“Sử dụng thí nghiệm như thế nào trong giảng dạy Vật Lí để giờ học có hiệu quả?”
CHUYÊN ĐỀ
SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM NHƯ THẾ NÀO TRONG GIẢNG
DẠY VẬT LÍ ĐỂ GIỜ HỌC CÓ HIỆU QUẢ HƠN?
I. LÍ DO CHON ĐỀ TÀI.
1.Cơ sở lí luận.
Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm nghiên cứu về các hiện tượng, sự
việc trong thực tiễn cuộc sống. một số hiện tượng có thể quan sát thực tế, so sánh
suy luận, giải thích dựa vào kinh nghiệm cuộc sống, tự nghiên cứu khám phá những
điều mới lại. Từ đó hiểu được một số nội dung trong bài học của bộ môn vật lí trong
chương trình THCS. Phương pháp dạy học mới hiện nay là hướng dẫn điều khiển
cho hoc sinh chủ động tìm ra kiến thức cho mình. Đối với môn vật lí muốn cho các
em rút ra một kết luận, một kiến thức nào đó thì phải thông qua thí nghiệm nhưng
sử dụng thí nghiệm như thế nào trong giảng dạy vật lí để giờ học có hiệu quả. Do
vậy, công việc thực hiện thí nghiệm là một hoạt động rất quan trọng trong việc học
tập đối với các môn học tự nhiên nói chung và môn vật lí nói riêng.
Mặt khác, trong việc làm thí nghiệm giáo viên nên hướng dẫn học sinh
thường xuyên đưa ra dự đoán về một hiện tượng nào đó và đề xuất ra phương án
làm thí nghiệm để kiểm tra dự đoán. Đặc biệt là trong chương trình vật lí có sử
dụng nhiều đến phương pháp thực nghiệm, tiếp tục rèn cho HS kỹ năng làm thí
nghiệm và từ thí nghiệm rút ra kiến thức bài học. Bên cạnh việc sử dụng phương
pháp thực nghiệm cần phải sử dụng phương pháp suy luận logic mới có thể rút ra
kết luận khoa học.
2. Cơ sở thực tiễn.
Với sự phát triển như vũ bão của các phương tiện công nghệ thông tin, sự
phát triển không ngừng của xã hội, sự cạnh tranh không ngừng của các hệ thống vệ
tinh nhân tạo, sự gay gắt của các lò phản ứng hạt nhân trên thế giới, sự khám phá
không ngừng trên vũ trụ bao la,…Mà bộ môn Vật lí là một môn học quan trọng
trong các việc phát triển đó. Cho nên việc tương lai phát triển hơn thế nữa nhờ vào
sự học tập của các em hiện nay. Vì vậy để thực hiện được nhiệm vụ đó phải đưa ra
phương pháp phù hợp để học sinh hứng thú, tích cực tìm tòi để phát hiện ra kiến
nghiệm, tự khám phá chiếm lĩnh kiến thức còn mới đối với HS.
Một số học sinh cá biệt, lười học vào lớp hay nói chuyện riêng gây mất trật tự
làm ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài của lớp.
Có không ít học sinh thao tác thí nghiệm chưa đúng kỹ thuật dẫn đến không
an toàn hoặc bảo quản chưa kĩ dẫn đến hư đồ.
Qua khảo sát môn vật lí ở 7 tuần đầu của lớp 6 ở trường THCS Chu Văn An
kết quả như sau:
Lớp/sỉ số
HS tham gia và tham gia tích cực HS không tham gia
Số lượng % Số lượng %
6A1/32 23 58,9 16 41,1
6A2/41 10 24,4 31 75,6
6A3/40 12 30,0 28 70,0
6A4/41 12 29,3 29 70,7
6A5/41 11 31,7 28 68,3
6A6/40 12 30,0 28 70,0
6A7/40 13 32,5 27 67,5
6A8/40 10 25,0 30 75,0
2. Về phía phụ huynh.
Những HS có hoàn cảnh gia đình nghèo, khó khăn thì phụ huynh chưa quan
tâm đến việc học của con em vì phải bận việc đồng án, làm thuê, làm mướn,…
Những giá đình có hoàn cảnh gia đình có kinh tế tốt cũng đã quan tâm đến
học tập của con em nhưng chỉ hỗ trợ con em bằng cách mua sắm dụng cụ học tập
chứ không thể dạy thêm cho con em ở nhà. Vì hiện nay học vật lí chương trình mới
theo hướng tích cực, phần lớn phụ huynh không nắm được yêu cầu về phương pháp
và kiến thức, do đó các em tự học là chính.
3. Về phía giáo viên.
Phần lớn thầy cô đã đổi mới phương pháp dạy học và thiết kế bài dạy phù
hợp cho tiết dạy theo phương pháp đổi mới hiện nay. Nhưng với thái độ học tập
phần đông của HS còn thụ động nên tiết dạy trở nên nặng nề, trầm lặng. Nó ảnh
khó khăn. Một số dụng cụ do vận chuyển, thử nghiệm hay trong quá trình thí
nghiệm bị hư hao báo cáo bổ sung chưa kịp thời.
Một số khó khăn là trang thiết bị thực hành, thí nghiệm sử dụng qua nhiều
năm đã hư hao nhiều nhưng bổ sung vẫn chưa đáp ứng đầy đủ cho môn vật lí 6 nói
riêng, cho các môn ở các trường nói chung nên việc thực hành thí nghiệm không
diễn ra thường xuyên và dựa vào đó giáo viên luôn đổ lỗi cho nhau.
III. NHỮNG GIẢI PHÁP.
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, các tri thức vật lí hóa là sự khái quát hóa
các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và các hiện tượng diễn ra trong đời sống. Dựa
trên các thí nghiệm học sinh thực hiện các thao tác tư duy để tiếp thu tri thức mới.
Bài học có thí nghiệm thì kích thích được óc tò mò, khám phá khoa học, ham hiểu
biết, rèn luyện óc độc lập, suy nghĩ và tư duy sáng tạo cho HS. Sau đây, tôi xin
được chia sẽ một số kinh nghiệm cũng như được trao đổi với các đồng nghiệp về
biện pháp tổ chức HS tiếp thu kiến thức và đặc biệt là việc làm thí nghiệm để đạt
hiệu quả trong bài học.
1. Chuẩn bị thí nghiệm.
Nói chung thí nghiệm phỉa kích thích được hứng thú học tập, óc sáng tạo của
HS. Muốn đạt được điều đó giáo viên cần phải:
- Giáo viên phải tìm hiểu kỹ nội dung bài dạy.
- Giáo viên phải chuẩn bị trước các dụng cụ thí nghiệm.
- Giáo viên phải làm thí nghiệm trước nhiều lần.
Nhóm Lí-THCS Chu Văn An 3
“Sử dụng thí nghiệm như thế nào trong giảng dạy Vật Lí để giờ học có hiệu quả?”
- Giáo viên phải chuẩn bị hệ thống các câu hỏi hướng dẫn HS quan sát hiện
tượng, phân tích kết quả thí nghiệm, vận dụng các kiến thức có liên quan để đi đến
tri thức mới một cách logic.
2. Về tổ chức.
Tập cho HS thói quen tự học ở nhà như làm bài tập, học bài ở nhà, chuẩn bị
bài trước ở nhà để nắm cách tiến hành thí nghiệm để làm thí nghiệm, kẻ sẵn bảng
kết quả thí nghiệm.
giờ đồng nghiệp, các giờ dạy tốt, dạy giỏi ở trường, tổ chức buổi sinh hoạt chuyên
môn của nhóm, tổ như đăng kí dạy tốt, thảo luận về việc vận dụng đổi mới phương
pháp giảng dạy vào từng tiết học. bàn bạc trong tổ về cách thức sáng tạo các thí
nghiệm trong từng bài dạy. Nhờ đó mà kỹ năng thí nghiệm và chất lượng giảng dạy
được nâng lên rõ rệt
IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN.
Qua việc áp dụng chuyên đề trên vào giảng dạy 6 tuần chúng tôi đã theo dõi
và tiến hành khảo sát chất lượng HS học môn vật lí và thu được kết quả tương đối
khả quan
Nhóm Lí-THCS Chu Văn An 4
“Sử dụng thí nghiệm như thế nào trong giảng dạy Vật Lí để giờ học có hiệu quả?”
Lớp/sỉ số
HS tham gia và tham gia tích cực HS không tham gia
Số lượng % Số lượng %
6A1/32 39 100,00 / /
6A2/41 34 82,93 7 17,07
6A3/40 32 80,00 8 20,00
6A4/41 30 73,17 11 26,83
6A5/41 33 80,49 8 19,51
6A6/40 31 77,50 9 22,50
6A7/40 32 80,00 8 20,00
6A8/40 30 75,00 10 25,00
Như vậy so với 7 tuần đầu thì tỉ lệ HS tham gia và tích cực tham gia tăng lên,
giảm tỉ lệ HS không tham gia. Điều đáng kể hơn là tính năng động và khả năng tự
lập của các em thể hiện khá rõ rệt, quan hệ thầy trò trở nên gần gũi hơn. Trong giờ
học khoảng cách giữa thầy và trò được thu hẹp, HS mạnh dạn hỏi thầy, trình bày
quan điểm của mình, mở rộng giao tiếp và tư duy của các em.
Môn Vật lí là môn khoa học thực nghiệm rất gần gũi với cuộc sống nhưng để
khai thác hết hiệu quả của từng tiết học theo tôi là vô cùng khó, cho nên mong sự
góp ý của các đồng nghiệp để chuyên đề có hiệu quả hơn.