Lý thuyết phát triển - Bối cảnh lịch sử potx - Pdf 18

I. Bối cảnh lịch sử
Sự đổ vỡ của chương trình phát triển kinh tế các nước châu Mỹ
Latinh – ECLA của liên hợp quốc đã kéo theo khủng hoảng về kinh
tế, chính trị - xã hội ở các nước này trong những năm đầu của những
năm 1960. Điều này dẫn tới sự mất niềm tin vào các lý thuyết của
trường phái hiện đại hóa.
Trước những năm 1960, họ đã dặt ra kế hoạch bảo vệ sự phát triển của
chương trình ECLA ở các nước châu Mỹ Latinh và mở rộng thông qua sự
thay thế nhập khẩu vào năm 1950 mà rất nhiều người nghiên cứu châu
Mỹ Latinh có hy vọng lớn về hướng kinh tế thịnh vượng phát và công
bằng xã hội.
Tuy nhiên, sự mở rộng kinh tế vào những năm 1950 nhanh chóng trở
nên trì trệ và trước năm 1960 Châu Mỹ Latinh bị khủng hoảng bởi thất
nghiệp , lạm phát, sự giảm giá của đồng tiền và các vấn đề kinh tế khác.
Tuy nhiên vấn đề nghiêm trọng nhất là sự khủng hoảng về chính trị và
pháp luật hà khắc( do việc thiết lập chế độ độc tài quân đội). Rất nhiều
nhà nghiên cứu châu Mỹ Latinh đã vô cùng thất vọng về sự đổ vỡ không
thể giải thích được sự đi xuống của nền kinh tế sự yếu kém về chính trị
và khoảng cách giàu nghèo giữa các nước. Điều này đòi hỏi cần có một
lý thuyết mới ra đời để thay thế lý thuyết cũ (quan điểm của trường phái
hiện đại hóa) để chỉ đạo hướng dẫn các nước châu Mỹ Latinh thoát khỏi
khủng hoảng.
=> trường phái sự phụ thuộc ra đời
Trường phái sự phụ thuộc đầu tiên được ra đời ở Mỹ Lating như giải
pháp cho các nước vỡ nợ từ chương trình vay vốn cho các nước Mỹ
Lating của ủy ban quốc tế các nước Mỹ Lating(ECLA) vào những năm
1960.
• Chịu ảnh hưởng từ mô hình phát triển ở Trung Quốc và Cuba:
Tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN.
Trường phái sự phụ thuộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác( chính
thống) đã đưa ra lời giải thích cho sự khủng hoảng ở các nước Latinh vào

hiện đại hóa ở Mỹ. Phần sau đây cung cấp một đánh giá ngắn gọn vè
chương trình ECLA và lý thuyết Mác-xít như là nền tảng cho các cuộc
thảo luận về quan điểm sự phụ thuộc.
II. Thừa kế lý thuyết.
• Phê phán chính sách chuyên môn hóa lệch lạc của ECLA.
Việc xây dựng trường phái sự phụ thuộc phát triển tại châu Mỹ Latinh
liên quan mật thiết tới chương trình ECLA,Prebisch (1950)- người đứng
đầu ECLA, đã chỉ trích lược đồ phân công lao động quốc tế đã lỗi thời.
Dưới mô hình này, Mỹ Latinh đã xuất khẩu lương thực thực phẩm và
nguyên liệu thô cho các trung tâm công nghiệp thế giới, và Mỹ Latinh sẽ
nhập khẩu lại những sản phẩm công nghiệp khác từ các trung tâm này.
Theo Prebisch, kế hoạch này là gốc rễ của các vấn đề phát triển của Châu
Mỹ latinh. Việc xuất khẩu lương thực thực phẩm và nguyên liệu thô chắc
chắn sẽ dẫn tới giảm mậu dịch quốc tế của Mỹ Latinh, mà hơn nữa sẽ ảnh
hưởng đến tích lũy vốn trong nước.
Chiến lược phát triển Châu Mỹ Latinh mà Prebisch cho sự phát triển
của châu Mỹ Latinh là yêu cầu bộ phận quốc tế lao động dừng lại cho Mỹ
Latinh trải qua sự công nghiệp hóa.
Quá trình công nghiệp hòa tộc độ cao dần thay đổi phần lớn việc sản
xuất trong nước. Ban đầu, sản xuất trong nước sẽ được bảo vệ khỏi sự
cạnh tranh của nước ngoài bởi hàng rào thuế quan và các biện pháp hỗ
trợ khác, đến một thời điểm nào đó khi khả năng cạnh tranh của họ đã
được cải thiện, các công ty trong nước phải tự quản lý và duy trì bằng
chính sức mình.
Sản xuất nguyên liệu thô tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh tế
Mỹ Latinh. Thu nhập kiếm được từ sản xuất nguyên liệu dùng để chi trả
cho việc nhập khẩu tư liệu sản xuất nhằm giúp đỡ cải thiện tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Mặt khác chính phủ phải tích cực tham gia phối hợp trong
sự nghiệp công nghiệp hóa bằng việc chính phủ cần chủ động điều tiết
quá trình công nghiệp hóa. Sự tham gia của chính phủ là cần thiết để phá

Carter(1973, Tân Mác khác với chủ nghĩa cổ điển Mác ở các thía cạnh
sau đây:
(1) Trong chủ nghĩa Mác cổ điển coi chủ nghĩa đế quốc là phát triển cao
hơn của chủ nghĩa tư bản độc quyền tại tây âu thì Tân Mác thì nhìn
nhận chủ nghĩa đế quốc theo quan điểm (ngoại vi), tập trung vào sự
liên quan của chủ nghĩa đế quốc với vấn đề phát triển ở các nước
thuộc thế giới thứ 3.
(2) Chủ nghĩa Mác cổ điển theo quan điểm 2 “bước tiến hành cách
mạng”. Họ tin tưởng rằng một cuộc cách mạng tư sản sẽ làm tiền đề
cho cuộc cách mạng XHCN diễn ra. Cho tới tận khi các nước thế giới
thứ 3 đang trong tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng thì chủ nghĩa
Mác cổ điển vẫn tin tưởng vào khả năng tiến hành cách mạng tư sản
trước khi tiến hành cách mạng XHCN.
Tân Mác lại theo một hướng khác. Họ tin rằng tình hình hiện tại ở các
nước thế giới thứ 3 đã chín muồi để tiến hành cách mạng XHCN. Họ
muốn tiến hành cách mạng ngay, họ nhận thức cách mạng tư sản như
một bước tạo thành chủ nghĩa đế quốc.
(3) Cuộc cách mạng xã hội diễn ra, chủ nghĩa Mác cổ điển vẫn muốn nó
được lãnh đạo bởi giai cấp vô sản. Trong khi chủ nghĩa Mác cấp tiến
được đánh giá cao qua việc lãnh đạo thành công cách mạng Cuba và
Trung Quốc, chủ nghĩa Mác cấp tiến là niềm hi vọng tốt hơn cho cuộc
cách mạng XHCN mà tiền đề là giai cấp công nhân, nông dân, những
người du kích…
 Chủ nghĩa tân Mác đã cung cấp những cơ sở lý luận được coi như là
chiếc chìa khóa cho quan điểm của trường phái sự phụ thuộc chọn để
nghiên cứu về chương trình ECLA và quan điểm trường phái hiện đại
hóa vào những năm 1960.
III. Một số nghiên cứu
điển hình
Frank: Sự phát triển của sự kém phát triển .

trình thuộc địa đã giải thích cho các vấn đề về tái cơ cấu và thay đổi
đáng kể quá trình phát triển của họ.
• Giải thích sự kém phát triển của các nước thế giới thứ 3 là do cá
nước thế giới thứ 3 đã trải một quá trình lịch sử lâu dài bị thực
dân xâm lược.
Phản ứng với khái niệm “nội tại” của trường phái HĐH, Frank đưa ra
những giải thích “bên ngoài” về những vấn đề phát triển của các nước
thế giới thứ 3. Theo Frank, sự lạc hậu của các nước thế giới thứ 3
không thể giải thích bằng các lý thuyết truyền thống. Thực tế quá sai
lầm khi nói rằng nguyên nhân thất bại là do đặc điểm của các nước thế
giới thứ 3 như “phong kiến”, “lạc hậu” bởi vì rất nhiều nước như
Trung Quốc hay Ấn Độ đã khá ổn định trước khi họ bị chủ nghĩa thực
dân xâm chiếm vào thế kỉ 18. Thay vào đó, chủ nghĩa thực dân và sự
thông trị nước ngoài đã chi phối sự phát triển của nhiều nước thế giới
thứ 3, gây ảnh hưởng trực tiếp đến nghèo nàn và lạc hậu vủa nền kinh
tế cũng như nỗ lực thoát khỏi suy thoái của những nước này. Frank
xây dựng khái niệm “ vấn đề phát triển ở các nước kém phát triển” để
biểu thị rằng sự kém phát triển không phải do tự nhiên mà được tạo từ
quá trình xâm chiếm kéo dài tại các nước thế giới thứ 3.
• Sử dụng mô “quốc mẫu – chư hầu” để giải thích cơ chế tạo nên sự
kém phát triển : Sự bóc lột của các nước phát triển chính là
nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển của các nước thế giới thứ
3.
Dựa theo quan điểm này Frank đã đề xuất nột số giả thuyết có liên
quan dến sự phát triển của các nước thế giới thứ 3.
Giả thuyết 1: Nói lên sự tương phản giữa các thành phố lớn trên
thế giới và những thành phố thuộc địa, giữa sự phát triển của các quốc
gia phương tây và sự lạc hậu ở các nước thuộc địa.
VD: Mặc dù Sao Paulo (Brazin) đã bắt đầu quá trình công nghiệp hóa
nhưng Frank vẫn không tin có thể thoát khỏi tình trạng kém phát triển

các giả định mà trường phái HĐH đưa ra. Theo Frank nguyên
nhân của sự kém phát triển ở các nước thế giới thứ 3 là do sự
bóc lột của các nước phát triển dẫn đến.
Dos Santos: Cấu trúc của sự thuộc
• Định nghĩa về sự phụ thuộc.
Khi nào mối quan hệ giữa 2 hay nhiều quốc gia được coi là ở dạng
phụ thuộc?
Lý thuyết của chủ nghĩa đế quốc tập trung vào việc mở rộng và sự
thống trị của đế quốc độc quyền, các khái niệm cơ bản về sự phụ
thuộc đã làm nổi bật các vấn đề cơ bản của một quốc gia.
Trong định nghĩa cổ điển về sự phụ thuộc, Dos Santos nói rằng: “Mối
quan hệ giữa 2 hay nhiều quốc gia “giả định phụ thuộc khi một số
quốc gia ( các nước tự chủ) có thể bắt đầu, trong khi các nước khác
(các nước phụ thuộc) chỉ làm điều này như một sự mở rộng”.
Ông lập luận rằng mối quan hệ giữa các nước tự chủ và các nước phụ
thuộc là khác nhau.
VD: thông qua kiểm soát đọc quyền các quan hệ thương mại,
thông qua các khoản vay và xuất khẩu các nguồn vốn trong
quan hệ tài chính, có chuyển giao thặng dư được tạo ra trong
các nước phụ thuộc vào các quốc gia tự chủ. Với các nước phụ
thuộc thì sự chuyển giao khoa học kỹ thuật, văn hóa cũng như
đạo đức, sứ khoe và thể chất của người dân của họ bị phụ thuộc
vào rất nhiều các nước khác.
Dos Santos đã phân biệt 3 hình thức lịch sử của sự phụ thuộc:
+ Đầu tiên 2 trong số này là phụ thuộc dạng thuộc địa và sự phụ thuộc
tài chính công nghiệp:
- Đến cuối thế kỉ thứ 19: Sự phụ thuộc dạng thuộc địa:
Các trung tâm thương mại và tài chính của các nước thuộc địa
giữ độc quyền kiểm soát đất đai, hầm mỏ và nguồn nhân lực
(nông dân và nô lệ), xuất khẩu vàng, bạc và các sản phẩm nhiệt

xuất hiện đại và truyền thống . Ngoài ra các khu vực kinh tế xuất
khẩu( đặc biệt là mạng lưới tiếp thị) thường bị kiểm soát bởi vốn đầu
tư nước ngoài, phụ thuộc vào lợi ích kinh tế của các quốc gia phát
triển.
Tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán: Phát triển công nghiệp chịu
ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những biến động của cán thanh toán dẫn đến
thâm hụt. Các nguyên nhân gây thiệt là ba nguyên nhân:
(1)Một thị trường quốc tế độc quyền có xu hướng giảm giá nguyên
liệu và nâng cao giá sản phẩm công nghiệp. Đó xu hướng mà
các sản phẩm chính được thay thế bằng các sản phẩm với vật
liệu tổng hợp. Như vậy, các nước phụ thuộc phải chịu thâm hụt
thương mại do sự phụ thuộc của họ vào việc xuất khẩu nguyên
liệu.
(2)Nguồn vốn nước ngoài giữ quyền kiểm soát nền kinh tế của các
nước thuộc địa, nó mang lại một khối lượng lớn lợi nhuận (từ
cước vận chuyển, thanh toán tiền bản quyền, trợ giúp kĩ thuật,
…v.v). Vì thế Dos santos chỉ ra rằng số tiền mà các nước phụ
thuộc được nhận lạo từ các nước phát triển ít hơn nhiều so với
số tiền họ đáng được nhận lại. Ví dụ: trong giai đoạn 1946 –
1967 cứ mỗi một đồng đôla được nhận về các nước phụ thuộc
thì sẽ có 2.73$ rời đi. Quá trình này tạo ra một mức thâm hụt
trong tài khoản vốn và hạn chế nhập khẩu đàu vạo của các nước
ngoài cho công nghiệp.
(3)Kết quả là “tài trợ nước ngoài” theo hình thức vốn nước ngoài
và viện trọ nước ngoài, là cần thiết để trang trại thâm hụt tài
chính hiện hành và để phát triển hơn nữa. Tuy vậy, Dos santos
cũng lập luận rằng mục đích của nguồn tài trợ nước ngoài này
là để đàu tư tài chính, trợ cấp cho việc nhập khẩu, giới thiệu
công nghệ không thích hợp với nhu cầu tới các nước phát triển
và ưu tiên đầu tư vào lĩnh vực không cần thiết.

công nghệ nghiều vốn dẫn đến việc phân chia các mức lương khác
nhau. Tao nên sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc. Từ quan điểm Mác-xít,
Dos Santos nhãn hiệu này tập trung cao thu nhập một “ tỷ lệ khai thác
cao” (hoặc siêu khai thác) của lao động điện.
Thứ ba, cơ cấu sản xuất bình đẳng này đã áp đặt những giới hạn về sự
tăng trưởng của thị trường trong quá trình phát triển. Khả năng tiêu thụ
hàng hóa của thị trường bị giới hạn bởi sức mua của người tiêu dùng
mà ở đây chủ yếu là người lao động – những người bị giới hạn về khả
năng thanh toán. Ngoài ra, sự tăng trưởng của thị trường hàng hóa còn
bị giới hạn bởi do một phần lớn lợi nhuận và thặng dư của nền kinh tế
bị chảy ra nước ngoài.
Dos Santos kết luận rằng sự lạc hậu kinh tế của các nước kém phát triển
không phải do thiếu tích hợp đầu tư nghiên cứu, mà là do sự kiểm soát
độc quyền của vốn nước ngoài, và công nghệ nước ngoài. Tài chính –
công nghệ nước ngoài đã tác động mạnh mẽ dến cấu trúc sản xuất. Cụ
thể các tác động đến cấu trúc sản xuất là:
* Sự mất cân đối trong cấu trúc sản xuất( nhị nguyên ): Khu vực sản
xuất nông nghiệp xuất khẩu lạc hậu>< Khu vực tập trung công nghệ,
kinh tế - tài chính hiện đại.
* Tạo ra sự phân hóa sâu sắc về tiền lương, dẫn đến sự phân hóa giàu
nghèo sâu sắc.
* Sự mất cân đối trong cấu trúc sản xuất dẫn đến sự hạn chế phát triển
thị trường trong nước.
Amin: Tiến đến CNTB của các nước
Ngoại vi.
Nghiên cứu của Amin(1976) là lý thuyết về sự chuyển đổi từ các nước
ngoại vi sang tư bản trung tâm. Nó gồm những khẳng định chính sau:
• Tiến lên CNTB của các nước ngoại vi có sự khác biệt cơ bản với
việc tiến đến CNTB của các nước trung tâm.
Quá trình chuyển sang tư bản từ các nước ngoại vi khác nhiều so với việc

đặt ra hiệu lực thầu. Thay vì thu lợi xuất khẩu thì lợi nhuận của các nước
ngoại biên lại chuyển đến các nước trung tâm để phục vụ để đẩy nhanh sự
phát triển của nước trung tâm.
• Sự khác biệt giữa các nước ngoại vi và các nước trung tâm khi bắt
đầu quá trình phát triển.
Amin cảnh báo rằng các nhà nghiên cứu không nên nhầm lẫn giữa các quốc
gia phát triển vì họ đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển. Điều này là do
các nước kém phát triển có sự phân biệt tính năng kết cấu sau đây:
(1)Sự không đồng đều mà điển hình là sự phân phối sản lượng ở các
nước ngoại vi.
(2)Điều chỉnh sản lượng sản xuất theo hướng phù hợp với nhu cầu các
trung tâm
(3)Kinh tế đặt dưới sự thống trị của các nước trung tâm thể hiện dưới
hình thức thương mại và sự phụ thuộc về tài chính.
• CNTB ở các nước ngoại vi không thể đạt được sự phát triển kinh
tế nếu không thách thức sự chi phối của các nước trung tâm.
Sự chi phối của các nước phát triển đã gây trở ngại cho các nước ngoại vi.
Nói cách khác, các nước ngoại vi không thể đạt được tăng trưởng nếu không
thách thức sự chi phối và thống trị của độc quyền nước ngoài và trung tâm.
=> Cuối cùng, các nguyên nhân giả định gây ra tình trạng kém phát triển ở
các nước ngoại vi được đưa ra tùy thuộc vào:
(1) Bản chất của việc hình thành tư bản dựa trên việc hình thành các nước
tiền tư bản trước đó
(2) Giai đoạn mà các nước ngoại vi ra đời.
Tuy nhiên, Amin đã không bỏ qua sự khác biệt giữa các nước ngoại vi, ông
khẳng định rằng tất cả chúng đều có xu hướng phát triển theo một mô hình
điển hình, đặc trưng bởi sự thống trị vốn nông nghiệp, vốn thương mại và
vốn trung ương. Sự thống trị của các quốc gia trung tâm với toàn bộ các
nguồn vốn trên đã tạo ra giới hạn cho sự phát triển của quốc gia tư bản ngoại
vi.

Phụ thuộc được coi như là một thành phần của sự phân chia khu vực
cảu nền kinh tế toàn cầu. Trên một mặt, dòng chảy thặng dư từ các nước thế
giới thứ ba sang cac nước phát triển trung tâm dẫn đến hai hệ quả song song.
Đó là tình trạng kém phát triển của các nước thế giới thứ ba và sự phát triển
của các nước phương Tây. Do đó kém phát triển ở ngoại vi và phát triển ở
trung tâm là hai khía cạnh chủ yếu của một quá trình đơn tích lũy vốn, dẫn
tới phân chia khu vực trong nền kinh tế toàn cầu.
 Sự phụ thuộc được xem như là đối lập với sự phát triển.
Cuối cùng, phụ thuộc được xem như không tương ứng với sự phát
triển. Liệu phát triển có thể xảy ra với các nước ngoại vi trong điều kiện vẫn
phụ thuộc hay không? Câu trả lời thường không có. Mặc dù phát triển nhỏ
có thể xảy ra trong quá trình chiến tranh thế giới, nhưng sự phát triển thực sự
ở ngoài vi thường không ổn định và kéo dài lâu.
V. Hàm ý chính sách của
trường phái Sự phụ thuộc.
• Định nghĩa lại thuật ngữ “Phát triển”: Phát triển là gì?
Triết học đã cho rằng: Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về
hướng của sự vật: hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém đến hoàn thiện đến
hoàn thiện hơn, … Nhưng nếu hiểu sự vận động phát triển một cách biện
chứng toàn diện, sâu sắc thì trong tự bản thân sự vận động phát triển đã bao
hàm sự vận động thụt lùi, đi xuống với nghĩa là tiền đề, điều kiện cho sự vận
động đi lên, hoàn thiện.
Liệu có thể hiểu một cách đơn giản hơn phát triển phải chăng chỉ là tăng
trưởng Công nghiệp, tăng tổng sản lượng nền kinh tế, tăng năng suất?
Hay, phát triển là cải thiện điều kiện sống của mọi người dân ở các nước
ngoại vi(các nước Thế giới thứ ba)?
Vậy, các chương trình phát triển nên nhắm vào đối tượng nào?
Những người ủng hộ chính sách của trường phụ thuộc cảm thấy rằng có một
cần phải định nghĩa sự phát triển lâu dài. Nó nên có ý nghĩa nhiều hơn, phát
triển các ngành công nghiệp, tăng sản lượng, và năng suất. Thêm vào đó,

bang khác. Nó chỉ có nghĩa rằng một số nước ngoại vi nên không bị chi phối
bởi các nước trung tâm. Họ nên có quan hệ thương mại với các nước ngoại
vi khác một cách bình đẳng và cùng có lợi.
Từ quan điểm trường phụ thuộc, các tầng lớp cũ trong mỗi quốc gia rất có
thể không chịu chấp nhận như vậy. Lợi ích của các tầng lớp cũ quá chặt chẽ,
rang buộc với các nước ngoài nên họ sẽ không dễ dàng chấp nhận như vậy.
Kết quả là, các nhà nghiên cứu phụ thuộc có rất nhiều ý kiến rằng một cuộc
cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể cần thiết cho một quốc gia để thoát khỏi
những tầng lớp cầm quyền cũ.
Từ quan điểm của trường phái phụ thuộc các tầng lớp cũ của một số nước
ngoại vi có nhiều khả năng sẽ không chấp nhận như vậy. Lợi ích của các
tầng lớp cũ quã chặt chẽ, rang buộc với nước ngoài nên họ sẽ không dễ dàng
chấp nhận như một lựa chọn. Kết quả là, các nhà nghiên cứu của trường phái
sự phụ thuộc đề xuất rất nhiều rằng một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa có
thể cần thiết cho một quốc gia để thoát khỏi tầng lớp cầm quyền cũ. Theo lời
của Chilcote và Edelstein, “Phát triển đòi hỏi sự thay đổi sâu sắc về mối
quan hệ kinh tế, xã hội về chính trị trong việc lật đổ của thị trường và huy
động của dân cư trong nước trong một nỗ lực quốc gia theo định hướng. Vì
vậy, phát triển đòi hỏi phải xóa bỏ sự xâm nhập của nước ngoài, hỗ trợ hiện
trạng, và tạo ra một bối cảnh xã hội chủ nghĩa để phát triển”. Chỉ khi có một
nhóm quyền lực mới với nhiệm vù là để đáp ứng nhu cầu nhân lực của nông
dân và người lao động thì các chính sách cấp tiến hòng cơ cấu lại sẽ được
thực hiện, điều này được thể hiện thông qua những kinh nghiệm của cuộc
cách mạng Trung Quốc và Cuba.
VI. So sánh Trường phái
Sự phụ thuộc với trường
phái HĐH.
Sự giống và khác nhau giữa Trường phái Sự phụ thuộc và Trường phái HĐH
như thế nào theo các khía cạnh sau?
• Sự giống nhau

Nguồn gốc lý thuyển Lý thuyết tiến hóa và
chức năng luận
Chương trình ECLA về
tân học thuyết Mac
Nguyên nhân của vấn đề
thế giới thứ 3
Chủ yếu là nội bộ Chủ yếu là bên ngoài
Bản chất của những mối
liên kết các quốc gia
Nói chung là có lợi Nói chung là có hại
Dự báo hướng phát triển Lạc quan Bi quan
Giải pháp cho sự phát
triển
Thêm nhiều liên kết
với phương Tây
Giảm bớt những liên
kết, làm cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa
Đầu tiên. Chúng có nguồn gốc khác nhau. Quan điểm hiện đại hóa cổ
điển bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thuyến tiến hóa của người châu Âu và
chức năng luận của người Mĩ, trong khi đó quan điểm sự phụ thuộc cổ
điển bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chương trình ELCA và tân học thuyết
Mác.
Thứ 2, với mối quan hệ với nguyên nhân của vấn đề thế giới thứ 3,
quan điểm hiện đại hóa cổ điển cung cấp sự giải thích nội bộ, chỉ ra
những đặc điểm như văn hóa truyền thống, thiếu đầu tư sản xuất, và sự
vắng mặt của động lực để tạo ra thành tích của những đất nước “ thế
giới thứ 3”. Quan điểm sự phụ thuộc cổ điển thì ngược lại, cung cấp sự
giải thích bên ngoài, nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa thực dân mới trên
những đất nước kém phát triển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status