SẢN PHỤ KHOA - SỐT SAU ĐẺ - Pdf 18

SẢN PHỤ KHOA -
SỐT SAU ĐẺ

Sốt sau đẻ là sốt từ trên 24h sau sinh với thân nhiệt từ 380C trở lên, do nhiều
nguyên nhân khác nhau với mức độ nặng nhẹ khác nhau. Các trường hợp sốt
sau đẻ không được điều trị tại tuyến xã.

1. Sốt sau đẻ do bệnh nội - ngoại khoa

1.1. Nhiễm khuẩn vết mổ

- Dấu hiệu chính: vết mổ sưng, có ịch tiết là máu hay mủ, tấy đỏ quanh vết khâu.

- Xử trí: cắt chỉ gián cách, dẫn lưu cho thoát ịch, kháng sinh, thay băng ngày tối
thiểu 2 lần.

1.2. Viêm bàng quang

- Dấu hiệu chính: đái ắt, đái buốt, đau vùng sau hoặc vùng trên mu.

- Xử trí: Amoxicillin 500mg uống ngày 3 lần x 5 ngày.

Nếu không kết quả cấy nước tiểu, làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh thích
hợp.

1.3. Viêm bể thận cấp

- Dấu hiệu chính: đái buốt, sốt cao, r t run, đau vùng sườn thắt lưng, chán ăn,
buồn nôn, nôn.

- Xử trí: luôn cảnh giác với choáng nhiễm khuẩn. Cung cấp đủ dịch uống (dịch

- Dấu hiệu chính: sốt, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nước tiểu sẫm, phân trắng,
vàng a gan to, đau cơ, đau khớp.

- Xử trí: chuyển khoa truyền nhiễm.

2. Sốt sau đẻ do các bệnh về vú

2.1. Cương vú

- Dấu hiệu chính: vú sưng đau cả 2 bên, xuất hiện muộn: 3 - 5 ngày sau đẻ.

- Xử trí:
+ Nếu người mẹ đang cho con bú và con không bú được, khuyến khích người mẹ
vắt sữa bằng tay hoặc bằng bơm hút.

+ Nếu người mẹ đang cho con bú và con bú được:

· Khuyến khích tăng số lần cho bú.

· Hướng dẫn tư thế bú đúng.

· Làm giảm đau tức: chườm lạnh, xoa vùng gáy và sau lưng, vắt sữa làm ướt đầu
vú cho con dễ bắt vú.

· Sau khi cho bú: chườm lạnh, băng nâng 2 bầu vú, cho uống Paracetamol 500mg x
2 viên/ngày .

+ Nếu người mẹ không cho bú:

· Tránh kích thích đầu vú.

+ Cho Paracetamol 500mg khi cần.

2.3. Áp xe vú

- Dấu hiệu chính: vú căng to, sưng đỏ, có chỗ ấn mềm, chọc dò có mủ.

- Xử trí:

+ Dẫn lưu mủ.

· Nên gây mê (Ketamin).

· Rạch theo đường nan hoa, tránh gây thương tổn cho đường dẫn sữa.

· Nặn hết mủ bằng tay đi găng vô khuẩn.

· Nhét chặt gạc vào nơi vừa dẫn mủ (rút sau 24giờ và thay thế bằng 1 gạc chèn
khác nhỏ hơn).

+ Điều trị kháng sinh (sau khi đã chích áp xe).

· Cloxacillin 500 mg uống 4 lần ngày x 10 ngày hoặc

· Erythromycin 250 mg uống 4 lần, chia 2 lần ngày x 10 ngày.

+ Khuyến khích người mẹ.

· Tiếp tục cho bú.

· Băng đỡ vú.

- Vỡ ối sớm (non).

- Chuyển dạ k o ài (hơn 24 giờ).

- Kỹ thuật rửa tay không đảm bảo vệ sinh.

- Khám âm đạo nhiều lần không đảm bảo vệ sinh.

- Đỡ đẻ không vô khuẩn.

- Chăm sóc vết thương tầng sinh môn sau đẻ không tốt.

- Can thiệp vào buồng tử cung, âm đạo như đặt Forceps, giác hút, bóc rau, kiểm
soát tử cung.

- Sót rau.
- Rách: âm đạo, cổ tử cung, tầng sinh môn.

- Băng huyết.

- Mẹ bị bệnh trong khi mang thai như thiếu máu, suy inh ưỡng, tiểu đường,
nhiễm độc thai, nhiễm khuẩn âm đạo

3.3. Các hình thái nhiễm khuẩn hậu sản

3.3.1. Nhiễm khuẩn ở tầng sinh môn, âm hộ, âm đạo, cổ tử cung

Nguyên nhân:

- Thường do rách hoặc cắt khâu tầng sinh môn không khâu hoặc khâu không đúng

được khâu lại tầng sinh môn.
- Lấy gạc bị bỏ quên trong âm đạo (nếu có).

3.3.1. Viêm nội mạc tử cung

Nguyên nhân:

- Thường do bế sản dịch (do tử cung gập góc bất thường), do sót rau, nhiễm
khuẩn ối, chuyển dạ kéo dài hoặc do những thủ thuật can thiệp vào buồng tử cung
không vô khuẩn

- Đây là hình thái nhiễm khuẩn nhẹ của nhiễm khuẩn tử cung hậu sản, nhưng nếu
không điều trị thích đáng sẽ dẫn đến các biến chứng trầm trọng hơn như viêm tử
cung toàn bộ, viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn huyết

Triệu chứng thường gặp:

- Người mẹ sốt 38
0
C - 39
0
C trong khoảng 2 ngày sau khi đẻ, không kể 24 giờ đầu và
không có nguyên nhân sốt khác (như sốt rét) xuất hiện.

- Tử cung co hồi chậm, mềm, ấn đau.

- Sản dịch hôi, đôi khi có lẫn mủ.

- Nhiệt độ không giảm mà có thể tăng lên 39
0
C - 40
0
C.

- Cảm thấy đau ở vùng thận.

- Tử cung không co hồi, ấn đau.

- Đau hạ vị, có phản ứng.

- Sản dịch hôi, hoặc chảy máu âm đạo nhiều hơn. Vết rách tầng sinh môn, âm đạo
bung toác ra.

Với các điều kiện nêu trên, dự phòng diễn tiến xấu, phải truyền bù dịch đường
tĩnh mạch, nhanh chóng chuyển sản phô lên tuyến trên có nữ hộ sinh đi kèm, theo
dõi thể trạng người bệnh để chống choáng kịp thời.

Các hình thái khác kể ra sau đây phải chuyển lên tuyến trên điều trị.

3.3.2. Viêm tử cung toàn bộ

Đây là hình thái viêm tử cung nặng hơn. Không những chỉ lớp niêm mạc bị nhiễm
khuẩn mà còn có những ổ mủ trong lớp cơ tử cung. Tiến triển có thể làm thủng tử
cung, gây viêm phúc mạc hoặc nhiễm khuẩn.

Nguyên nhân:

Giống nguyên nhân của viêm nội mạc tử cung

dẫn lưu túi mủ qua ngả âm đạo.

Tiến triển có thể khỏi dần nếu điều trị hữu hiệu và kịp thời. Có thể gây biến chứng
viêm phúc mạc hay túi mủ vỡ vào bàng quang, âm đạo, trực tràng.

3.3.4. Viêm phúc mạc tiểu khung

Từ tử cung và các cơ quan phô cận, nhiễm khuẩn có thể lan sang phúc mạc vùng
tiểu khung.

Triệu chứng:
- Có thể xuất hiện sớm khoảng 3 ngày sau đẻ hoặc chậm hơn khoản ngày thứ 7 -
10 sau một thời kz nhiễm khuẩn ở tử cung hay âm hộ, âm đạo.

- Sốt cao 39
o
C - 40
o
C, có thể rét run.

- Đau nhiều ở vùng bụng ưới, ấn bụng có phản ứng ở vùng này.

- Khám âm đạo thấy tử cung còn to, i động k m, đau, túi cùng sau đầy, phù nề.

- Trường hợp túi mủ nằm ở túi cùng sau, kích thích trực tràng gây triệu chứng giả
lỵ.

Điều trị:

Nội khoa với kháng sinh liều cao. Nếu có bọc mủ ở túi cùng thì chuyển viện để dẫn


Tiên lượng xấu. Tỷ lệ tử vong cao. Dễ gây di chứng tắc ruột về sau.

3.3.6. Nhiễm khuẩn huyết (nhiễm khuẩn máu)

Nguyên nhân:

- Do thủ thuật hoặc dụng cụ không vô khuẩn.

- Do điều trị các tình trạng nhiễm khuẩn không đúng cách, không đủ liều lượng,
không đủ thời gian.

- Có thể do can thiệp phẫu thuật quá sớm khi chưa bao vây được ổ nhiễm khuẩn
khu trú tại bộ phận sinh dục bằng kháng sinh, tạo điều kiện cho vi khuẩn lan tràn
vào máu.

Triệu chứng và chẩn đoán:

- Thường là sốt cao, rét run nhiều lần trong ngày. Có những thể bán cấp, không sốt
cao nhưng sốt kéo dài.

- Toàn trạng suy nhược, có thể đi đến choáng, hạ huyết áp, mê man.

- Cấy máu để chẩn đoán xác định (tuyến trên).

- Ở các trường hợp nặng, ngoài ổ nhiễm khuẩn đầu tiên còn có những ổ nhiễm
khuẩn thứ phát như ở thận, gan, phổi

Điều trị:



- Nhiễm khuẩn hậu sản là nhiễm khuẩn xuất phát từ bộ phận sinh dục xảy ra trong
thời kz sau đẻ (hậu sản). Các hình thái nhiễm khuẩn hậu sản là:

+ Nhiễm khuẩn ở tầng sinh môn, âm đạo/âm hộ, cổ tử cung.

+ Viêm nội mạc tử cung.

+ Viêm tử cung toàn bộ.

+ Viêm tử cung và phần phô.

+ Viêm phúc mạc tiểu khung.

+ Viêm phúc mạc toàn bộ.

+ Nhiễm khuẩn máu.
- Nhiễm khuẩn hậu sản nếu không được điều trị thích đáng có thể lan từ tử cung
vào ổ bụng, gây viêm vùng chậu mạn tính, chửa ngoài tử cung, vô sinh, nhiễm
khuẩn có thể đi vào máu, gây choáng và tử vong.

- Nhiễm khuẩn hậu sản phải được điều trị càng sớm càng tốt.

- Ngay cả khi được điều trị, nhiễm khuẩn vẫn có thể gây ra những vấn đề nghiêm
trọng. Vì vậy, điều quan trọng phải giữ gìn vệ sinh sạch sẽ và chủ động phòng
ngừa tích cực.

- Điều trị: Tùy theo tình trạng người bệnh mà quyết định cách xử trí:

+ Nếu tình trạng người mẹ sốt nhẹ, tỉnh táo cần xác định nguyên nhân gây sốt ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status