_ Phôi tang; 11_ Phôi nang; 12_
Nguyên trường phôi; 13_ ấu trùng bánh xe bước vào sơ kỳ
ấu trùng đĩa bơi; 14_ ấu trùng đĩa bơi; 15_ ấu trùng nề
thẳng; 16_ ấu trùng sắp bám, chân đã xuất hiện; 17_ Hầu
mới bám; 18_ Hầu đã bám được vài ngày (vỏ ngoài 1mm)
Các tác nhân ảnh hưởng đến phát triển phôi và ấu
trùng Hầu:
- Nhiệt độ: Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển
phôi và ấu trùng Hầu và tuỳ theo loài. Hầu ống thích hợp
với nhiệt độ 23 – 26
o
C nếu thấp hơn 15
o
C hay cao hơn
30
o
C thì trứng phát triển không bình thường. Hầu sú ở Ấn
Hình 12. Hình dạng và cấu tạo của Vẹm vỏ xanh
Vỏ Vẹm có hình quả muỗm (hoặc quả xoài, phần đỉnh
nhọn, phần sau tròn). Phần lớn 2 vỏ bằng nhau nhưng hai
cạnh không bằng nhau. Vòng sinh trưởng trên mặt vỏ nhỏ,
dày, khá rõ. Mặt vỏ thường màu xanh đen, mặt trong màu
trắng bạc, nhẵn bóng, phía ngoài mép có màu xanh nhạt.
Cấu tạo vỏ cũng gồm 3 lớp giống như các loài Bivalvia
khác. Chân màu nâu tím hay vàng tím như một chiếc gậy
ngắn nằm ở phía bụng bên dưới xúc biện. Mặt bụng của
chân có một lỗ tuyến tơ chân tiết ra chất bám. Vẹm có khả
năng tự cắt tơ chân và tiết ra tơ chân mới, vì vậy nó có thể
tự thay đổi vị trí bám của chúng. Tuy nhiên quá trình này
chỉ xảy ra ở Vẹm con. Vẹm trưởng thành tơ chân thường
rất chắc khi bám vào giá thể.
Vẹm vỏ xanh là động vật sống ở vùng biển ấm, nhiệt đới và
cận nhiệt đới. Trên thế giới chúng phân bố ở vùng biển
Srilanca, Quảng Đông - Trung Quốc, Indonesia, Malysia,
Thái Lan, Ấn Độ. Ở Việt Nam, Vẹm vỏ xanh phân bố ở
vùng triều các tỉnh, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Quảng Bình, TT
Huế, Bình Định, Khánh Hoà, Bình Thuận, Phú Quốc và
Kiên Giang. Vẹm vỏ xanh phân bố từ tuyến hạ triều đến
điều kiện ngoại cảnh (đặc biệt là nhiệt độ) nên thời gian
phát triển cũng thay đôỉ tuỳ theo điều kiện cụ thể.
Bảng 3. Thời gian phát triển phôi và ấu trùng Vẹm vỏ xanh
[Vương Như Tài, 1993]
Thời gian sau
thụ tinh
Ngày
Giờ PhútGiai đoạn
phát triển
Kích thước
(m)
0 Trứng
15 Cực cầu 1 53 x 60
20 Cực cầu 2
27 2 tế bào
36 4 tế bào
45 8 tế bào
50 16 tế bào
1 0 32 tế bào
1 38 Phôi tang
2 40 Phôi nang
3 10 Phôi vị
7-8 Trochophore
16-
18
và kích thước càng nhỏ khả năng tái sinh tơ chân càng lớn.
Bảng 4. Khả năng tái sinh tơ chân của Vẹm theo nhóm kích
thước
Nhóm kích
thước
(mm)
Thời
gian tái
sinh tơ
chân
(phút)
% cá thể
tái sinh
Khả năng
bám vào
vật bám
Điều kiện
môi
trường
1 –10 6 –10 100 Bám chắc
11- 20 15 – 16 100 Bám chắc
21 – 30 20 – 30 75 Bám chắc
31 – 40 40 – 45 70 Bám chắc
41 – 50 45 – 50 45 Bám chắc
51 – 60 100 –120
sinh tơ chân
(phút)
15 – 18 180 20 - 30 25 7,5 –
8,5
26 - 18 20 – 30
Nếu tỷ trọng nước cao quá hoặc thấp quá thì Vẹm không tái
sinh tơ chân.
Bảng 6. Khả năng tái sinh tơ chân của Vẹm ở tỷ trọng
nước khác nhau.
Tỷ 1,000
1,0 1,0 1,01 1,0 1,0 1,030
Điều kiện TN
trọng 05 10 5 20 25
Thời
gian
tái
sinh
(phút
)
KhônHình 12. Hình thái cấu tạo của Ngao
Đặc trưng chung của các loài thuộc họ Ngao như sau: Vỏ
dày chắc, hai vỏ bằng nhau, mặt vỏ có hoa vân, vòng đồng
tâm hay tia phóng xạ biến đổi rất lớn. Khớp bản lề có 3
răng giữa và 2 răng bên. Vịnh màng áo nông, vết mép
màng áo rõ ràng. Vết cơ khép vỏ trước nhỏ hình bán
nguyệt, vết cơ khép vỏ sau lớn hình bầu dục.
- Ngao dầu Meretrix meretrix Line, 1758 (Asiatic hard
clam). Vỏ lớn , chắc chắn, mép lưng có hình tam giác, mép
bụng hình tròn. Hai vỏ bằng nhau, chiều dài lớn hơn chiều
cao. Đỉnh vỏ lồi nằm ở mặt lưng, gần về phía trước. Mặt vỏ
phồng to, nhẵn bóng, có một lớp bì vỏ màu vàng nâu bóng
như dầu. Vòng sinh trưởng mịn, rõ ràng, từ đỉnh vỏ xuống
thường có những vòng màu nâu. Vân hoa trên mặt vỏ thay
đổi tuỳ theo cá thể: Ngao nhỏ vân hoa phong phú và rất
biến đổi, Ngao lớn hoa vân tương đối ổn định, thường ở
phần gần mép lưng, có những vân hoa màu nâu dạng răng
cưa hay dạng sóng. Cá thể trưởng thành dài 95 mm, cao 78
mm, rộng 36 mm
- Ngao mật Meretrix lusoria Rumphius. Vỏ dày chắc, dạng
rất giống Ngao dầu, hình tam giác. Ngao mật có một số
điểm khác với Ngao dầu: Đỉnh vỏ gần như ở mặt lưng, mép
sau vỏ kéo dài và vuốt nhọn như góc mái nhà. Da vỏ láng
màu vàng sữa, hoặc màu vàng hơi tím. Vỏ cá thể trưởng
thành dài 62 mm, cao 49 mm, rộng 28 mm