KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG NHÂN TẠO ĐỘNG VẬT CHÂN BỤNG potx - Pdf 18

KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG NHÂN TẠO ĐỘNG VẬT
CHÂN BỤNG
2.2.1. Kỹ thuật sản xuất giống Bào Ngư
Quy trình sản xuất giống Bào Ngư trong điều kiện nhân tạo
có thể tóm tắt bằng sơ đồ sau:

Nuôi phát
d
ục B
ào Ngư

Kích thích
Bào Ngư
Đẻ trứng và
phóng tinhThụ tinh


- Thu và vận chuyển Bào Ngư bố mẹ: Kết quả phân tích
sinh học cho thấy, nơi phân bố tự nhiên của Bào Ngư cũng
chính là bãi sinh sản của nó. Đặc điểm quan trọng nhất của
các bãi Bào Ngư là độ mặn tương đối cao (>30‰), nhiệt độ
ổn định (27 - 29
o
C) và thức ăn phong phú. Khi vận chuyển
về trại giống, nên úp phần thịt của 2 con Bào Ngư lại với
nhau để tránh cơ thể bị mất nước và dịch thể, bởi vì nước
và dịch thể là nguồn năng lượng quan trọng trong sự sống
của Bào Ngư. Sau đó dùng vải ướt thấm nước biển bao
quanh từng đôi một để Bào Ngư không bò và xếp vào
thùng xốp để vận chuyển. Vào những ngày nắng nóng có
thể vận chuyển Bào Ngư trong xe có máy lạnh. Với phương
pháp này có thể vận chuyển sống Bào Ngư bố mẹ đi xa
được 5 giờ mà không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của
chúng.
- Tuyển chọn Bào Ngư bố mẹ: Chọn Bào Ngư bố mẹ có
chiều dài vỏ từ trên 50 - 80 mm. Bào Ngư bố mẹ phải khoẻ
mạnh, không bị thương ở phần vỏ và phần thịt. Vỏ láng
nhẵn và không bị các loại động vật không xương sống ký
sinh.
- Phương pháp nuôi: Bào Ngư nuôi vỗ trong điều kiện
nhân tạo có thể thành thục sinh dục và sinh sản nếu như
quản lý tốt điều kiện môi trường sống và cho ăn thức ăn có
chất lượng cao và đầy đủ. Một số điều kiện nuôi vỗ phát
dục: Nhiệt độ nước từ 27 - 29
o
C; Độ mặn từ 30 – 34 ‰;
pH dao động từ 7,6 – 8,4.

trên khay men và phơi khô. Sau khi tiếp xúc với không khí
30 phút đến 1 giờ, Bào Ngư được đưa vào bể đẻ được đậy
kín và cấp nước biển lọc sạch. Bào Ngư sẽ đẻ không lâu
sau đó. Phương pháp này ít hiệu quả hơn so với phương
pháp chiếu tia cực tím.
- Phương pháp kích thích nhiệt nước: Nâng nhiệt độ nước
trong bể đẻ dần dần từ 27 – 31
o
C trong vòng 4 giờ và sau
đó giảm đột ngột xuống 27
o
C bằng cách thay nước mới
hoặc cho nước lạnh. Lặp lại vài lần như vậy Bào Ngư sẽ đẻ
trứng hoặc phóng tinh.
- Phương pháp kích thích bằng H
2
O
2
: Bào Ngư thành thục
được rửa sạch, bọc lớp gạc thấm nước biển và đặt ngửa trên
khay men phơi khô trong 10 phút. Sau đó Bào Ngư bố mẹ
được cho vào bể đẻ có nước biển lọc sạch và chứa dung
dịch H
2
O
2
4 mM. Cho Bào Ngư bố mẹ tiếp xúc với dung
dịch H
2
O

với Bào Ngư bầu dục (Haliotis ovina).
- Phương pháp thay đổi chu kỳ ánh sáng nhân tạo: Bào
Ngư bố mẹ sau khi nuôi thành thục trong bể phát dục, được
cho vào bể đẻ để kích thích sinh sản. Ban ngày bể được che
kín hoàn toàn bằng vải bạt đen. Ban đêm từ 16 giờ đến 6
giờ sáng, bể được mở bạt và chiếu sáng bằng đèn Neon có
công suất 40W. Bào Ngư được cung cấp thức ăn tươi có
chất lượng cao và đầy đủ. Sục khí mạnh và tốc độ nước
chảy ra vào là 10 L/phút. Bào Ngư sẽ sinh sản sau 17 – 20
ngày nuôi kích đẻ.
Đẻ trứng và phóng tinh: Bào Ngư vành tai có thể bắt
đầu sinh sản vào buổi chiều (17 – 18 giờ), nhưng phần lớn
đều sinh sản vào ban đêm. Con đực thường đáp ứng với
kích thích trước nên phóng tinh trước. Sự phóng tinh của
con đực trong bể đẻ kích thích con cái đẻ trứng. Khi con
đực phóng tinh hay con cái đẻ trứng lại kích thích các cá
thể xung quanh đẻ trứng hoặc phóng tinh tiếp theo. Sau khi
đẻ trứng chìm xuống đáy tạo thành một lớp màu xanh lá
cây nhạt và sau đó được cuộn lên do sự xáo trộn của cột
nước trong bể và bắt đầu được thụ tinh. Tinh trùng được
phóng ra từ lỗ mở hô hấp thứ 2 hoặc thứ 3 trên vỏ của con
đực và tạo ra thành những vệt giống như làn khói thuốc lá
màu trắng đục lan toả khắp bể đẻ. Sau khi Bào Ngư bố mẹ
sinh sản, vớt khỏi bể đẻ và đậy bạt kín.
c) Thụ tinh nhân tạo
Thụ tinh là bước có tính chất quyết định trong sinh sản
nhân tạo Bào Ngư. Quá trình thụ tinh phải xảy ra nhanh
trong một thời gian ngắn, đảm bảo tỷ lệ thụ tinh cao (gần
100%) và tránh hiện tượng thụ tinh bởi nhiều tinh trùng.
Nếu trứng được thụ tinh trong một thời gian ngắn (khoảng

hướng quang nên bơi lội tự do trên lớp nước bề mặt của bể.
Thu ấu trùng bánh xe chuyển qua bể ương nuôi ấu trùng
bằng cách xi phông hết lớp nước tầng mặt chứa ấu trùng. Ở
giai đoạn phát triển này, ấu trùng Bào Ngư rất nhỏ, kích
thước dao động từ 180 – 200 m, do vậy mật độ ương nuôi
có thể lên tới 10.000 con/L.
Ấu trùng bánh xe không ăn thức ăn và dinh dưỡng hoàn
toàn dựa vào noãn hoàng. Điều quan trọng trong ương nuôi
giai đoạn này là đảm bảo các điều kiện môi trường trong bể
ương nuôi ổn định để giảm thiểu thời gian ấu trùng bơi lội.
Hàng ngày thay nước, quan sát sự sinh trưởng và tỷ lệ sống
của ấu trùng trên kính hiển vi. Ấu trùng khỏe luôn bơi lội
theo cột nước lên lớp nước tầng mặt và từ từ chìm xuống
đáy bể. Sau 9 – 10 giờ kể từ lúc trứng được thụ tinh, ấu
trùng bánh xe phát triển thành ấu trùng tiền diện bàn
(Veliger). Đặc điểm của ấu trùng giai đoạn này là vùng
đỉnh đầu dẹt, vành tiêm mao phát triển dài và hình hành vỏ
trong suốt. Sau 24 – 27 giờ, ấu trùng tiền diện bàn phát
triển thành ấu trùng tiền diện bàn muộn với đặc điểm là mắt
và xúc tu đầu phát triển. Theo dõi ấu trùng để xác định thời
gian biến thái sang ấu trùng bám, kịp thời cung cấp thức ăn
và giá bám.
e) Ương nuôi ấu trùng bám (spat)
- Chuẩn bị thức ăn cho ấu trùng bám: Tảo silic đáy
dùng làm thức ăn cho ấu trùng bám của Bào Ngư là
Navicula spp., Nitzschia spp. và các tảo silic đáy khác.
+Thu tảo silic đáy: Tảo silic đáy sống ở bề mặt đá, dây
thừng, bao ni lông thải loại và các giá bám khác ở vùng
nước nông ven bờ, đặc biệt phong phú ở độ sâu 0,5 m
nước. Tảo silic đáy kết tụ lại với nhau tạo thành tập đoàn có


Nhiệt độ nước trong bể nuôi tảo dao động từ 27 – 30
o
C, độ
mặn > 30‰, cường độ chiếu sáng từ 1.500 – 3.500 lux. Sau
3 – 4 ngày khi tảo đáy phát triển nhiều (mật độ đạt khoảng
2000 – 3000 tế bào/mm
2
), cho các bản nhựa hoặc tấm nilon
vào bể nuôi tảo để tảo đáy bám. Dừng sục khí một vài giờ
để tảo có thể bám vào bản nhựa. Sau khi tảo đáy bám vào
tấm nilon hoặc bản nhựa, chuyển vào bể ương nuôi ấu
trùng bám.
- Chăm sóc ấu trùng bám: Sau 29 – 32 giờ, Hầu hết ấu
trùng bơi lội biến thái và phát triển thành ấu trùng bám
(spat). Đặc điểm để nhận dạng ấu trùng giai đoạn này là
vành tiêm mao thoái hoá, hình thành cơ khép vỏ, chân bắt
đầu phát triển và xuất hiện xúc tu thùy bên chân. ấu trùng
sống bám có tập tính tìm kiếm giá thể để bám và kiếm thức
ăn, do vậy cần cung cấp kịp thời các bản nhựa hoặc tấm
nilon có khuê tảo bám làm thức ăn cho ấu trùng. Tảo silic
bám là nguồn thức ăn quan trọng nhất cho ấu trùng Bào
Ngư từ giai đoạn sống bám đến kích cỡ 5 – 10 mm trước
khi ăn thức ăn rau câu chỉ vàng tươi (Gracilaria
verrucosa). Tấm nilon hoặc các bản nhựa có tảo silic đáy
được đặt vào bể ương nuôi ấu trùng và đặt cách nhau 3 cm
để tiện thao tác khi ấu trùng bám vào. Quan sát sự phát
triển của tảo đáy ở các tấm nilon. Nếu hết tảo đáy phải thay
tấm khác đồng thời kiểm tra kích thước của khuê tảo phát
triển trên các tấm nilon. Kích thước phù hợp cho ấu trùng 5

Kỹ thuật vận chuyển giống: Dụng cụ vận chuyển Bào
Ngư giống có, thể dùng loại hòm nhiều ngăn, vách hòm có
đục nhiều lỗ thủng hay thuyền nước chảy. Dùng hòm nhiều
ngăn có ưu điểm là chia Bào Ngư thành từng lớp bám trên
mặt các ngăn để không bị bám chồng chất lên nhau, chân
con nọ lấp kín lỗ nước con kia khiến chúng bị chết. Trong
quá trình vận chuyển cần giữ cho nước được lưu thông,
sạch sẽ tránh bị nhiễm bẩn do sản vật bài tiết của chúng
thải ra.

2.2.2. Kỹ thuật sản xuất giống Ốc Hương
a) Nuôi ốc bố mẹ
- Nguồn Ốc bố mẹ: Ốc bố mẹ có thể được thu mua từ
các vùng phân bố tự nhiên thuộc các tỉnh ven biển từ
Quảng Ninh đến Kiên Giang. Mặc dù có khác nhau về kích
cỡ, môi trường sống nhưng các quần thể Ốc Hương có đặc
tính di truyền tương tự nhau (Mai Duy Minh, 2004). Chọn
những con có thước lớn hơn 60 mm chiều cao vỏ (20-30
kg/con), khoẻ mạnh, vận chuyển về trại giống và thả nuôi
trong bể xi măng. Mật độ nuôi 15-20 con/m
2
, cũng có thể
nuôi mật độ cao hơn (20-40 con/m
2
). Cần lưu ý tránh
trường hợp ốc bị sốc khi thả vào bể nuôi sau quá trình vận
chuyển.
- Chuẩn bị bể nuôi: Bể xi măng có phủ một lớp cát
sạch để Ốc vùi kín mình (khoảng 3-5 cm). Lớp cát tạo môi
trường tự nhiên cho Ốc và là các giá bám cho các bọc

phía trên.
c) Ương nuôi ấu trùng nổi
Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng nổi (Veliger) là phức tạp
nhất trong quy trình sản xuất giống. Dưới đây sẽ giới thiệu
những nội dung cơ bản đã được trình bày trong công trình
sản xuất của Nguyễn Thị Xuân Thu, 2001 và cải tiến công
nghệ sản xuất của Mai Duy Minh, 2007:
- Chuẩn bị bể ương: Bể ương nuôi ấu trùng nổi có thể
tích từ 120L, 1m
3
hoặc 5-6 m
3
tuỳ quy mô sản xuất. Trước
khi ương bể cần được chà rửa sạch sẽ bằng Chlorin. Nước
biển bơm trực tiếp qua hệ thống lọc cơ học sau đó xử lý
bằng Chlorin 10-30 ppm hoặc KMnO
4
5 ppm được cấp vào
bể ương nuôi ấu trùng. Nước ương nuôi ấu trùng phải đảm
bảo các chỉ tiêu: Độ mặn 34-35 ppt; nhiệt độ 26-29
0
C; pH
7,5-8,0 và hàm lượng oxy hoà tan 6,2-8,5 mg/L. Duy trì
hàm lượng EDTA 1-2 ppm trong suốt quá trình ương.
Trong trường hợp ấu trùng hay lắng tụ thành đám ở đáy bể,
xử lý EDTA 4-5 ppm nhằm tạo môi trường ổn định giúp
cho ấu trùng sinh trưởng và phát triển tốt.
- Kỹ thuật ương: Vớt ấu trùng mới nở từ bể ấp sang bể
ương với mật độ 120-150 con/L. Tuy nhiên, cũng không
nên ương ở mật độ quá thấp sẽ gây lãng phí do không tận

Lượng thức ăn công nghiệp thích hợp được xác định là
từ 0,3-2,5 g/lần, cho ăn 4 lần/ngày cho mỗi bể nuôi số
lượng 400.000-500.000 ấu trùng, tuỳ thuộc vào giai đoạn
phát triển và tình trạng sức khoẻ của Ốc
Thay nước: Thay nước là một trong những khâu quan trọng
bởi vì trong môi trường bể ương, bên cạnh các sản phẩm
tiêu hoá, ốc còn tiết ra dịch nhầy làm ô nhiễm môi trường
nuôi. Mặt khác ấu trùng Veliger rất mẫn cảm với những
thay đổi nhỏ của yếu tố môi trường, vì vậy việc thay nước
phải đảm bảo tính trong sạch và ổn định môi trường. Thay
nước được tiến hành vào ngày thứ 3 hoặc 4 và thay hàng
ngày vào buổi sáng. Lượng nước thay từ 40 - 60% thể tích
nước trong bể. Trong quá trình thay nước đề phòng trường
hợp ấu trùng chết do ép vào lưới thay nước. Trước khi ấu
trùng chuyển sang giai đoạn biến thái (8 -10 ngày), tiến
hành chuyển ấu trùng sang bể mới và cung cấp 1-2 kg
cát/m
2
đáy bể nhằm tạo môi trường đáy thích hợp cho giai
đoạn ấu trùng bò. Cát phải được ngâm trong dung dịch
thuốc tím 10 ppm trong 10 -15 phút, sau đó rửa sạch trước
khi cho vào bể. Khi chuyển ấu trùng sang bể mới, cần chú ý
các yếu tố môi trường để tránh sự khác biệt lớn giữa bể cũ
và bể mới làm ảnh hưởng đến ấu trùng.
- Một số hiện tượng trong quá trình ương nuôi ấu
trùng:
Hiện tượng ấu trùng co cánh, bể nuôi bị nhầy, trùng
loa kén, nấm phát triển mạnh trong bể là những vấn đề
thường gặp trong quá trình sản xuất giống. Trong giai đoạn
đầu, các dấu hiệu bệnh lý của ấu trùng là hiện tượng ấu

- Quản lý, chăm sóc: Kiểm tra số lượng ấu trùng biến
thái chuyển thành Ốc con. Xác định và kiểm tra mật độ ấu
trùng còn trôi nổi trong nước để cung cấp thức ăn cho phù
hợp. Thay nước hàng ngày, từ 1/2-2/3 thể tích bể. Duy trì
chế độ sục khí thường xuyên. Thay nước cẩn thận, tránh
không gây tác động mạnh làm ảnh hưởng đến ấu trùng.
Cho ăn tảo đơn bào đối với ấu trùng nổi 2 lần/ngày với
mật độ tảo cần cho ăn từ 60.000 –100.000 tb/ml và thịt
tôm, cá băm nhỏ đối với ấu trùng bò và Ốc con. Cũng có
thể sử dụng artemia nuôi ấu trùng giai đoạn mới sống đáy,
vì artemia có hàm lượng dinh dưỡng cao và ít làm ô nhiễm
môi trường, nếu artemia còn sống có thể giết chết bằng
nước ấm 50-70
0
C trước khi cho ăn. Khi cho ăn tắt sục khí,
rải đều artemia trên đáy bể. Lượng thức ăn cho hàng ngày
khoảng 80-120g/lần. Mỗi ngày cho ăn 2 lần cho 10 vạn Ốc
cỡ 250-300 g/con.
Theo dõi sự tăng trưởng, độ no, tỷ lệ hao hụt của ấu
trùng nổi, ấu trùng bò và ốc con để quyết định việc thay
nước và cho ăn hàng ngày. Định lượng số lượng ốc con
trong mỗi bể khi thu hoạch.
e) Kỹ thuật ương Ốc giống
- Chuẩn bị bể ương: Bể ương có kích thước 10x2x1,2
m, được xây bằng xi măng hoặc composite, có mái che.
Đáy bể phủ một lớp cát mịn dày 3-5 cm. Thành bể cách đáy
50 - 60 cm dán một vòng dây để ngăn không cho Ốc bò lên
khỏi mặt nước. Bố trí sục khí đều khắp trong bể. Nước biển
qua lọc được cung cấp đủ vào bể ương.
- Mật độ ương giống: Mật độ ương không những ảnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status