Học viện chính trị quốc gia hồ chí minh
Slao sôtuky
Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội
ở thủ đô viêng chăn
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 62 31 01 01
Tóm tắt luận án tiến sĩ kinh tế
Hà nội - 2014
Công trình đợc hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Ngời hớng dẫn khoa học: PGS. TS Hoàng Thị Bích Loan
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ đợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện,
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 201
Có thể tìm hiểu luận án tại Th viện Quốc gia và
Th viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ nghĩa Mác - Lênin đặt con người ở vị trí cao nhất, nguồn tài sản quý
giá của sự phát triển. Xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của sự phát triển kinh tế - xã hội. Con người mới phát triển toàn diện về
phẩm chất, trí tuệ, văn hoá, năng lực, thể lực, sống bình đẳng, tự do, ấm no
và hạnh phúc là động lực to lớn cho sự phát triển của mọi quốc gia, dân tộc.
Ngày nay khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hoá và kinh tế tri thức
hội càng phát triển thì càng cần phải có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công
nhân kỹ thuật có trình độ cao về trí thức, kỹ năng, kỹ xảo để làm chủ khoa học
- công nghệ trong sự phát triển. Nguồn nhân lực trở thành một trong những
yếu tố then chốt, có vai trò đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển
kinh tế - xã hội ở nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.
Thủ đô Viêng Chăn là trung tâm kinh tế - chính trị, khoa học kỹ thuật và
văn hoá - xã hội của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Viêng Chăn có
nhiều lợi thế thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật, sau
hơn 25 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện. Đảng bộ,
Chính quyền Thủ đô Viêng Chăn đã có nhận thức rõ hơn; đề ra nhiều chủ
trương mới khuyến khích đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả hơn
nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thủ đô. Tuy nhiên,
cho đến nay đời sống của nhân dân lao động các dân tộc Lào anh em còn rất
khó khăn, do đó quá trình phát triển nguồn nhân lực của Thủ đô Viêng Chăn
còn nhiều hạn chế. Nguồn nhân lực chất lượng cao của Thủ đô và của đất
nước Lào nói chung có số lượng ít, chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chưa thực sự là động lực để
phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
hiện nay.
Trong bối cảnh khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục phát triển
nhảy vọt với trình độ ngày càng cao, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở Lào đang được đẩy mạnh; để xây dựng và phát triển Thủ đô Viêng chăn
xứng đáng với vai trò là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm
lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế, một động
lực phát triển của cả nước; có kinh tế - xã hội phát triển toàn diện, bền vững,
đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân nâng cao, chính trị - xã hội ổn định,
quốc phòng, an ninh củng cố phát triển nguồn nhân lực của Thủ đô Viêng
Chăn đặt ra hết sức nặng nề.
Với các lý do nêu trên luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nguồn nhân lực
cho phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô Viêng Chăn"được tác giả nghiên
- Về không gian nghiên cứu ở Thủ đô Viêng chăn.
- Về nội dung: nghiên cứu chủ yếu các mặt của chất lượng nguồn nhân
lực như giáo dục đào tạo, dân số, chăm sóc sức khoẻ
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2006 đến năm 2013.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước Lào về
nguồn nhân lực; lý luận hiện đại phổ biến hiện nay về nguồn nhân lực nói
chung và nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội nói riêng.
4
4.2. Phương pháp luận
- Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
làm nền tảng cơ sở phương pháp luận.
- Luận án sử dụng một số phương pháp cụ thể như: Phương pháp trừu
tượng hoá khoa học, phương pháp lôgíc - lịch sử, phương pháp phân tích
tổng hợp, phương pháp tiếp cận có hệ thống, phương pháp so sánh, phương
pháp thống kê, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.
- Ngoài ra luận án còn sử dụng phương pháp kế thừa, sử dụng kết quả
nghiên cứu từ các công trình khoa học trên góc độ kinh tế chính trị có liên
quan đến đề tài.
5. Những đóng góp về khoa học của luận án
Luận án là công trình khoa học đầu tiên, mới mẻ nghiên cứu hệ thống về
nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô Viêng Chăn. Qua đó,
luận án sẽ góp phần làm rõ những vấn đề chung cho lĩnh vực phát triển
nguồn nhân lực như:
- Khái niệm nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
- Làm rõ những tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn
nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
- Luận giải rõ vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã
CHDCND Lào, qua Chính sách, quan điểm của Nhà nước, các công trình
được nghiên cứu trong và ngoài nước có thể khẳng định rằng, vấn đề nguồn
nhân lực chỉ được đề cập trong một số khía cạnh và phạm vi nào đó trên cả
nước, chưa có một công trình nghiên cứu nào về NNL cho phát triển kinh tế -
xã hội ở Thủ đô Viêng Chăn. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu kết quả
nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, nhất là ở Lào việc bổ sung vào
khoảng trống các vấn đề nghiên cứu còn được tiếp tục nghiên cứu để hoàn
thiện hơn, đó là:
1. Khái niệm nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội
2. Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội nói
chung, cũng như CHDCND Lào và Thủ đô Viêng Chăn
3. Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực NNL cho phát triển kinh tế - xã hội
4. Phương hướng và giải pháp nhằm đảm bảo nguồn nhân lực cho phát
triển kinh tế - xã hội
Như vậy, đề tài luận án của tác giả không trùng lặp với công trình khoa
học đã nêu trên về nội dung, hình thức và cần thiết, có ý nghĩa ý luận và thực
tiễn quan trọng.
6
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC
CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHO PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
2.1.1. Khái niệm và các tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực cho phát
triển kinh tế - xã hội
2.1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội
Từ quan niệm chung về nguồn nhân lực, tác giả cho rằng: Nguồn nhân
lực cho phát triển kinh tế - xã hội: Là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc
gia, có khả năng lao động của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi
lao động, có khả năng tham gia vào quá trình lao động; Đó là tổng hợp thể lực,
nghiên cứu sinh bảo vệ luận án Tiến sĩ hàng năm;
Số học sinh các trường trung cấp nghề; Số học sinh các trường trung cấp
chuyên nghiệp, trường cao đẳng nghề hàng năm; Số sinh viên cao đẳng; Số
sinh viên đại học, cao học, nghiên cứu sinh hàng năm;
Bốn là, về kết quả thu hút, sử dụng và trọng dụng nguồn nhân lực
Bồi dưỡng và đào tạo nhân tài phải đi liền với việc sử dụng và trọng
dụng nhân tài, coi sử dụng và trọng dụng nhân tài chính là đích cuối cùng,
phản ánh hiệu quả của bồi dưỡng và đào tạo nhân tài.
Kết quả thu hút, sử dụng và trọng dụng nguồn nhân lực chủ yếu là lao động
làm việc trong nền kinh tế (Số lượng tuyệt đối - % lực lượng lao động). Chỉ
số về tốc độ tăng bình quân hàng năm; mức tăng (giảm) hàng năm; cơ cấu
theo ngành kinh tế; số người thất nghiệp; năng suất lao động (tính theo giá trị
GDP hoặc giá trị gia tăng trên 1 lao động làm việc)…
2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực cho phát triển
kinh tế - xã hội
- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng nâng cao mức
sống, sức khoẻ, thể lực, trí lực, tuổi thọ, trình độ dân trí, trình độ chuyên
môn, nghề nghiệp… của người lao động.
- Giáo dục và đào tạo
Giáo dục đào tạo có vai trò trực tiếp, quyết định trong việc nâng cao chất
lượng, cung cấp nguồn nhân lực chính cho mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống
xã hội. Đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư cho tái sản xuất con người.
- Dân số
Dân số tăng đảm bảo về nguồn lao động dồi dào, đảm bảo cho quá
trình lao động trong mọi lĩnh vực. Dân số ít cũng không đảm bảo về số lượng
lao động. Nhưng dân số tăng nhanh làm tăng nhân khẩu ăn theo trên một lao
động, tạo ra sức ép lớn về nhu cầu việc làm, thu nhập và thất nghiệp.
- Trình độ khoa học - công nghệ,
Trình độ khoa học - công nghệ, là một trong những nhân tố trung tâm,
yếu của sự phát triển, đổi mới toàn diện, đưa đất nước đi lên từ một nước
nông nghiệp là chủ yếu thành một nước công nghiệp. Để thực hiện được điều
đó chỉ có nguồn nhân lực có ý thức tổ chức, kỷ luật và trình độ chuyên môn
cao. NNL đóng vai trò quyết định nhất trong việc thực hiện các nhiệm vụ của
CNH, HĐH; tiếp cận và triển khai có hiệu quả kỹ thuật và công nghệ mới
vào sản xuất.
Bốn là, nguồn nhân lực là động lực để tiếp cận và phát triển kinh tế tri
thức, là một nền kinh tế gắn liền với công nghệ cao trong đó tri thức được sử
dụng để sản sinh ra lợi tức kinh tế cao, vai trò của nguồn nhân lực chất lượng
cao với tư cách là bộ phận hạt nhân, có ý nghĩa quyết định chất lượng của
tổng thể nguồn nhân lực càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với sự
phát triển
Năm là, nguồn nhân lực là nhân tố thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và tăng thu nhập cho người lao động, Quá trình chuyển đổi lao động trong
chuyển dịch cơ cấu ngành đòi hỏi phải có chất lượng nguồn nhân lực phù
hợp, phụ thuộc rất lớn vào công tác đào tạo nghề cho người lao động. Chất
lượng nguồn nhân lực càng cao càng thúc đẩy nhanh quá trình hình thành và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng hiện đại cả về quy
mô và cường độ
9
Sáu là, nguồn nhân lực cần thiết cho hội nhập kinh tế quốc tế, là một
trong những yếu tố cần thiết cho sự phát triển. Nó tạo cơ hội phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao để tiếp thu, làm chủ, thích nghi, thu hút
được nhiều vốn đầu tư, công nghệ hiện đại và lao động trình độ cao từ bên
ngoài.
Bảy là, nguồn nhân lực góp phần củng cố quốc phòng an ninh, Vấn đề an
ninh, trật tự, chính trị - xã hội ổn định là tiền đề cần thiết cho tiến hành CNH,
HĐH, từng bước đi lên CNXH. Điều đó chỉ có thể thực hiện được khi chúng ta có
được một đội ngũ trí thức có tài năng, có nhiều nhân tài trong mọi lĩnh vực. Việc
quan tâm chăm sóc lực lượng lao động góp phần làm nên sức mạnh dân tộc
Chương 3
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC
CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN
GIAI ĐOẠN 2006 - 2013
3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN
NGUỒN NHÂN LỰC CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THỦ ĐÔ
VIÊNG CHĂN
3.1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên
Viêng Chăn - Thủ đô nước Lào từ năm 1560, có biên giới khoảng 170
km ở phía Nam với Thái Lan là sông Mê kông, phía Đông gần sông Mê
Kông giáp với huyện Tha Pha Bat của tỉnh Bo Li Khăm Xay Viêng Chăn
có diện tích tự nhiên 3.920 km
2
(1,7% diện tích cả nước). Thủ đô có khí hậu
nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, có hai mùa rõ rệt. Mùa mưa (tháng 4 - 10), mùa
khô (tháng 11- 4)…
Thủ đô Viêng Chăn có điều kiện địa lý phù hợp trong việc phát triển kinh
tế của Thủ đô, nhất là trong ngành trồng trọt, chăn nuôi và giao dịch kinh tế trong
cả nước và quốc tế. Điều kiện tự nhiên trên, là rất thuận lợi để thành phố Viêng
Chăn trở thành thành phố đi đầu trong cả nước trong trao đổi hàng hoá, dịch vụ,
tiếp nhận các thành tựu khoa học - kỹ thuật của thế giới.
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Từ 2006 - 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 12,10%/năm,
chiếm 28,05% GDP toàn quốc, bình quân hàng năm GDP tăng 12,17%/năm.
Trong giai đoạn 2011 - 2013 kinh tế Thủ đô tiếp tục tăng trưởng với tốc độ
12,2%, trong đó công nghiệp - xây dựng tăng 15,4% chiếm 45, 3% của
GDP; dịch vụ tăng 9,9% chiếm 34, 2% của GDP và ngành nông nghiệp
tăng 5,6% chiếm 20,1% của GDP, GDP bình quân đầu người theo thực tế
từ 1.759,94 USD/người giai đoạn 2005 - 2010 lên 2.768 USD/người vào
giai đoạn 2011 - 2013.
435.750 người; Đến năm 2013 tăng lên 592.218 người, chiếm 84,9%% tổng
dân số. Trong đó lao động có việc làm là 502.544 người; tỷ lệ thất nghiệp
năm 2010 là 1,52% và xuống 1,33% năm 2013.
Tỷ suất sinh của Thủ đô thời kỳ 2006 - 2010 là 3,85% và 3,7% cho thời
kỳ 2011 - 2013. Cơ cấu dân số khá cân bằng giữa nam và nữ; (nữ 50,1%, tỷ
trọng nữ cả nước 49,4%). Tỷ lệ nam cao hơn tỷ lệ nữ và tuổi thọ tạo ra điều
khác biệt so với cả nước:
Dân số Thủ đô có xu hướng tăng dần qua các năm từ 698.318 người
trong giai đoạn 2001 - 2005, lên 795.160 người giai đoạn 2006 - 2010 và
857.496 người trong giai đoạn 2011 - 2013.
3.2.2. Về chất lượng nguồn nhân lực
Luận án phân tích quy mô, chất lượng NNL cho phát triển kinh tế - xã
hội ở Thủ đô trên các khía cạnh:
Thứ nhất, trình độ học vấn của nguồn nhân lực: Về chuyên môn kỹ thuật
của NNL, năm 2002, lao động đã qua đào tạo là 19,17% và đến năm 2013, lao
động đã qua đào tạo của Thủ đô cũng mới chỉ đạt 27,53% so với tổng số lao
động. Trong đó CNKT có bằng 4,74%; CNKT không có bằng 4,47%; Sơ cấp
1,49%; Trung cấp 6,32 và cao đẳng - đại học 10,51%.
Thứ hai, về chỉ số HDI: Chỉ số HDI của Viêng Chăn từ 0,519 năm 1995
lên 0,687 năm 2005 và 0,692 năm 2010 và 0,698 trong năm 2013. Thu nhập
bình quân đầu người cũng tăng lên từ 953 USD năm 2005 lên 1.755 USD
năm 2010 và 2.768 USD năm 2013;
Thứ ba, về giáo dục và đào tạo: Tỷ lệ trẻ em vào trường mẫu giáo tăng từ
32,4% năm 2005 thành 43,89% năm 2010, đến năm 2013 là 6,20%; Tỷ lệ vào
cấp I tăng từ 94,20% năm 2005 lên 98,68% năm 2010 và 99,77% vào năm
2013; Nhưng tỷ lệ học cấp II giảm xuống từ 85,1% năm 2005 xuống 80,03%
năm 2010. Đến năm 2013 tỷ lệ này tăng 89,83% (nữ 86,98%, nam 92,64%);
Tỉ lệ học sinh cấp III giảm tương đối từ 55,8% năm 2005 xuống còn 55,50%
trong năm 2010; đến năm học 2013 tỉ lệ này là 59,49%.
Tổng số nhân lực trong lĩnh vực giáo dục 5.251 người, nữ 3.015 người.
Thứ năm, về hệ thống quản lý, cơ chế chính sách và điều kiện đảm bảo đào
tạo nguồn nhân lực:
Chính phủ đã chi ngân sách cho giáo dục Thủ đô, bằng 6,51% trong tổng
chi ngân sách giáo dục cả nước. Đi cùng với sự đầu tư của nhà nước, năm 2012
- 2013, chính quyền Thủ đô cùng với các tổ chức, cá nhân nước ngoài cùng đầu
tư vào giáo dục của Thủ đô số vốn 11.259 tỷ kíp, trong đó vốn nước ngoài
29,84% và vốn của Thủ đô là 70,16%.
Thứ sáu, về hệ thống y tế chăm sóc sức khoẻ:
Hiện nay, Thủ đô có 4 bệnh viện lớn nhất thuộc Trung ương và 9 bệnh
viện huyện, 42 trạm y tế, 108 phòng khám tư nhân và 493 hiệu bán thuốc; có
542 bác sĩ (bình quân 6,8 bác sĩ /10 nghìn dân); tỷ lệ này cả nước là 59 bác sĩ
/100 nghìn dân.
Đến năm 2011, "Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi chỉ còn 10/1000
người (toàn quốc là 70/100.000 người); tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi chỉ
còn 20/1000 người (toàn quốc là 98/100.000 người); tỷ suất chết mẹ 25
/100.000 người (toàn quốc 405/10.000 người), tuổi thọ bình quân của dân
Thủ đô là 72 tuổi, và hệ thống cấp nước sạch đáp ứng được 95,87
13
Về trình độ học vấn của nhân lực y Thủ đô Viêng Chăn như sau: Thời kỳ
2001 - 2005 số lượng cán bộ, nhân viên Sở y tế Thủ đô là 475 người (nữ
270), sau đại học 9 người; thạc sĩ 6 người; cao đẳng 95 người; trung cấp 165
người; sơ cấp 202 người.
Thứ bảy, về đội ngũ cán bộ công chức: Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức luôn được Đảng bộ và chính quyền Thủ đô quan tâm đào tạo
văn hoá, chuyên môn, lý luận chính trị trong và nước ngoài. Đào tạo trong
nước: Thạc sĩ 8 người, nữ 2 người; đại học 14 người, nữ 2 người; cao đẳng
492 người, nữ 79 người; trung cấp 215 người, nữ 30; sơ cấp 339 người, nữ
60 người; lý luận chính trị 5 tháng 18 người, nữ 3 người.
Đào tạo ở nước ngoài ở Việt Nam, Trung Quốc, Singapore, Niudilân với
77 lượt người. Trong đó, tiến sĩ 2 người, thạc sĩ 6 người, đại học 8 người và
1,34
231
2,00
335
2,22
Đại học
1.375
17,17
2.372
20,54
4.882
32,37
Cao đẳng
1.245
15,55
2.010
17,41
2.842
18,84
Dưới cao đẳng
5.274
65,87
6.922
59,95
7.007
46,46
Tổng
8.007
100%
11.547
bàn Thủ đô
Để phát triển nguồn nhân lực cao của thủ đô, thành phố Viêng Chăn đã
khuyến khích học sinh vào đào tạo các cơ sở đào tạo đóng trên địa bàn của
mình bằng các chế độ học bổng hấp dẫn. Nhờ đó, năm học 2000-2001 có
13.079 sinh viên, đến năm 2004-2005 là 22.550 và năm học 2012-2013 đã lên
tới 30.200 đến học tập ở các cơ trên, trong đó, trên 50% sinh viên là con em ở
Thủ đô Viêng Chăn
Năm là, bước đầu Thành phố đã có chính sách giáo dục tạo nguồn cho
phát triển nguồn nhân lực
Thủ đô đã coi trọng giáo dục năng khiếu và bồi dưỡng nhân tài, Thành
phố đặt ra kế hoạch:
+ Hình thành và phát triển 01 trường Trung học phổ thông chất lượng cao
cấp Quốc gia (ngoài học sinh là người Thủ đô Viêng Chăn, thu hút các học
sinh giỏi từ các tỉnh trên khắp cả nước về học tập tại trường).
+Nghiên cứu tổ chức các lớp năng khiếu ở các trường Trung học cơ sở
(cấp II) để sớm phát hiện và bồi dưỡng nhân tài.
+ Chú trọng phát triển, mở rộng việc dạy các môn nghệ thuật (kể cả nghệ
thuật dân tộc truyền thống) trong các trường học.
+ Trong hệ thống các trường đại học, ngoài việc đào tạo chương trình đại
học, còn triển khai đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ, góp phần quan trọng
trong việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao.
Sáu là, Thủ đô đã coi trọng hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao
Hợp tác với các nước trong khu vực và một số nước phát triển trên thế
giới để đưa nhân lực nước Lào đi đào tạo hoặc mời chuyên gia đến Lào giảng
dạy; Tận dụng khá hợp lý những hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế và các
nước phát triển dành cho các nước đang phát triển. Đặc biệt, thành phố Viêng
Chăn đã gửi một số lượng đáng kể học sinh và cán bộ đi đào tạo ở Việt Nam
và Liên bang Nga.
Bảy là,, chính đãi ngộ nguồn nhân lực và nhân tài của Thủ đô
dịch vụ 60,83%.
Bảng 3.2: Số lượng và cơ cấu lao động đang hoạt động
trong các ngành kinh tế
TT
Chỉ tiêu
2002
2010
2013
Số lượng
(Người)
Tỷ trọng
(%)
Số lượng
(Người)
Tỷ trọng
(%)
Số lượng
(Người)
Tỷ trọng
(%)
Tổng số
269.321
100,00
350.263
100,00
502.544
100,00
1
Nông nghiệp
88.872
16
người trong năm 2013; Kinh tế hộ gia đình tăng từ 64.787 người năm 2010
lên 100.509 người trong giai đoạn 2013.
- Sử dụng nguồn nhân lực
Thời kỳ 2010 - 2013 dân số Thủ đô là 857.496 người, lao động có việc
làm là 502.544 người, trong đó lao động nông nghiệp là 104.830 người, công
nghiệp - xây dựng là 92.016 người và dịch vụ là 305.698 người. Việc bố trí,
sắp xếp cán bộ công chức Thủ đô gắn với công tác quy hoạch có sự chuyển
biến tích cực và phát huy hiệu quả. Hàng năm, Thủ đô tổ chức rà soát, đánh
giá năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là
cán bộ lãnh đạo, quản lý làm cơ sở cho việc điều chỉnh quy hoạch ở từng cấp.
3.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG
3.3.1. Những kết quả đạt được
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 12,12%, bình quân đầu người 2.768 USD/
người/năm (2011- 2012); đời sống của nhân dân được nâng cao và ổn định;
Kim ngạch xuất khẩu đạt 441.687.031,09 USD
Một là, tốc độ gia tăng dân số phù hợp:
Tốc độ tăng dân số của Thủ đô khá cao, trung bình là 2,37%/năm trong
thời kỳ 1995 - 2000; 2,2%/năm trong thời kỳ 2001 - 2005; 2,4%/năm trong
thời kỳ 2006 - 2010 và 2,7%/năm trong năm 2013.
Tốc độ tăng lên cao hơn cả nước chủ yếu do tăng dân số cơ học. Đây là
thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai.
Hai là, chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao:
Từ năm 2010 đến nay, Đảng bộ và Chính quyền Thủ đô rất chú ý đến
công tác đào tạo, dạy nghề; trình độ chuyên môn kỹ thuật của NNL ở Thủ đô
không ngừng được nâng lên. Trước năm 2010, chất lượng nguồn nhân lực có
CMKT chỉ chiếm dưới 10% lực lượng lao động toàn Thủ đô, thì năm 2013
đã tăng lên 27,53%, tức là tăng 17,53%.
Ba là, sự nghiệp giáo dục có sự chuyển biến tích cực:
Tỉ lệ đến trường của trẻ mẫu giáo đã tăng lên 43,98% năm 2010 và
tạo về tay nghề, nghề nghiệp, trình độ học vấn thấp;
Việc đào tạo còn phân tán, không đồng bộ và không hợp lý về cơ cấu,
trình độ làm cho các huyện ở nông thôn rất thiếu kỹ sư thực hành và nhân
viên kỹ thuật, những người chuyển giao công nghệ kỹ thuật vào sản xuất.
Hệ thống kết cấu hạ tầng như vật chất, máy móc, trang thiết bị dạy nghề
tại các trường dạy nghề còn nhỏ bé, lạc hậu, nhất là phòng nghiên cứu, phòng
thí nghiệm tại một số trường; Bên cạnh đó, việc gắn kết giữa đào tạo với quản
lý sử dụng nguồn nhân lực qua đào tạo và giải quyết việc làm còn hạn chế;
Trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ Thủ đô còn hạn chế giữa kiến
thức lý luận chính trị và kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, và chưa đồng đều
giữa các cấp, các ngành chưa đáp ứng kịp yêu cầu đòi hỏi của nhiệm vụ mới;
Tính chuyên nghiệp; trình độ và năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý
của một số cán bộ chưa ngang tầm yêu cầu của thời kỳ phát triển và tính hội
nhập hiện nay;
Giáo dục mầm non còn gặp nhiều khó khăn ở nhiều nơi, đặc biệt là
vùng nông thôn. Kết quả xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học chất
lượng thấp, chưa vững chắc, tỉ lệ biết chữ của nữ giới một số dân tộc chỉ
khoảng 5%.
- Nguyên nhân của hạn chế
+ Nguyên nhân khách quan:
Kết cấu hạ tầng về kinh tế của Thủ Đô còn lạc hậu, chậm phát triển. Hầu hết
tất cả các nhà máy xí nghiệp của Thủ đô đều là quy mô nhỏ chiếm gần 93% Sản
xuất hàng hoá công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển;
Đầu tư Nhà nước đối với giáo dục của Lào rất thấp chỉ khoảng 11,8% của
tổng số vốn đầu tư. Ngân sách của Nhà nước dành cho giáo dục còn quá thấp là
805,3 tỷ kíp, khoảng 1,48% của GDP; Việc tổ chức quản lý các nguồn vốn thu
vào ngân sách Nhà nước chưa tương xứng với tiềm năng bị khai thác;
Cơ sở vật chất máy móc thiết bị dạy học nhỏ bé, cũ kỹ và lạc hậu, đội ngũ
giáo viên chưa đảm bảo chất lượng, trình độ khoa học - công nghệ và tổ chức
quản lý yếu, công tác tổ chức và cán bộ chưa được quan tâm đúng mức.
cống hiến cho xã hội.
Chuyển sang cơ chế mới cần có cơ chế tuyển dụng, sử dụng nguồn nhân
lực; xoá bỏ cơ chế tuyển dụng theo quyền lực, theo huyết thống; xoá bỏ tác
phong làm việc thụ động, trung bình chủ nghĩa, ít tính toán đến hiệu quả; xoá
bỏ tâm lý tiêu cực trên bằng việc tuyên truyền giáo dục thường xuyên các
yếu tố tích cực
Thứ ba, về thu hút nguồn nhân lực
Cần có chính sách quốc gia và chính sách riêng của Thủ Đô để trọng
dụng, bồi dưỡng, thu hút được nhân tài. Cần có chính sách ưu đãi đối với
những người có trình độ chuyên môn đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực của
Thủ đô, trong từng giai đoạn, tự nguyện đến làm việc tại các cơ quan, đơn vị
thuộc Thủ đô quản lý
19
Chương 4
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẢM BẢO
NGUỒN NHÂN LỰC CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Ở THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN ĐẾN NĂM 2020
4.1. PHƯƠNG HƯỚNG CHỦ YẾU NHẰM ĐẢM BẢO NGUỒN NHÂN LỰC
CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN
4.1.1. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Viêng Chăn
đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Mục tiêu phấn đấu của Thủ đô Viêng Chăn từ năm 2011 - 2020 là: tốc độ
tăng trưởng kinh tế phải đạt cao hơn so với tốc độ tăng trưởng trung bình cả
nước 1,8 lần; GDP/người khoảng 2.750 USD cao gấp hơn mức trung bình của
cả nước 2,7 lần; Tổng lượng vốn đầu tư FDI vào Lào là 34.100 tỷ kíp, ODA là
23.400 tỷ kíp;
Bảng 4.1: Dự kiến tổng sản phẩm và cơ cấu kinh tế Thủ đô Viêng Chăn
đến năm 2030
Đơn vị tính: %
Năm
trẻ sơ sinh cân nặng dưới 2500g xuống còn 5%;
- Nâng tỷ lệ nhập học mầm non đạt trên 80% và xoá mù chữ 100%;
Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50%, đảm bảo 50% học sinh phổ thông
được hướng nghiệp dạy nghề tại các trung tâm;
20
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50%, đảm bảo 50% học sinh phổ thông
được hướng nghiệp dạy nghề tại các trung tâm;
4.1.2. Phương hướng đảm bảo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế-xã hội
4.1.2.1. Đảm bảo nguồn nhân lực gắn với quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội
Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Viêng Chăn cần phải
gắn chặt với quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực
chất lượng cao, để làm động lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Cần phải
chuẩn bị đẩy đủ các điều kiện cần thiết cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản
xuất và kiến trúc thượng tầng. Trong đó, nguồn nhân lực phải đảm bảo về số
lượng, chất lượng và cơ cấu trong mọi lĩnh vực.
4.1.2.2. Phát triển giáo dục đào tạo để đảm bảo nguồn nhân lực đủ số
lượng cơ cấu hợp lý và có chất lượng cao
Cần phải coi rằng, nguồn nhân lực là tài sản lớn nhất của Thủ đô
Viêng Chăn nói riêng và CHDCND Lào nói chung, chứ không phải là vốn
hay máy móc hiện đại, nó chính là con người cùng với tiềm năng trí tuệ mà
họ đang sở hữu.
Chính quyền Thủ đô cần phải chỉ đạo mở rộng quy mô và nâng cao
chất lượng toàn diện trong các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công
nghệ để nâng cao chất lượng toàn diện của nguồn nhân lực.
4.1.2.3. Phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân và giải quyết các
vấn đề xã hội để đảm bảo nguồn nhân lực
Thủ đô Viêng là trung tâm y học, dược học của Lào. Cần quy hoạch
mạng lưới bệnh viện hợp lý, xây dựng các cụm trung tâm chữa bệnh mới ở
khu vực ngoại thành; phát triển mạng lưới y tế dự phòng hiện đại với sự
tham gia tự giác, rộng rãi của người dân; nâng cấp và hiện đại hoá y tế
trình, quy định cụ thể và thống nhất; đảm bảo sự thân thiệt, hợp tác và tin
tưởng lẫn nhau,tạo thử thách trong công việc
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiên cứu khoa học đi lại, hoặc
định cư ở Lào, kể cả việc chấp nhận hai quốc tịch
- Cần coi mặt chất lượng là chính trong các cơ chế, chính sách tuyển
dụng, phân bổ, sử dụng và đãi ngộ phù hợp với đội ngũ người lao động có
trình độ chuyên môn nghề nghiệp
- Cần tạo điều kiện thuận lợi để nguồn nhân lực có cơ hội làm việc, phân
công, bố trí công việc cho đúng người, đúng việc, tạo điều kiện để đội ngũ
này có cơ hội phát huy hết tiềm năng vào phát triển đất nước. Có chế độ sử
dụng, kéo dài thời gian làm việc từ 5 năm, 7 năm, 10 năm đến đối với nhà
giáo, cán bộ quản lý giáo dục có trình độ cao; những người có học vị tiến sĩ,
phó giáo sư, giáo sư.
Có ưu đãi tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục có học vị tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư, có năng lực, đạo đức
nghề nghiệp và hiệu quả công tác.
22
4.2.4. Giải pháp nâng cao thể lực, chất lượng dân số, cải thiện môi
trường sống
Tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, hệ thống các
chính sách bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân. Hạ thấp tỷ
lệ trẻ em suy dinh dưỡng.
Cần rà soát lại trong việc xây dựng chiến lược dân số - kế hoạch hoá gia
đình một cách cụ thể hơn, thực hiện tốt chương trình dân số, duy trì mức
giảm sinh con thứ 4 để đảm bảo quy mô dân số ổn định.
Ngăn chặn tận gốc tình trạng các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường,
trước hết là nguồn nước và không khí đồng thời, cần đầu tư cho việc xử lý
các chất thải làm ô nhiễm môi trường, tạo lập môi trường sạch sẽ để nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực.
4.2.5. Giải pháp mở rộng hợp tác quốc tế phát triển nguồn nhân lực
lao động; Đó là tổng hợp thể lực, trí lực, tâm lực… của một bộ phận lực
lượng lao động xã hội hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng
để tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa
phương nào đó.
2. Tiêu chí để đánh giá nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội
bao gồm: Tiêu chí đánh giá về số lượng và cơ cấu; chất lượng; kết quả đào
tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực; kết quả thu hút, sử dụng và trọng dụng
nguồn nhân lực. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực. Song yếu
tố ảnh hưởng trực tiếp, toàn diện nhất đó là yếu tố đào tạo và sử dụng nguồn
nhân lực.
3. Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội
như: quyết định tăng trưởng kinh tế; quyết định sự phát triển lực lượng sản
xuất; là điều kiện quyết định sự thành công của CNH, HĐH đất nước; là
động lực để tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức; là nhân tố thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và tăng thu nhập cho người lao động; là động lực để hội
nhập kinh tế quốc tế; góp phần củng cố quốc phòng an ninh. Do vậy, nguồn
nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở CHDCND Lào nói chung, Thủ đô
Viêng Chăn nói riêng trở nên cần thiết khách quan.
4. Kinh nghiệm đảm bảo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội
của một số quốc gia đã để lại những bài học kinh nghiệm bổ ích nhằm đảm