Đề tài phát triển loại hình du lịch văn hóa minh họa tại hội an - Pdf 18

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA DU LỊCH

ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Đề tài:
PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA
MINH HỌA TẠI HỘI AN Giáo viên hướng dẫn : Ths. Nguyễn Thị Hải Đường
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Lệ Thu
Lớp : 36K03.1
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Ths. NGUYỄN THỊ HẢI ĐƯỜNG
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013
Đề tài :
PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA- MINH HỌA TẠI
HỘI AN
SVTH: Nguyễn Thị Lệ Thu
Lớp 36k03.1,Khoa Du lịch, Trường Đại học Kinh Tế, Đại học Đà Nẵng
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hải Đường
Khoa Du lịch, Trường Đại học Kinh Tế, Đại học Đà Nẵng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây Việt Nam chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa - hiện đại hóa. Sự nghiệp đổi mới sẽ có bước phát triển mạnh hơn
nhằm đưa nền kinh tế Việt Nam từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành một
nước công nghiệp, có nền kinh tế hiện đại với cơ cấu nông nghiệp – công nghiệp
– dịch vụ hợp lý, trong đó công nghiệp và dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn
trong nền kinh tế quốc dân. Với đặc điểm là một ngành kinh tế tổng hợp mang
tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, với hiệu quả nhiều mặt lại được xác

VĂN HÓA
CHƯƠNG 2 LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA
CHƯƠNG 3. PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA – MINH HỌA TẠI HỘI AN
BÀI LÀM
CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM HÀNH VI TIÊU DÙNG CỦA KHÁCH DU LỊCH
VĂN HÓA
1.1.Khái niệm và phân loại khách du lịch
1.1.1 Khái niệm khách du lịch
• Theo luật Du lịch Việt Nam( số 44/2005), khái niệm khách du lịch :
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi
học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
1.1.2 Phân loại khách du lịch
• Theo quốc tịch và khu vực địa lý: Theo Tổ chức Du lịch Thế giới năm 1995
SVTH: NGUYỄN THỊ LỆ THU Page 3
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Ths. NGUYỄN THỊ HẢI ĐƯỜNG
đã đưa ra các khái niệm về Khách du lịch để thống nhất chuẩn thống kê cho
các nước:
Khách du lịch quốc tế (International tourist): Là tất cả những người nước
ngoài hoặc những người định cư ở nước ngoài đến một quốc gia nào đó và
những người đang định cư tại một quốc gia nào đó đi ra nước ngoài với mọi
mục đích khác nhau trừ mục đích lao động kiếm tiền trong khoảng thời gian
lớn hơn 24 giờ đồng hồ hoặc sử dụng ít nhất một tối trọ nhưng phải nhỏ hơn
365 ngày.
Khách du lịch quốc tế bao gồm hai loại: Khách quốc tế chủ động (Inbound
tourist) là lượng khách vào một nước; và Khách quốc tế thụ động (Outbound
tourist) là lượng khách của một nước ra nước ngoài.
Khách du lịch nội địa (Internal tourist): Là tất cả những người đang định cư
trên lãnh thổ của một quốc gia nào đó, đi đến một nơi khác trong quốc gia đó
không quá 12 tháng, với mọi mục đích trừ lao động kiếm tiền.

việc, tìm kiếm bạn hàng, đối tác, tham gia các hội chợ triển lãm, tham dự các
hội nghị, hội thảo . Nơi đến của loại khách này thường là các thành phố lớn,
thủ đô, các trung tâm thương mại . Họ là các thương nhân, thương gia nên có
khả năng thanh toán rất cao, có đòi hỏi rất lớn đặc biệt là đòi hỏi về độ an toàn
rất cao.
Khách du lịch với mục đích nghỉ ngơi giải trí: Chủ yếu khách muốn nghỉ
ngơi thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng, tránh những ồn ào, bụi bặm
nơi đô thị, họ muốn tìm đến những nơi thanh bình, yên tĩnh, có không khí
trong lành, mát mẻ. Nên tránh những phiền toái thường xảy ra trong chuyến
đi.
Khách du lịch với mục đích khám phá, tìm hiểu văn hóa: chủ yếu khách là
những người muốn được nâng cao vốn kiến thức của bản thân, muốn được
thâm nhập vào nền văn hóa của nơi đến. Họ muốn được tự do khám phá,
chiêm nghiệm, đòi hỏi tính độc đáo, và đặc sắc ở điểm đến.
Khách du lịch thể thao: Bao gồm các vận động viên, cổ động viên. Đây là
loại hình du lịch xuất hiện để đáp ứng lòng ham mê các hoạt động thể thao
như: Bóng đá, bóng rổ, các môn thể thao khác . Dòng khách thường đổ về
những nơi có các sự kiện thể thao đặc biệt. Vì vậy, các nhà kinh doanh du lịch
rất nên chú trọng đến các sự kiện thể thao để có kế hoạch thu hút tốt nhất số
lượng khách về với doanh nghiệp mình.
• Theo giới tính: khách du lịch nam và khách du lịch nữ.
1.1.3 Khách du lịch văn hóa
1.1.3.1 Khái niệm khách du lịch văn hóa
Khách du lịch văn hóa là những người đi du lịch nhằm mục đích nâng cao
hiểu biết cho cá nhân về mọi lĩnh vực như: lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa,
chế độ xã hội, cuộc sống của người dân cùng các phong tục tập quán của đất
nước du lịch
1.1.3.2 Đối tượng khách du lịch văn hóa
Đối tượng khách tương đối rộng rãi, có thể là các nhà khoa học, các nhà
nghiên cứu, cũng có thể là học sinh, sinh viên thậm chí là khách du lịch bình

phương nơi khách viếng thăm.
1.3.Hành vi tiêu dùng của khách du lịch vì mục đích văn hóa
1.3.1. Khái niệm hành vi tiêu dùng của khách du lịch văn hóa
Khách du lịch văn hóa là người tiêu dùng du lịch với mục đích chính là tham
quan nghiên cứu, khám phá tài nguyên văn hóa, tìm hiểu nền văn hóa nước sở tại,
có ý thức và trách nhiệm về giữ gìn, bảo tồn và phát triển, có trách nhiệm đối với
cộng đồng dân cư bản địa.
1.3.2. Nhân tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng của khách du lịch văn hóa
• Nhóm nhân tố văn hóa
Nền văn hóa
Văn hóa ấn định những điều cơ bản về giá trị và sự thụ cảm,
sự ưa thích về các tài nguyên du lịch, điểm đến du lịch và các
dịch vụ, hàng hóa cho việc thỏa mãn các nhu cầu khi đi du lịch.
Văn hóa là nguyên nhân cơ bản, đầu tiên dẫn dắt hành vi của
SVTH: NGUYỄN THỊ LỆ THU Page 6
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Ths. NGUYỄN THỊ HẢI ĐƯỜNG
con người nói chung và hành vi tiêu dùng nói riêng. Cách ăn,
mặc, giao tiếp, sự cảm nhận giá trị của d ịch v ụ du l ịch, thể hiện
bản thân qua tiêu dùng… đều bị chi phối bởi văn hóa
Đặc biệt trong tiêu dùng du lịch, văn hóa có điều kiện thuận
lợi để phát huy các chức năng giáo dục, chức năng nhận thức,
chức năng giải trí, thẩm mỹ.
Nhánh văn hóa
Nhánh văn hóa là những bộ phận nhỏ hơn trong nền văn hóa.
Nếu nền văn hóa là được ví như một mạch chung, thì nhánh văn
hóa lại tạo ra sự đa dạng cho mạch chung đó. Nói cách khác,
nhánh văn hóa là những yếu tố đa dạng thường gặp trong một nền
văn hóa hay những bộ phận nhỏ hơn của văn hóa.
Nhánh văn hóa được hình thành do những khác biệt về nơi cư
trú, dân tộc, tín ngưỡng, nghề nghiệp, học vấn… của một cộng

Bản thân văn hóa cũng luôn có nhu cầu, giao lưu, trao đổi,
hội nhập và xu hướng tự làm mới mình, nhưng không bao giờ
được đánh mất bản sắc riêng do bạn bè đến với chúng ta chính
vì họ muốn tìm hiểu, khám phá những nét văn hóa đặc trưng
của dân tộc ta chứ không phải đến để xem chúng ta học được
ở họ những gì và bắt chước họ đến đâu. Một dân tộc nếu đánh
mất bản sắc văn hóa của mình cũng có nghĩa là đánh mất tất
cả.
Thế nhưng, mọi mô thức văn hóa du nhập từ bên ngoài vào
(ngoại lai) không phải tất cả đều được thừa nhận và phát huy
hiệu quả ngay như là những yếu tố đã được tích tụ hàng ngàn
năm (nội sinh). Các mô thức văn hóa ngoại nhập nếu không
được nội hóa thì khó có thể tồn tại trên vùng đất mới.
Do tác động của hội nhập văn hóa và biến đổi văn hóa mà
có thể tạo ra cơ hội cho sản phẩm du lịch này nhưng lại là
thảm họa cho sản phẩm du lịch khác. Đồng thời cũng ảnh
hưởng tới hành vi tiêu dùng của khách du lịch.
• Nhóm nhân tố xã hội
Nhóm nhân tố này ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đi du lịch và nhu
cầu giao tiếp
Giai tầng xã hội
Cơ sở phân chia và sắp xếp các thành viên của một xã hội
thành các giai tầng: không chỉ dựa vào tài sản sở hữu mà còn dựa
trên trình độ học vấn, nghề nghiệp, địa vị xã hội, truyền thống gia
đình, văn hóa và tính tích cực chính trị của họ.
Mối quan hệ giữa giai tầng xã hội với hành vi người tiêu dùng
của khách du lịch là: Những người có chung một giai tầng xã hội
có khuynh hướng hành vi tiêu dùng giống nhau trước những tập
hợp kích thích Marketing.
Nhóm tham khảo

định nơi đến, quyết định chi phí cho chuyến đi, dịch vụ tham
quan, mua sắm…
Nghề nghiệp
Nghề nghiệp có ảnh hưởng quan trọng đến tính chất sản phẩm
du lịch mà người tiêu dùng lựa chọn trong quá trình ra quyết
định. Sự lựa chọn , khách sạn, nhà hàng, món ăn, hình thức giải
trí cũng sẽ khác nhau với nghề nghiệp của mỗi người. Doanh
nghiệp có thể chuyên môn hóa phục vụ cho nhóm nghề.
Tình trạng kinh tế
Thực hiện chuyến du lịch của cá nhân phụ thuộc rất lớn vào
khả năng tài chính và hệ thống giá cả của sản phẩm du lịch. Tình
trạng kinh tế bao gồm : thu nhập, phần tiết kiệm, khả năng đi vay,
quan điểm về chi tiêu….
Lối sống
Phong cách sống chứa đựng toàn bộ cấu trúc hành vi, được thể
hiện qua quan điểm, sự quan tâm, và hành động của cá nhân trong
môi trường sống. Lối sống có liên quan chặt chẽ tới nguồn gốc xã
hội, gia đình, văn hóa nghề nghiệp. Lối sống thay đổi hành vi tiêu
dùng cũng thay đổi theo.
- Lối sống có liên quan đến việc người tiêu dùng du lịch sẽ mua
sản phẩm du lịch nào và cách ứng xữ của họ đối với sản phẩm du
lịch đó.
Tính cách
Tính cách là sự kết hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân. Tính
cách quy định cách thức hành động và thái độ ứng xữ của cá nhân
SVTH: NGUYỄN THỊ LỆ THU Page 9
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Ths. NGUYỄN THỊ HẢI ĐƯỜNG
trong các mối quan hệ với hiện thực.
• Nhóm nhân tố tâm lý
Nhóm yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu đi du lịch của khách

có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp
chung theo một mức giá nào đó”.
2.1.2 Phân loại các loại hình du lịch
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch:
Loại hình du lịch quốc tế (du lịch quốc tế chủ động và du lịch quốc tế thụ
động) và du lịch nội địa.
Căn cứ vào nhu cầu nảy sinh hoạt động du lịch:
Du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ ngơi, giải trí; du lịch thể thao; du lịch văn hóa,
du lịch công vụ, du lịch tôn giáo, du lịch thăm thân, du lịch quá cảnh, du lịch
SVTH: NGUYỄN THỊ LỆ THU Page 10
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Ths. NGUYỄN THỊ HẢI ĐƯỜNG
hoài niệm.
Căn cứ vào đối tượng khách du lịch:
Du lịch thanh - thiếu niên, du lịch dành cho những người cao tuổi, du lịch phụ
nữ, du lịch gia đình.
Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi:
Du lịch theo chương trình trọn gói, du lịch tự tổ chức.
Căn cứ vào phương tiện giao thông được sử dụng:
Du lịch bằng xe ô tô, du lịch bằng xe máy,du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng tàu
hỏa, du lịch bằng tàu thủy, du lịch bằng máy bay.
Căn cứ vào thời gian đi du lịch:
Du lịch dài ngày, du lịch cuối tuần, tham quan du lịch trong ngày
Căn cứ vào nơi tham quan:
Du lịch nghỉ núi, du lịch nghỉ biển, sông, hồ, du lịch thành phố, du lịch nông
thôn
2.2 Loại hình du lịch văn hóa
2.2.1 Khái niệm du lịch văn hóa
Xu thế quốc tế hoá trong sinh hoạt văn hoá giữa cộng đồng và các dân tộc
trên thế giới được mở rộng, dẫn tới việc giao lưu văn hoá, tìm kiếm những kiến
thức về nền văn hoá nhân loại, về những miền đất lạ đã trở thành một nhu cầu

Để phát triển du lịch không một quốc gia nào trên thế giới lại không coi
trọng sự phát triển của du lịch văn hoá, bởi vì du lịch văn hoá
là một loại hình dulịch có nhiều ưuđiểm: ít chịu phụ thuộc vào thời tiết, có thể
phát triển quanh năm nguồn thu từ du lịch văn hoá là nguồn thu ổn định, với
mức tăng trưởng ngày càng lớn,nó giúp con người hiểu biết sâu sắc về thế giới
xung quanh,
Điều đó rất phù hợp với xu thế của thời đại ngày nay: xã hội phát triển, nhu
cầu mang sự hiểu biết của con người ngày càng cao,
đilại du lịch trở thành một nhu cầu cần thiết trong cuộc sống. Nhưng không
phải tất cả các quốc gia đều có thể phát triển du lịch văn hoá, du lịch văn hoá
chỉ phát triển ở những nước có nền văn hiến lâu đời, có nghệ thuật dân tộc đặc
sắc, có những cảnh quan
làm say đắm lòng người. Nếu như Ai Cập không có Kim Tự Tháp khổng lồ,
Hy Lạp
không có những đền đầy nguy nga tráng lệ thì mỗi năm không thể có hàng
chục triệu lượt khách đến du lịch ở nước này.
Du lịch không thể tự mình phát triển được nếu không dựa vào một nền
tảng văn hoá và ngược lại nhờ có du lịch mà các dân tộc hiểu biết được những
thành tựu rực rỡ của nền văn hoá nhân loại tạo ra sự cần thiết xích lại gần nhau
giữa các nền văn hoá làm cho các dân tộc ngày càng hiểu nhau hơn.
Du lịch văn hóa là một trong những thế mạnh của du lịch nước ta.
Tuy nhiên loại hình này muốn phát triển thì phải kết hợp với các loại hình du
lịch khác như: du lịch biển, du lịch giải trí
2.3.2 Vai trò và ý nghĩa của du lịch văn hóa
Vai trò và ý nghĩa của du lịch văn hoá đối với một địa phương, một đất nước là
hết sức quan trọng, được thể hiện như sau:
- Văn hóa giải quyết vấn đề bảo tồn và phát huy môi trường du lịch
Trong tất cả các loại hình du lịch thì du lịch văn hóa là một hình thức du
lịch mang lại nhiều lợi ích cho môi trường du lịch nhất. Chúng ta hãy
xem lại nguyên lý cơ bản về du lịch văn hóa hiện nay của châu Âu để

quyết định quay trở lại Việt Nam vì những cuốn hút về mặt văn hóa.
Hình ảnh Việt Nam cũng sẽ đẹp hơn trong mắt du khách thông qua
những ấn tượng về mặt văn hóa. Khách du lịch sẽ khó quên những
khoảnh khắc được thưởng thức và hòa mình vào trong sinh hoạt văn
hóa cồng chiêng, kỷ niệm những đêm ngủ tại ngôi nhà lá ở vùng sông
nước Mekong(Tour homestay), những giây phút được dạo quanh thành
phố bằng xe xích lô, hay được đón tiếp bằng một thái độ, lịch sự, chân
thật của cô tiếp tân, anh hướng dẫn viên…Chính những nét văn hóa này
sẽ góp phần quan trọng làm tăng thêm hình ảnh thương hiệu du lịch
Việt Nam. Hình ảnh thương hiệu du lịch quốc gia sẽ đẹp và ấn tượng
hơn trong lòng du khách vì nhân tố văn hóa chứ không phải chỉ vì cơ sở
vật chất hay một logo du lịch đẹp.
2.3.3 Điều kiện để phát triển loại hình du lịch văn hóa
2.3.3.1 Điều kiện về an ninh chính trị,an toàn:
• Điều kiện về an ninh , chính trị,an toàn:
SVTH: NGUYỄN THỊ LỆ THU Page 13
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Ths. NGUYỄN THỊ HẢI ĐƯỜNG
Tình hình chính trị hòa bình, ổn định là tiền đề cho sự phát triển của đời
sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của một đất nước. Một quốc gia mặc
dù có nhiều tài nguyên về du lịch cũng không thể phát triển được du lịch
nếu như ở đó luôn xảy ra những sự kiện hoặc thiên tai làm xấu đi tình hình
chính trị và hòa bình ( vì không có điều kiện để phát triển kinh doanh du
lịch và cũng không thu hút được khách du lịch).
Để du lịch không ngừng phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
của đất nước, sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh với các
hoạt động du lịch cũng như các ngành kinh tế khác có ý nghĩa cực kì quan
trọng. Sự bảo đảm vững chắc về quốc phòng, an ninh tạo môi trường ổn
định cho đất nước và khách tới tham quan.
Du lịch, bên cạnh việc nghỉ ngơi là “thẩm nhận những giá trị vật chất,
tinh thần độc đáo, khác lạ với quê hương mình” Điều này đòi hỏi sự giao

tạo nên sự thành bại của ngành du lịch
2.3.3.2 Điều kiện về kinh tế:
Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển
du lịch là điều kiện kinh tế chung. Nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự
ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch.
- Sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm có ý nghĩa quan
trọng với phát triển du lịch
- Điều kiện kiện kinh tế đóng vai trò góp phần cung cấp các hàng hóa, dịch
vụ cho du lịch
2.3.3.3 Điều kiện văn hóa:
• Về phía khách du lịch:
- Trình độ văn hoá cao tạo điều kiện cho việc phát triển loại hình du
lịch văn hóa. Phần lớn sử những người tham gia vào cuộc hành
trình du lịch văn hóa là những người có trình độ văn hoá nhất định,
nhất là những người khách du lịch nước ngoài. Bởi vì họ có sở
thích đối với việc tìm hiểu các danh lam thắng cảnh, di tích lịch,
bản sắc văn hoá dân tộc hay nói đúng hơn tài nguyên, điểm du lịch
tác động đến họ theo một quá trình: Thông tin - Tiếp xúc -Nhận
thức - Đánh giá.
- Phải có trình độ văn hoá thì mới hiểu hết giá trị của chuyến tham
quan du lịch. Trong các nước mà nhân dân có trình độ văn hoá cao
thì số người đi du lịch ra ngoài tăng lên không ngừng với cường độ
cao.
• Về phía nước sở tại :
- Việc phát triển du lịch phải mang dấu ấn của con người, tức là con
người thông qua trí tuệ của mình đưa ra những biện pháp, cách thức
để phát triển du lịch. Một quốc gia giàu có về tài nguyên du lịch
nhưng nếu không biết sử dụng trí óc của con người để phát huy hết
giá trị của tài nguyên đó thì coi như “muối bỏ bể”. Ngược lại có
những quốc gia nghèo về tài nguyên du lịch nhưng biết phát huy

“Di tích lịch sử văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ
vật, tài liệu và các tác phẫm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật,
cũng như có gía trị văn hoá khác, hoặc liên quan đến sự kiện lịch sử,
quá trính phát triển văn háo xã hội”
 Tháng 12.1999, tổ chức UNESCO đã ghi tên đô thị cổ Hội An
vào danh mục Di sản văn Hóa Thế giới- đây được coi là tiềm
năng lớn nhất và quan trọng nhất, để phát triển du lịch văn hóa
Hội An.
- Di tích Hội An bao gồm chùa cầu, nhà cổ, Hội quán, bảo tàng, nhà
thờ họ… hầu hết xây dựng vào thế kỷ 19, 20. Các ngôi nhà cổ kiểu
nhà ống có mặt tiền hẹp, có khi thông hai phố, chiều cao không quá
2 tầng, tường bao bọc bằng gạch, phía trong là ván gỗ. Kiến trúc
các công trình đều có dạng dốc, lợp ngói âm dương, kiểu dáng và
trang trí nội thất bảo tồn phong cách cổ của cư dân người Việt, ảnh
hưởng từ Nhật và người Hoa
- Chùa Cầu là viên ngọc giữa lòng thị xã, tuy nhỏ bé nhưng chứa
đựng nhiều thăng trầm dưới mái ngói âm dương huyền bí. Cầu xây
dựng vào cuối thế kỷ 16 và được gọi là cầu Nhật Bản. Năm 1719,
khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên đi ngang đây, ông đã đặt cho cầu ba
chữ Lai Viễn Kiều. Ở giữa cầu có một ngôi miếu nhỏ thờ Huyền
Thiên Đại Đế, thời xưa, hai bên cầu là nơi mua bán sầm uất.
- Nhà cổ 77 Trần Phú: ngôi nhà hình ống điển hình, giữa sân nhà có
SVTH: NGUYỄN THỊ LỆ THU Page 16
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Ths. NGUYỄN THỊ HẢI ĐƯỜNG
các vách gỗ bao quanh được chạm khắc sống động.
Nhà cổ số 80 Nguyễn Thái Học là tiệm thuốc Bắc Diệp Đồng
Nguyên, chủ nhà có một bộ sưu tập gốm cổ có giá trị.
- Nhà cổ 101 Nguyễn Thái Học, phòng khách là một công trình chạm
trổ tinh vi. Ở trần có vỏ cua có trang trí hình hai bao kiếm vắt chéo
rất lạ mắt.

một căn nhà cổ đẹp được trùng tu với sự đóng góp của đại học Chiêu
Hoà, Nhật Bản. Nơi đây trưng bày những cổ vật vớt lên từ năm 1993
trong chiếc tàu chìm từ 400 năm trước ngoài biển Hội An. Con tàu
SVTH: NGUYỄN THỊ LỆ THU Page 17
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Ths. NGUYỄN THỊ HẢI ĐƯỜNG
này chở gốm Việt Nam xuất khẩu, gốm Chu Đậu.
- Nhà trưng bày văn hóa Sa Huỳnh, có những hiện vật cổ như chum
gốm chôn tro người chết, nữ trang, vũ khí…
Tài nguyên văn hóa phi vật thể:
• Lễ hội:
Bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào, và bất cứ mùa nào cũng có
những ngày lễ hội. Lễ hội là hoạt động sinh hoạt văn hoá cộng đồng
diễn ra trên địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định
nhằm nhắc lại những sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử hay một huyền
thoại, đồng thời là dịp để hiểu biết cách ứng xử văn hoá của con người
với thiên nhiên thần thánh và con người với xã hội. Các lễ hội có sứa
hấp dẫn du khách không kém gì các di tích lịch sự văn hoá. Lễ hội có
hai phần: phần nghĩ lễ và phần hôị:
- Lễ là những nghi thức tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất
định mang ý nghĩa biểu trưng nhằm đánh dâú hoặc kỷ niệm về một
nhân vật hay một sự kiện lịch sử hay một huyền thoại với mục đích tôn
vinh và phản ánh ước nguyện mong muốn nhận được sự giúp đỡ từ đối
tượng thờ cúng.
- Hội là nơi tổ chức các hoạt động vui chơi giãi trí hiện đại mang sắc
thái dân gian phản ánh trình độ phát triển xã hội thời thời đó, phản ánh
đời sống kinh tế, trình độ dân trí và tâm tư tình cảm của người dân địa
phương.
Nhà nghiên cứu M.Bachie cho rằng: “Thực chất lễ hội là cuộc sống
được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò diễn, đó là cuộc sống lao động
và chiến đấu của cộng đồng dân cư, tuy nhiên bản thân cuộc sống

• Làng nghề truyền thống
Là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cư dân, chủ yếu chủ yếu ở
các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn có chung truyền thống sản
xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại. Làng nghề thường mang
tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ có tính chất kinh
tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch tại địa phương.
Theo thống kê cho thấy, Việt Nam còn có gần 2.000 làng nghề thuộc
các nhóm nghề chính như: sơn mài, gốm sứ,vàng bạc, thêu ren, mây tre
đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá
Một số làng nghề nổi tiếng như: Làng sơn mài Cát Đằng (ý Yến, Nam
Định), làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội), làng tranh Đông Hồ
(Thuận Thành, Bắc Ninh), làng đá mỹ nghệ Non Nước (Ngũ Hành Sơn,
Đà Nẵng), làng lụa Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội)
 Hội An nổi tiếng với các làng nghề truyền thống:
- Làng gốm Thanh Hà-điểm du lịch độc đáo của Phố Hội. Với tuổi đời
trên 500 năm, làng gốm Thanh Hà (Hội An - Quảng Nam) thu hút rất
nhiều khách tham quan bởi những sản phẩm gốm tinh xảo, đặc sắc.
- Làng Kim Bồng (tên cũ là Kim Bồng Châu, nay một phần lớn thuộc
xã Cấm Kim thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam), nơi hình thành
nghề thủ công nổi tiếng mang tên nghề mộc Kim Bồng, nằm ở hữu
SVTH: NGUYỄN THỊ LỆ THU Page 19
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Ths. NGUYỄN THỊ HẢI ĐƯỜNG
ngạn hạ lưu sông Thu Bồn chảy qua Hội An trước khi đổ ra biển. Từ
làng nhìn qua bên kia sông là khu phố cổ Hội An. Đây là một vị trí
thuận lợi vừa không cách xa trung tâm đô thị, vừa dễ dàng trong việc
giao thông - vận chuyển vật liệu bằng đường thủy để phát triển ngành
nghề.
- Làng rau truyền thống Trà Quế thuộc xã Cẩm Hà, thị xã Hội An
(Quảng Nam).Rau xanh Trà Quế nổi tiếng từ rất lâu với nhiều sản
phẩm rau được trồng trên đất đai màu mỡ, bón bằng loại rong lấy từ

chất, còn chất lượng thực sự của bữa ăn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.
Một cách trang trí bàn ăn độc đáo, một bức tranh trên tường phù hợp,
SVTH: NGUYỄN THỊ LỆ THU Page 20
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Ths. NGUYỄN THỊ HẢI ĐƯỜNG
bộ khăn trải bàn mang từ miền đất xa xôi đi cùng với bộ đồ ăn lạ
mắt…. Tất cả đều mang theo mình một câu chuyện, ẩn chứa một sự tò
mò thú vị cho khách. Với người Pháp, việc mời một người khách tới là
“chịu trách nhiệm về hạnh phúc của họ trong một thời gian dưới mái
nhà của mình”. Một bữa ăn truyền thống của người Pháp được sắp đặt
như một bản giao hưởng hay vở kịch có 5 màn gồm: món nguội nhấm
nháp, món nhẹ đầu bữa, món chính thường là thịt và cá, tiếp đến là pho
mát và sau cùng là món tráng miệng. Theo triết lý của người Pháp:
“bữa ăn là điều duy nhất mà ta không cảm thấy tẻ nhạt ngay từ lúc
đầu”
Ngày nay, việc đưa văn hóa ẩm thực vào các chương trình du lịch
đã trở nên phổ biến. Đó là cách để lấy tiền của du khách một cách khéo
léo nhất. Việc xây dựng các chương trình du lịch ẩm thực thường được
các công ty tổ chức thành 2 lọai: Chương trình du lịch chuyên biệt và
chương trình du lịch kết hợp.
Đến Việt Nam, du khách có thể thưởng thức các hương vị ẩm thực
khác nhau của mỗi vùng, mỗi miền. Du khách có thể thưởng thức món
phở với loại nước dùng bác học, chả cá Lã vọng (Hà Nội); thưởng thức
cơm vua ở cố đô Huế; Bò tái cầu mống ở Quảng Nam; Giang nam dã
hạc (miền Nam)… Tất cả đều tạo hướng đi mới cho ngành du lịch trong
việc tạo ra nhiều sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo phục vụ khách du
lịch.
 Ẩm thực truyền thống ở Hội An mang những nét riêng biệt thể hiện ở sản vật
và hương liệu sẵn có. Những loại hải sản như tôm, cua, cá và đặc biệt là sự
đa dạng của các loại rau sống chiếm ưu thế trong ẩm thực địa phương. Đặc
sản Cao Lầu Một số món ăn truyền thống có nguồn gốc ngoại lai như: bánh

• Cơ sở phục vụ dịch vụ ăn uống:
- Cùng với dịch vụ lưu trú thì du lịch không thể tách rời dịch vụ ăn
uống. Đây cũng chính là những điều kiện đủ để phát triển du lịch nói
chung và du lịch văn hóa nói riêng.
 Hội An có nhiều nhà hàng, quán ăn chủ yếu phục vụ khách Tây tập trung ở
khu phố cổ Trần Phú, Bạch Đằng… Đường Trần Phú là con đường tập trung
quán bán cao lầu- món đặc sản của Phố Hội.
• Nguồn lao động:
- Nguồn nhân lực du lịch có chất lượng cao là yếu tố cực kỳ quan
trọng để đạt năng lực cạnh tranh cao của điểm đến du lịch nói chung
và mỗi doanh nghiệp nói riêng.
Hiện nay nguồn nhân lực du lịch đang phát triển mạnh mẽ về cả
số lượng và nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc của lực lượng
lao động trong ngành du lịch đang ngày càng nâng cao, bao gồm: lao
động thuộc các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và các đơn vị sự
nghiệp trong ngành từ trung ương đến địa phương, lao động trong
các doanh nghiệp du lịch gồm đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh,
đội ngũ lao động nghiệp vụ trong các khách sạn - nhà hàng, công ty
lữ hành, vận chuyển du lịch , lao động làm công tác đào tạo du lịch
trong các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại
học.
 Lực lượng trong ngành du lịch tại Hội An rất trẻ, 93% có độ tuổi dưới 45,
được đào tạo chuyên môn và ngoại ngữ, có thể đáp ứng yêu cầu lao động
SVTH: NGUYỄN THỊ LỆ THU Page 22
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Ths. NGUYỄN THỊ HẢI ĐƯỜNG
hiện tại, trong đó số lượng lao động được đào tạo chuyên môn cao từ đại học
đến sau đại học cũng đạt được tiêu chuẩn nhất định 42%. Ngoài ra còn có đội
ngũ lao động đến từ các địa phương khác và nước ngoài.
Ngoài những di sản vật thể, cộng đồng Hội An còn bảo tồn, lưu giữ
những vốn cổ trong cuộc sống, hoạt động văn hóa, phong tục tập quán, tín

SVTH: NGUYỄN THỊ LỆ THU Page 23
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Ths. NGUYỄN THỊ HẢI ĐƯỜNG
không lành mạnh.
3.2.2 Tích cực huy động các nguồn lực cho phát triển du lịch văn hóa:
Khuyến khích huy động vốn đầu tư của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân,
các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực du lịch nói chung và
du lịch văn hóa nói riêng . Thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư theo quy định
của Chính phủ đối với các hoạt động kinh doanh du lịch và đối với vùng đặc
biệt khó khăn.
3.2.3 Đa dạng hóa sản phẩm du lịch văn hóa
Phát huy thế mạnh về tài nguyên du lịch văn hoá, lịch sử đồng thời kết hợp
các sản phẩm du lịch khác như nghỉ dưỡng biển; phát triển một số loại hình
du lịch khác như: du lịch sinh thái; du lịch cộng đồng, du lịch tìm hiểu đời
sống các dân tộc; du lịch hội nghị; du lịch mua sắm và vui chơi giải trí cao
cấp; du lịch thể thao: lặn biển, lướt sóng, đua thuyền buồm, chơi golf ; du
lịch caraval.
3.2.4 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Mục tiêu: xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhân viên du lịch có trình độ
và kỹ năng nghiệp vụ, phẩm chất vững vàng, cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu
cầu phát triển của ngành trong tiến trình hội nhập du lịch khu vực và quốc
tế. Phát triển khoa học công nghệ du lịch đạt trình độ trong khu vực, góp
phần nâng cao hiệu lực quản lý và hiệu quả kinh doanh du lịch.
Để thực hiện mục tiêu trên cần:
Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực.
Hình thành hệ thống các cơ sở đào tạo du lịch, phân bố hợp lý, ở các cấp
nghề, trung cấp,cao đẳng , đại học và trên đại học về du lịch.
Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo đội ngũ
lao động trong du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng
Đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hiện có
kết hợp với đào tạo mới cả trong và ngoài nước; kết hợp đào tạo mới để đáp

thuộc địa bàn khu vực miền Trung - Tây Nguyên (Huế, Đà Nẵng, Nha
Trang, Đà Lạt) và hai trung tâm du lịch lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh. Mở rộng thị trường các nước châu Âu, Bắc Mỹ, Đông Nam Á. Tận
dụng tối đa lợi thế cửa khẩu quốc tế và tuyến du lịch hành lang Đông Tây để
phát triển thị trường khách quốc tế đến từ Thái Lan, Myanma và thị trường
khách quốc tế từ các nước khác thông qua Thái Lan nối tour sang Việt Nam
3.2.7 Tăng cường công tác tuyên truyền, xúc tiến quảng bá du lịch
Xúc tiến truyền quảng bá du lịch là biện pháp quan trọng để tạo lập và
nâng cao hình ảnh du lịch của nước sở tại.
Giáo dục toàn dân, góp pần thực hiện tuyên truyền đối nội và đối
ngoại
Nghiên cứu tâm lý, thị hiếu, tập quán thói quen tiêu dùng của các đối
tượng khách để có những sản phẩm phù hợp với thị trường thông qua các
hình thưc tuyên truyền, quảng cáo.
Tăng cường tuyên truyền quảng bá trên các phương tiện truyền thông,
phương tiện thông tin đại chúng với các loại hình khác nhau
Phối hợp với các lực lượng làm thông tin đối ngoại, tranh thủ các nguồn
lực từ bên ngoài, và hỗ trợ quốc tế để công tác xúc tiến, quảng bá du lịch đạt
hiệu quả.
Mục tiêu: Nâng cao nhận thức mọi mặt về du lịch trong các cấp, các
ngành và nhân dân, hình thành và hướng dẫn nhu cầu du lịch nội địa. Tạo lập
và nâng cao hình ảnh du lịch của đất nước bản địa, thu hút du khách quốc tế,
góp phần thực hiện thông tin đối ngoại và đường lối đối ngoại của đất nước.
Để thực hiện mục tiêu đó cần:
Chú trọng đẩy mạnh công tác xúc tiến, tuyên truyền quảng bá du lịch dưới
nhiều hình thức thiết lập đại diện du lịch tại các thị trường trọng điểm phối
SVTH: NGUYỄN THỊ LỆ THU Page 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status