VIỆT NAM
•
2006
06
Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (NIHE)
Số 1 Yersin, Hà Nội
Tel: (84-4) 972 1005
Fax: (84-4) 821 0541
Email: [email protected]
FHI/Việt Nam
Tầng 3, số 1 Bà Triệu, Hà Nội
Tel: (84-4) 934 8560
Fax: (84-4) 934 8550
Email: [email protected]
Kết quả Chương trình giám sát
kết hợp hành vi và các chỉ số
sinh học HIV/STI (IBBS) tại Việt Nam
2005 – 2006
BỘ Y TẾ
CƠ QUAN THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH
Vin V sinh dch t trung ương (NIHE)
Nguyễn Trần Hiển
Nguyễn Anh Tuấn
Bùi Đức Thắng
T chc sc kho gia đình quc t (FHI)
Stephen J. Mills
Nguyễn Duy Tùng
Trần Vũ Hoàng
Nguyễn Đức Dương
Cc Phòng Chng HIV/AIDS Vit Nam (VAAC)
Nguyễn Thanh Long
Kt qu Chương trình
giám sát kt hp hành vi và
các ch s sinh hc HIV/STI
(IBBS) ti Vit Nam
v
Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi
và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam, 2005 - 2006
MC LC
DANH MC T VIT TT vi
LI GII THIU
1
TÓM TT NGHIÊN CU 2
TNG QUAN
5
MC TIÊU
6
PHƯƠNG PHÁP
7
1. Địa điểm nghiên cứu và quần thể nghiên cứu 7
2. Cỡ mẫu 8
3. Phương pháp chọn mẫu 9
4. Các chỉ số nghiên cứu 11
5. Thu thập số liệu 11
6. Quy trình xét nghiệm 14
7. Quản lý và phân tích số liệu 15
8. Các vấn đề về đạo đức nghiên cứu 15
KT QU 1
7
1. Đặc điểm các nhóm quần thể nghiên cứu 17
FHI Tổ chức Sức khỏe Gia đình Quốc tế
HIV Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người
IBBS Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI
LĐTBXH Lao động thương binh và xã hội
MARP Quần thể có nguy cơ cao nhiễm HIV
MDĐP Mại dâm đường phố
MDN Mại dâm nam
MDNH Mại dâm tại tụ điểm nhà hàng, cơ sở dịch vụ, giải trí
MSM Nam QHTD đồng giới
NCMT Nghiện chích ma túy
PEPFAR Kế hoạch viện trợ khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ cho phòng chống AIDS
PNMD Phụ nữ mại dâm
QHTD Quan hệ tình dục
RDS Chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát
STI Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục
TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh
UNGASS Khoá họp đặc biệt về HIV/AIDS của Liên Hợp Quốc
US CDC Trung tâm phòng chống và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ
USAID Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
VCT Tư vấn xét nghiệm tự nguyện
Vin VSDTTƯ Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (NIHE)
DANH MC T VIT TT
1
Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi
và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam, 2005 - 2006
Số người nhiễm HIV/AIDS được phát hiện ở Việt Nam tăng nhanh trong những năm cuối của thập kỷ 90 cho
thấy khả năng lan truyền mạnh của dịch HIV, với các mức độ khác nhau trong nhiều nhóm quần thể nguy cơ,
nhất là ở các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, TP HCM, Cần Thơ, An Giang. Mặc dù dịch
HIV ở Việt Nam hiện vẫn đang trong giai đoạn “dịch tập trung”, tác động chủ yếu tới những quần thể có nguy
cơ cao như người tiêm chích ma tuý, phụ nữ mại dâm và khách hàng của họ, và những người có hành vi tình
PGS. TS. Trịnh Quân Huấn
Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi
và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam, 2005 - 2006
2
TÓM TT NGHIÊN CU
Chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học (IBBS) được triển khai tại các tỉnh, thành
phố Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP HCM, An Giang và Cần Thơ từ tháng 11 năm 2005
đến tháng 6 năm 2006. Mẫu nghiên cứu được thu thập tại cộng đồng nhằm ước lượng tỷ lệ hiện
nhiễm HIV, các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI), các hành vi nguy cơ và mức độ tiếp
cận các chương trình can thiệp trong các nhóm quần thể có nguy cơ cao nhiễm HIV (MARP). Các
nhóm quần thể này bao gồm phụ nữ mại dâm (PNMD), người nghiện chích ma tuý (NCMT) và nam
quan hệ tình dục đồng giới (MSM). Phương pháp chọn mẫu chùm và chọn mẫu dây chuyền có kiểm
soát (RDS) đã được sử dụng nhằm lựa chọn 3.547 PNMD, 2.032 NCMT tại 7 tỉnh và 790 MSM tại Hà
Nội và TP HCM. Bên cạnh thông tin về hành vi nguy cơ được thu thập thông qua phỏng vấn cá nhân,
mẫu bệnh phẩm máu, nước tiểu và mẫu ngoáy hậu môn cũng được thu thập nhằm xác định tỷ lệ
hiện nhiễm HIV và STI.
Nhng phát hin chính
Người nghiện chích ma tuý: HIV đang lây nhiễm nhanh trong những người NCMT trẻ và mới
tiêm chích
Những người NCMT là quần thể có tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao nhất so với những quần thể khác, mặc dù
có sự khác nhau giữa các tỉnh, thành phố. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong những người NCMT cao nhất tại
Hải Phòng (66%) và Quảng Ninh (59%), thấp nhất tại An Giang (13%) và Đà Nẵng (2%). Kết quả nghiên
cứu cho thấy những dấu hiệu của sự lây truyền HIV nhanh chóng trong quần thể những người NCMT
trẻ tuổi và mới tiêm chích. Ví dụ, tại TP HCM, khoảng một nửa (48%) những người NCMT dưới 25 tuổi
và khoảng 1/4 người NCMT có thời gian tiêm chích dưới một năm. Tuy nhiên, HIV lan truyền rất nhanh
trong cả hai nhóm trên, với tỷ lệ hiện nhiễm tương ứng là 33% và 28%. Tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm
NCMT trẻ và mới tiêm chích tương đương với với tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm NCMT lớn tuổi và có
thời gian tiêm chích ma tuý dài hơn cũng được ghi nhận tại nhiều tỉnh, thành phố khác.
Dựa trên số liệu hành vi tự báo cáo, tỷ lệ dùng chung BKT dường như có xu hướng giảm xuống, tuy
nhiên vẫn ở mức độ cao. Từ 12% đến 33% người NCMT báo cáo có dùng chung BKT trong khoảng
lệ PNMD sử dụng BCS thường xuyên với khách trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra thấp hơn rất
nhiều, thay đổi từ 36% trong nhóm MDNH tại Quảng Ninh tới 89% trong nhóm MDĐP tại Cần Thơ.
Nhiều PNMD đã từng tiêm chích ma tuý, với tỷ lệ cao nhất trong nhóm MDĐP tại Hà Nội và Cần Thơ
(17%). Như đã đề cập ở phần trên, có mối quan hệ chặt chẽ giữa tỷ lệ hiện nhiễm HIV và hành vi tiêm
chích ma tuý ở mức độ từng cá nhân cũng như ở mức độ quần thể: tỉnh, thành phố có tỷ lệ PNMD
tiêm chích ma tuý cao hơn, thì tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm này tại tỉnh thành phố đó cũng cao
hơn. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hành vi dùng chung BKT rất phổ biến trong nhóm PNMD, với
tỷ lệ sử dụng chung BKT cao hơn nhóm nam NMCT tại nhiều tỉnh, thành phố.
Nam quan hệ tình dục đồng giới: tỷ lệ nhiễm STI cao và nhiều hình thái hành vi nguy cơ
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM tại TP HCM là 5% và tại Hà Nội là 9%, tuy nhiên sự khác biệt
trên không có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ hiện nhiễm STI khá cao. Ví dụ, trung bình trong số 10 MSM tại
Hà Nội, có trên một người nhiễm lậu trực tràng (tỷ lệ là 12%), và 8% MSM tại Hà Nội nhiễm chlamydia
trực tràng. 22% MSM tại Hà Nội và 16% MSM tại TP HCM mắc ít nhất một nhiễm trùng lây truyền qua
đường tình dục.
MSM có nhiều bạn tình, với 44% MSM tại Hà Nội và 70% MSM tại TP HCM có 2 bạn tình hoặc nhiều
hơn trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra. Tình dục mại dâm cũng phổ biến trong nhóm quần thể
này với 22% MSM tại Hà Nội và 41% MSM tại TP HCM báo cáo có QHTD nhận tiền trong 1 tháng trước
cuộc điều tra. Tỷ lệ MSM có QHTD hậu môn, hành vi có nguy cơ nhiễm HIV cao nhất trong nhóm MSM,
rất cao: đa số những lần QHTD với bạn tình nam là QHTD hậu môn. Khi QHTD có nhận tiền, 82% MSM
tại Hà Nội và 85% MSM tại TP HCM có QHTD hậu môn.
Tỷ lệ sử dụng BCS khi QHTD hậu môn rất thấp, xấp xỉ 1/3 (29% tại Hà Nội và 37% tại TP HCM) báo cáo
sử dụng BCS thường xuyên với BTTX. 33% MSM tại Hà Nội và 51% MSM tại TP HCM báo cáo sử dụng
BCS thường xuyên khi QHTD có nhận tiền. Trung bình khoảng 4 trong số 10 MSM được hỏi cho biết
có QHTD với bạn tình nữ trong vòng 1 năm trước cuộc điều tra, và khoảng 15% MSM có QHTD với
PNMD.
Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi
và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam, 2005 - 2006
4
Tỷ lệ MSM đã từng tiêm chích ma tuý tại Hà Nội cao hơn TP HCM (9% so với 4%). Tiêm chích ma tuý
cũng liên quan chặt chẽ với nhiễm HIV. Ví dụ, tại TP HCM, khoảng 1/3 (26%) những MSM đã từng
trung tâm giáo dục dạy nghề, trung tâm 05-06 hoặc tại các bệnh viện, phòng khám. Do đó, nguồn
số liệu trên có thể không phản ánh diễn biến và chiều hướng nhiễm HIV, STI cũng như chiều hướng
hành vi nguy cơ trên thực tế, như kết quả từ mẫu nghiên cứu đại diện được thu thập trong các nhóm
quần thể nguy cơ cao tại cộng đồng.
Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học, với những kết quả được trình bày trong báo cáo này,
được thiết kế nhằm bổ sung những nguồn thông tin thiếu hụt trên. Nghiên cứu này bao gồm số liệu
về tỷ lệ hiện nhiễm HIV, STI và hành vi nguy cơ trong nhóm NCMT, PNMD, MSM tại các tỉnh, thành phố
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của dịch HIV, ở khu vực phía Bắc là Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, ở
khu vực phía Nam là TP HCM, Cần Thơ, An Giang và thành phố Đà Nẵng ở khu vực miền Trung.
TNG QUAN
Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi
và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam, 2005 - 2006
6
Giám sát kt hp hành vi và các ch s sinh hc nhm:
•
Đo lường tỷ lệ hiện nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục khác
(giang mai, lậu, chlamydia) trong các nhóm NCMT, PNMD và MSM .
•
Đo lường các hành vi nguy cơ nhiễm HIV và thực hành hành vi dự phòng trong các nhóm
quần thể nghiên cứu.
•
Ước lượng độ bao phủ và tiếp cận các can thiệp dự phòng
•
Cung cấp các thông tin quan trọng giúp vận động và xây dựng chính sách.
MC TIÊU
7
Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi
và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam, 2005 - 2006
1. Đa đim nghiên cu và qun th nghiên cu
1.1. Đa đim nghiên cu:
bàn nghiên cứu của nhóm ngày tại hai thành phố cũng không giới hạn về địa lý.
1
Ở tỉnh Quảng Ninh: toàn bộ nhóm NCMT được chọn mẫu ở Cẩm Phả. Toàn bộ nhóm PNMD được chọn mẫu ở Hòn Gai và Bãi Cháy.
Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi
và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam, 2005 - 2006
8
1.2. Qun th nghiên cu và tiêu chun tuyn chn:
Nhóm nghiện chích ma túy (NCMT):
Người NCMT trong nghiên cứu này là nam giới, 18 tuổi trở lên, hiện đang nghiện chích ma túy (tiêu
chí này được xác định bằng hành vi tiêm chích ma túy trong vòng một tháng trước cuộc điều tra), tiếp
cận được tại các tụ điểm được chọn (ở Hải Phòng, Quảng Ninh và An Giang) vào thời điểm nghiên cứu,
và tự nguyện tham gia nghiên cứu.
Nhóm phụ nữ mại dâm (PNMD):
PNMD được tuyển chọn dựa trên các tiêu chuẩn sau: nữ giới ở độ tuổi 18 trở lên, có QHTD để kiếm tiền
ít nhất là một lần trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra, làm việc trên đường phố (MDĐP) hoặc các
tụ điểm như quán karaoke, các điểm massage (MDNH). Ở một vài tỉnh, mặc dù PNMD được xác định ở
các cơ sở dịch vụ giải trí, song dựa vào đặc điểm và hình thức làm việc của họ, những người này được
coi như những phụ nữ thuộc nhóm MDĐP. Ví dụ, tại Hải Phòng, một số PNMD hoạt động trong nhà
hàng vẫn được xem là PNMD đường phố do họ phải di chuyển từ đường phố vào trong các tụ điểm,
nhằm tránh các chiến dịch truy quét trên đường phố.
Nhóm nam QHTD đồng giới (MSM):
Nhóm MSM được chọn tham gia nghiên cứu dưạ trên các tiêu chuẩn: nam giới ở độ tuổi 15 trở lên, có
QHTD với nam giới ít nhất là một lần trong vòng 12 tháng qua, và tự nguyện tham gia nghiên cứu.
2. C mu
Cỡ mẫu của từng nhóm quần thể nghiên cứu được tính toán để có thể phát hiện sự khác biệt 15%
giữa 2 vòng điều tra về các hành vi như thường xuyên dùng BCS và dùng chung BKT. Nếu thực sự có
thay đổi trong tỷ lệ PNMD thường xuyên dùng BCS ở mức 15%, với 300 PNMD được chọn cho mỗi
vòng, nghiên cứu có thể chứng minh được sự khác biệt trên có ý nghĩa thống kê. Cỡ mẫu thu thập
được trình bày trong bảng 2.
Cần Thơ
*
x x
An Giang x x x
Chọn mẫu dây chuyền có
kiểm soát (RDS)
*
Chọn mẫu chùm√
Chọn toàn bộx
3.1. Chn mu chùm hai giai đon:
Hai giai đoạn chọn mẫu bao gồm:
•
Giai đoạn I: xây dựng khung mẫu và lựa chọn chùm.
•
Giai đoạn II: lựa chọn các cá nhân tham gia nghiên cứu.
Giai đon I:
Xây dựng khung mẫu và lựa chọn chùm. Bản đồ các tụ điểm từng nhóm quần thể, nơi các cá
thể có thể tiếp cận được nhằm tuyển chọn họ tham gia nghiên cứu, được xây dựng ở từng tỉnh, thành phố.
Quá trình lập bản đồ kéo dài trong khoảng 2 tuần cho mỗi nhóm quần thể tại các khu vực được chọn (Xem
bảng 1: Khu vực tuyển chọn người tham gia nghiên cứu). Trước khi triển khai lập bản đồ các nhóm đối
tượng nghiên cứu, một khóa tập huấn 3 ngày được tổ chức tại mỗi tỉnh, thành phố. Khóa tập huấn cung
cấp các phương pháp giúp xác định được thành viên của các nhóm quần thể, cách tiếp cận họ, ước lượng
và ghi nhận kích cỡ quần thể tại mỗi tụ điểm. Kỹ năng phỏng vấn cũng được cung cấp trong khóa tập huấn
này. Cán bộ tham gia quá trình lập bản đồ do các cơ quan chức năng về phòng chống AIDS tuyến tỉnh lựa
chọn, bao gồm cán bộ Sở Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng, hoặc trung tâm phòng chống AIDS tuyến tỉnh,
nhân viên y tế tại quận huyện, cán bộ xã hội và cán bộ của Hội liên hiệp phụ nữ và Đoàn thanh niên.
Trong thời gian triển khai thực địa, các cán bộ lập bản đồ tới các khu vực được phân công xác định
các tụ điểm có thể có các nhóm quần thể nghiên cứu. Thông qua những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với
một số người cung cấp thông tin chính, nhóm cán bộ bắt đầu quá trình lập bản đồ từ một vài tụ điểm
được xác định ban đầu, sau đó áp dụng phương pháp hòn tuyết lăn (snowballing) để tìm kiếm thêm
Tất cả các cá nhân hội đủ điều kiện tham gia nghiên cứu được giải thích tóm tắt về mục đích của
nghiên cứu và được phát giấy mời tham gia có ghi đầy đủ thông tin cơ bản về nghiên cứu, địa chỉ các
trung tâm nghiên cứu nơi thu thập số liệu, và ngày hẹn phỏng vấn. Nếu quá ngày hẹn 2 tuần mà cá
nhân được chọn không đến trung tâm nghiên cứu, người thay thế sẽ được lựa chọn tại chính tụ điểm
đó. Sau nhiều nỗ lực tuyển chọn nhằm đạt đủ cỡ mẫu phân bổ, nhưng vẫn không thể đạt được, có
thể tiến hành lựa chọn người tham gia ở các tụ điểm gần nhất trong khung mẫu để thay thế. Toàn
bộ kế hoạch thay thế này đều được Viện VSDTTƯ xem xét và phê chuẩn sau khi tham khảo ý kiến của
các cán bộ tại địa phương.
3.2. Phương pháp chn toàn b:
Phương pháp này được sử dụng trong trường hợp không áp dụng phương pháp chọn mẫu chùm. Sau
quá trình lập bản đồ, nếu ước tính kích cỡ quần thể nghiên cứu nhỏ hơn cỡ mẫu dự kiến, phương pháp
chọn toàn bộ sẽ được sử dụng. Nhóm nghiên cứu đến toàn bộ các tụ điểm được liệt kê, với sự trợ giúp
của các giáo dục viên đồng đẳng, tiếp cận với các cá nhân đủ điều kiện tham gia, giải thích mục đích,
và phát giấy mời tham gia nghiên cứu (giống giấy mời dùng trong chọn mẫu chùm nêu trên).
3.3. Chn mu dây chuyn có kim soát (RDS):
Phương pháp chọn mẫu này được áp dụng với nhóm NCMT tại 4 thành phố (Hà Nội, Đà Nẵng, TP
HCM và Cần Thơ) và nhóm MSM tại 2 thành phố (Hà Nội, TP HCM). Đây là phương pháp chọn mẫu
dây chuyền thông qua sự giới thiệu của chính những người được phỏng vấn, song không hoàn toàn
giống với phương pháp hòn tuyết lăn “snowball”, phương pháp này cho chúng ta ước tính chính xác
về những biến số nghiên cứu của quần thể (Heckathorn, 1997).
Quá trình tuyển chọn bắt đầu bằng tuyển chọn các cá nhân đầu tiên tham gia nghiên cứu: họ được
xem như những “hạt giống”. Các tiêu chuẩn để lựa chọn “hạt giống” là: những người có các đặc
điểm khác biệt nhau, ở nhiều địa điểm khác nhau và biết rõ các mạng lưới của quần thể nghiên cứu.
Những “hạt giống” do nhóm nghiên cứu lựa chọn có tham khảo ý kiến và sự giới thiệu của các cán
bộ tại địa phương.
11
Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi
và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam, 2005 - 2006
Sau khi kết thúc phỏng vấn các cá nhân tham gia ban đầu và phát phiếu tuyển chọn để họ tiếp tục
chọn lựa các đồng đẳng trong nhóm, những người này không còn là đối tượng nghiên cứu, mà trở
•
Tiếp cận các can thiệp dự phòng HIV/AIDS
•
Các câu hỏi về mạng lưới (chỉ dành cho phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát):
các câu hỏi về cơ cấu mạng lưới, quan hệ của thành viên tham gia nghiên cứu và hiểu biết
về người được tuyển chọn, đều được đưa vào trong bộ câu hỏi.
5. Thu thp s liu
5.1. Chun b thu thp s liu
Xây dựng và thử nghiệm bộ câu hỏi: bộ câu hỏi được soạn thảo để đo lường toàn bộ các chỉ số cơ bản
như mô tả ở trên. Bộ câu hỏi dài khoảng 10 trang và mất khoảng 30 – 40 phút để hoàn tất các câu
trả lời. Mỗi bộ câu hỏi đều có số mã số nghiên cứu (ID) riêng biệt, mã hóa cho từng người tham gia
nghiên cứu. Mã số nghiên cứu này cũng được dán trên các ống nghiệm đựng mẫu bệnh phẩm sinh
học (máu, nước tiểu, v.v.).
Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi
và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam, 2005 - 2006
12
Các bộ câu hỏi được thử nghiệm thông qua phỏng vấn thử một số người NCMT, PNMD, MSM và có
những chỉnh sửa, điều chỉnh về cấu trúc, cách dùng từ và ngôn ngữ. Bộ câu hỏi cuối cùng được hoàn
chỉnh và thông qua với sự đồng thuận của tổ chức FHI và Viện VSDTTƯ.
Lựa chọn cán bộ phỏng vấn và tập huấn:
Cán bộ tại các trung tâm y tế quận, huyện, trung tâm y tế dự phòng, trung tâm phòng chống HIV/
AIDS, các cán bộ xã hội được lựa chọn để thực hiện các cuộc phỏng vấn cho nghiên cứu này (điều tra
viên). Tiêu chuẩn tuyển chọn điều tra viên như sau:
•
Có kinh nghiệm làm việc với quần thể nguy cơ cao như người NCMT, PNMD, MSM
•
Mong muốn và có thể thu xếp đủ thời gian dành cho nghiên cứu
•
Có kinh nghiệm phỏng vấn sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc
•
Vị trí thuận tiện và dễ tìm.
13
Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi
và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam, 2005 - 2006
Do gặp khó khăn trong việc thuê địa điểm tạm thời để thu thập số liệu, ở một số tỉnh, câu lạc bộ dành
cho các nhóm quần thể có nguy cơ cao trong khuôn khổ các dự án can thiệp được sử dụng làm trung
tâm nghiên cứu.
Mỗi một trung tâm nghiên cứu đều có ba khu vực riêng biệt: Khu tiếp đón, phòng phỏng vấn, và
phòng lấy mẫu bệnh phẩm, bao gồm khu vực được bố trí dành cho tư vấn cá nhân.
Khi các đối tượng được mời tới trung tâm nghiên cứu, họ tiến hành thủ tục đăng ký tại bàn tiếp đón.
Nhân viên tiếp đón thực hiện các bước sàng lọc cơ bản đối với những người được mời tới tham gia
bằng cách đặt các câu hỏi dựa theo các tiêu chuẩn lựa chọn người tham gia nghiên cứu. Những người
không đủ tiêu chuẩn sẽ bị loại. Ngoài ra, nhân viên tiếp đón cũng hỏi một số câu hỏi nhằm sàng lọc
và loại ra những người đã tham gia nghiên cứu. Điều này giúp tránh sự trùng lặp trong quá trình chọn
mẫu nghiên cứu. Trong trường hợp có những người đến trung tâm để xét nghiệm HIV song không đủ
tiêu chuẩn tham gia, họ sẽ được giới thiệu sang các trung tâm VCT gần nhất. Để kết thúc phần đăng
ký, nhân viên tiếp đón sẽ đọc cho những người đáp ứng đủ tiêu chuẩn tham gia nghe thỏa thuận
tham gia nghiên cứu. Mọi thắc mắc cũng được giải thích ngay tại bàn tiếp đón. Nếu đồng ý, những
người được mời ký vào thoả thuận tham gia nghiên cứu. Nhân viên tiếp đón và một người làm chứng
cùng ký vào bản thoả thuận này. Bộ câu hỏi cùng với mã số nghiên cứu cho từng người tham gia được
chuẩn bị trong giai đoạn tiếp đón.
Sau khi kết thúc thủ tục đăng ký, những người đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu được giới thiệu
sang phòng phỏng vấn. Phòng phỏng vấn được thu xếp đảm bảo kín đáo và riêng biệt. Những cuộc
phỏng vấn cá nhân được thực hiện bởi các điều tra viên đã được tập huấn. Ngay trước phỏng vấn,
điều tra viên hỏi thêm một câu hỏi sàng lọc khác để chắc chắn rằng những người tham gia đáp ứng
đủ tiêu chuẩn lựa chọn. Bộ câu hỏi có cấu trúc được sử dụng trong quá trình phỏng vấn, các cán bộ
phỏng vấn có thể giúp người tham gia hiểu rõ hơn nội dung các câu hỏi nếu được yêu cầu. Tuy nhiên,
không có gợi ý trả lời bất kỳ câu hỏi nào. Tùy thuộc vào người tham gia, mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài
khoảng 30 - 45 phút.
Khi phỏng vấn kết thúc, người tham gia được hướng dẫn sang phòng lấy mẫu bệnh phẩm. Tại đây,
nghiệm Miễn dịch huỳnh quang ngưng kết men (ELISA) nhằm sàng lọc và khẳng định các
kết quả dương tính. Xét nghiệm HIV được thực hiện tại trung tâm y tế dự phòng tỉnh, nơi có
các cơ sở xét nghiệm HIV và các kỹ thuật viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn quốc gia.
10% mẫu âm tính và 5% mẫu dương tính đã được lựa chọn ngẫu nhiên và xét nghiệm lại để
kiểm định chất lượng tại phòng xét nghiệm của Viện VSDTTƯ.
–
Xét nghiệm phản ứng chuỗi men Polymerase (PCR) đối với lậu và chlamydia: mẫu nước
tiểu được thu thập cho xét nghiệm này trong nhóm PNMD và MSM, và mẫu ngoáy hậu
môn sử dụng cho xét nghiệm lậu và chlamydia trực tràng cho nhóm MSM, được cất giữ
và bảo quản trong thùng lạnh và vận chuyển đến phòng xét nghiệm của Viện VSDTTƯ.
Mẫu bệnh phẩm được giữ ở nhiệt độ –20ºC, xử lý, và xét nghiệm theo hướng dẫn của
nhà sản xuất.
–
Xét nghiệm giang mai được thực hiện trên mẫu huyết thanh, được vận chuyển bằng thùng
lạnh chuyên dụng và sử dụng kỹ thuật RPR định lượng. Xét nghiệm định tính xác định
Hemagglutin Treponema Pallidum (TPHA) được dùng để khẳng định. Giang mai được chẩn
đoán xác định và điều trị khi xét mẫu huyết thanh dương tính với cả 2 xét nghiệm.
Đối tượng nghiên cứu dương tính với xét nghiệm HIV và giang mai khi quay lại lấy kết quả đều được
nhận hoặc giới thiệu những dịch vụ chăm sóc thích hợp: được điều trị miễn phí nếu phát hiện bị bệnh
giang mai, và được giới thiệu chuyển đến các dịch vụ hỗ trợ và chăm sóc HIV nếu phát hiện bị nhiễm
HIV. Quy trình tư vấn và trả kết quả được thực hiện như sau:
•
Trong quá trình thoả thuận tham gia nghiên cứu, và trước khi xét nghiệm, người tham gia
nghiên cứu đều được tư vấn trước xét nghiệm. Người tham gia có thể yêu cầu được tư vấn
bổ sung khi có nhu cầu.
•
Cán bộ tư vấn ký vào Biểu mẫu tư vấn trước xét nghiệm, đính kèm theo thoả thuận tham
gia nghiên cứu, và được lưu giữ cùng với các tài liệu giấy tờ khác.
•
Những người tham gia được phát một phiếu hẹn quay lại lấy kết quả xét nghiệm HIV và
sang tập tin RDS. Phân tích mô tả, phân tích tương quan và ước lượng điểm được tiến hành sử dụng
phần mềm RDSAT. Phiên bản mới nhất của RDSAT chưa cho phép tính toán giá trị trung bình, trung
vị hoặc hồi quy tuyến tính đơn và đa biến số.
Phân tích số liệu thu thập sử dụng phương pháp chọn mẫu chùm hoặc chọn mẫu toàn bộ: Phần mềm
STATA 8.2 được dùng để phân tích các bộ số liệu này. Phân tích mô tả hoặc tương quan được thực
hiện dựa trên chiến lược phân tích được phát triển bởi nhóm nghiên cứu. Phân tích hồi quy logistic
đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan tới tình trạng nhiễm HIV, sau khi hiệu chỉnh
cho các yếu tố nhiễu tiềm tàng.
8. Các vn đ v đo đc nghiên cu
Sự tham gia của tất cả các đối tượng vào nghiên cứu hoàn toàn mang tính tự nguyện . Tầm quan
trọng của việc tự nguyện chấp thuận tham gia nghiên cứu được nhấn mạnh tại các buổi tập huấn
cho cán bộ tại thực địa. Tuyệt đối giữ bí mật thông tin về người tham gia nghiên cứu cũng được nhấn
mạnh trong toàn bộ quá trình. Không có thông tin nào về tên tuổi và địa chỉ của người tham gia
nghiên cứu được ghi nhận lại.
Đề cương nghiên cứu, bộ câu hỏi và bản chấp thuận tham gia nghiên cứu cho các nhóm quần thể
nghiên cứu được Ban xét duyệt đạo đức nghiên cứu, Viện VSDTTW, Bộ Y tế Việt Nam và Uỷ ban bảo
vệ quyền con người của tổ chức FHI đồng phê duyệt.
Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi
và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam, 2005 - 2006
16
Các thủ tục cơ bản sau đây được tiến hành nhằm bảo vệ người tham gia nghiên cứu trong trường hợp
có những ảnh hưởng không mong muốn từ nghiên cứu:
–
Các buổi thảo luận với chủ lao động (chẳng hạn như chủ quán bar, Karaoke) nhằm làm rõ
mục đích nghiên cứu. Điều tra viên không thu thập thông tin cá nhân người tham gia và
điền vào bất kỳ biểu mẫu số liệu nào, không có thông tin nào được cung cấp cho chủ lao
động và sự tham gia là hoàn toàn tự nguyện. Điều tra viên tuyệt đối không can thiệp ảnh
hưởng tới việc tuyển dụng của chủ lao động.
–
Thông tin về nghiên cứu được chuyển tải tới quần thể nghiên cứu thông qua các tổ chức,
Một số đặc điểm cơ bản của các nhóm quần thể nghiên cứu được trình bày trong bảng 4, 5, 6 và 7
dưới đây. Chi tiết hơn có thể tìm thấy trong bảng 9 Phụ lục I, bảng 18 Phụ lục II, bảng 26 Phụ lục III,
bảng 34 Phụ lục IV.
Bảng 4: Đặc điểm của nhóm NCMT.
Đặc điểm Hà Nội Hải Phòng Quảng Ninh Đà Nẵng TP HCM Cần Thơ An Giang
Nhóm tuổi (n) 296 297 266 274 296 298 300
• < 20 3,9 3,4 6,4 29,0 28,2 13,1 25,7
• 20 - 25 18,8 11,7 24,4 22,3 20,0 29,4 27,3
• 25 - 30 28,7 28,2 33,1 7,8 13,9 24,2 23,3
• >=30 48,6 56,7 36,1 40,9 37,6 33,3 23,7
Thời gian tiêm chích ma túy (n) 291 299 260 273 295 293 298
• <1 năm 22,2 8,7 11,1 32,2 23,9 1,4 22,2
• >= 1 năm 77,8 91,3 88,9 67,8 76,1 98,6 77,8
Hơn 25% người NCMT ở Đà Nẵng, TP HCM và An Giang trẻ hơn 20 tuổi trong khi tỷ lệ này dưới 10% ở
các tỉnh khác (13% ở Cần Thơ). Tỷ lệ người NCMT bắt đầu tiêm chích trong vòng 12 tháng trước điều
tra tại Đà Nẵng, TP HCM và An Giang cũng cao hơn so với các tỉnh khác (22% hoặc nhiều hơn) (bảng 4).
Với số liệu về những người NCMT trẻ và mới tiêm chích sẽ được mô tả thêm ở phần sau, có thể thấy sự
cần thiết phải thực hiện các can thiệp hướng vào các đối tượng NCMT trẻ và mới tiêm chích ma tuý.
Độ tuổi trung bình của PNMD khoảng 30 đối với MDĐP và trẻ hơn trong nhóm MDNH, tuy nhiên sự
khác biệt không lớn. Khoảng 50% số MDNH ở Hải Phòng, Quảng Ninh và Đà Nẵng trên 30 tuổi, có
thể do họ đã có khoảng thời gian hành nghề mại dâm lâu hơn các MDNH ở các tỉnh khác. Khác biệt
không lớn trong một số đặc điểm của MDĐP và MDNH có thể do sự di chuyển giữa hai nhóm như đã
nêu trong phần phương pháp.
Trung bình, PNMD hành nghề tại các tỉnh, thành phố trong nghiên cứu được hơn 2 năm trừ TP HCM
và Cần Thơ, nơi có khoảng 50% MDNH có thời gian hành nghề ngắn hơn (bảng 5 và 6).
Đa số MSM ở độ tuổi dưới 25 (77,4% ở Hà Nội và 58,6 ở TP HCM). 35,3% MSM ở Hà Nội là sinh viên. Hầu
hết MSM ở Hà Nội tự nhận định họ là “Bóng kín” (86,8%), cao hơn so với TP HCM (54,5%). Đáng lưu ý
là những MSM tự cho bản thân là những “Nam giới bình thường” có chiều hướng bán dâm nhiều hơn
những nhóm MSM khác trên địa bàn nghiên cứu (bảng 7).
Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi
Thời gian hành nghề (n) 223 270 165 309 300 295 361
• Trung bình (năm) 3,5 3,9 5,3 3,8 3,5 2,7 4,9
• Trung vị (năm) 2,2 2,8 4,6 2,6 1,8 1,6 3,4
Thời gian hành nghề tại địa
bàn nghiên cứu (n)
224 274 178 312 302 300 361
• Trung bình (năm) 3,1 3,3 3,5 3,4 2,6 2,3 5,0
• Trung vị (năm) 2,1 2,4 3 2,2 1,3 1,4 3,3
19
Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi
và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam, 2005 - 2006
Bảng 7: Đặc điểm nhóm MSM.
Đặc điểm Hà Nội TP HCM
Nhóm tuổi (n) 397 393
• < 20 17,5 27,0
• 20 - 25 60,1 31,6
• 25 - 30 9,5 13,2
• >=30 12,9 28,2
Nghề nghiệp (n) 397 393
• Cán bộ nhà nước 1,8 6,3
• Nhân viên dịch vụ 19,5 7,0
• Nhân viên văn phòng/bán hàng 17,7 3,2
• Kinh doanh 0,8 9,5
• Sinh viên 35,3 10,7
• Tự kinh doanh 33,5 20,0
• Làm các việc bất hợp pháp 10,3 16,0
• Hiện tại không có việc làm 3,9 12,6
• Nghề nghiệp khác 8,3 35,1
Thời gian sinh sống tại địa bàn nghiên cứu (n) 397 393
• Dưới 5 năm 63,9 19,4