VIN V SINH DCH T TRUNG ƯƠNG, B Y T
KẾT QUẢ GIÁM SÁT KẾT HỢP HÀNH VI
VÀ C ÁC CHỈ SỐ SINH HỌC HIV/STI (IBBS)
TI VIT NAM VÒNG II 2009
Tháng 12, 2011
Vieän VSDT TÖ
CƠ QUAN THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH
Vin V sinh Dch t Trung ương (NIHE)
Nguyễn Trần Hiển
Nguyễn Anh Tuấn
Bùi Đức Thắng
Trần Đại Quang
Lê Anh Tuấn
Dương Công Thanh
Phạm Hồng Thắng
Hoàng Thị Thanh Hà
Trần Hồng Trâm
Ngô Thị Hồng Hạnh
Đào Thị Thanh Huyền
Nguyễn Vị Thủy
FHI 360
Stephen J. Mills
Trần Vũ Hoàng (Hiện đang làm việc cho Công ty TNHH Hợp tác Phát triển Nghiên cứu Y học)
Trần Thị Thanh Hà
Mai Đoàn Anh Thi (Hiện đang làm việc cho HAIVN)
Lê Thị Cẩm Thúy
Nguyễn Cường Quốc
Dan Levitt (consultant)
Cc Phòng chng HIV/AIDS (VAAC)
Nguyễn Thanh Long
Phan Thị Thu Hương
KẾT QUẢ GIÁM SÁT KẾT HỢP HÀNH VI
VÀ C ÁC CHỈ SỐ SINH HỌC HIV/STI (IBBS)
TI VIT NAM VÒNG II 2009
Tháng 12, 2011
Mục lục
DANH MC T VIT TT 6
LI GII THIU 7
TÓM TT NGHIÊN CU 8
MC TIÊU 12
PHƯƠNG PHÁP 13
I. Thiết kế nghiên cứu 13
II. Đối tượng nghiên cứu 13
III. Các địa điểm nghiên cứu 14
IV. Các chỉ số nghiên cứu 14
V. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 15
1. Cỡ mẫu 15
2. Phương pháp chọn mẫu 16
VI. Thu thập số liệu 20
1. Nhóm nghiên cứu 20
2. Trung tâm nghiên cứu và quá trình thu thập số liệu 21
VII. Theo dõi và kiểm định chất lượng 22
VIII. Quản lý và phân tích số liệu 22
1. Nhập số liệu và làm sạch số liệu 22
2. Phân tích số liệu 23
3. Các kỹ thuật xét nghiệm 23
IX. Các vấn đề về đạo đức nghiên cứu 25
KT QU VÀ BÀN LUN 26
I. Đặc điểm nhân khẩu, xã hội học của các quần thể nghiên cứu 26
II. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV và STI trong các quần thể nghiên cứu 32
III. Các chỉ số hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/STI trong các quần thể nghiên cứu 38
Phụ lục 6.6: Kiến thức HIV trong nhóm MDNH, IBBS 2009 92
Phụ lục 6.7: Tiếp cận với các can thiệp HIV/AIDS nhóm MDNH, IBBS 2009 93
Phụ lục 6.8: Tỷ lệ hiện nhiễm HIV/STI nhóm MDNH, IBBS 2009 94
Phụ lục 7: Phân tích mô tả các số liệu hành vi và sinh học của nhóm MDĐP - IBBS 2009 95
Phụ lục 7.1: Đặc điểm xã hội- nhân khẩu học của nhóm MDĐP – IBBS 2009 95
Phụ lục 7.2: Tiền sử tình dục và số khách hàng trong nhóm MDĐP – IBBS 2009 96
Phụ lục 7.3: Sử dụng bao cao su trong nhóm MDĐP – IBBS 2009 98
Phụ lục 7.4: Sử dụng ma túy và hành vi tiêm chích trong nhóm MDĐP – IBBS 2009 99
Phụ lục 7.5: STI tự báo cáo trong nhóm MDĐP – IBBS 2009 101
Phụ lục 7.6: Kiến thức HIV trong nhóm MDĐP – IBBS 2009 102
Phụ lục 7.7: Tiếp cận với các can thiệp HIV/AIDS trong nhóm MDĐP – IBBS 2009 103
Phụ lục 7.8: Tỷ lệ hiện nhiễm HIV/STI trong nhóm MDĐP – IBBS 2009 104
Phụ lục 8: Phân tích mô tả các số liệu hành vi và sinh học của nhóm MSM – IBBS 2009 105
Phụ lục 8.1: Các đặc điểm xã hội- nhân khẩu học của nhóm MSM – IBBS 2009 105
Phụ lục 8.2: Các đặc điểm tình dục và số lượng bạn tình nữ trong nhóm MSM – IBBS 2009 106
Phụ lục 8.3: Sử dụng bao cao su trong nhóm MSM – IBBS 2009 111
Phụ lục 8.4: Sử dụng ma tuý và uống rượu trong nhóm MSM – IBBS 2009 114
Phụ lục 8.5: STI tự báo cáo trong nhóm MSM – IBBS 2009 116
Phụ lục 8.6: Kiến thức HIV trong nhóm MSM – IBBS 2009 117
Phụ lục 8.7: Tiếp cận với các chương trình can thiệp HIV/AIDS trong nhóm MSM – IBBS 2009 118
Phụ lục 8.8: Tỷ lệ hiện nhiễm STI, HIV trong nhóm MSM – IBBS 2009 119
55
AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (Acquired Immuno Deciency Syndrome)
CDC Trung tâm phòng chống và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ
(United States Centers for Disease Control and Prevention)
CoPC Dự phòng Chăm sóc toàn diện
DSEP Cục phòng chống tệ nạn xã hội
ELISA Kỹ thuật hấp thụ miễn dịch gắn men
HIV Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người
HSS Giám sát trọng điểm HIV
UNODC Văn phòng Liên Hợp Quốc phòng chống ma túy và tội phạm
Vin VSDTTƯ Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (NIHE)
VND Đồng Việt Nam
Danh mục từ viết tắt
6
Lời giới thiệu
Dịch HIV tại Việt Nam đang ở trong giai đoạn dịch tập trung. Tuy nhiên mỗi tỉnh lại có đặc thù
dịch tễ học khác nhau, do vậy có thể nói dịch HIV tại Việt Nam là tập hợp các hình thái dịch đặc
thù địa phương.
Hệ thống giám sát HIV cho phép Việt Nam theo dõi diễn biến của dịch cũng như các thay đổi diễn
ra trong các quần thể nguy cơ cao. Đầu tiên là Hệ thống giám sát trong điểm HIV/AIDS được thiết
lập năm 1994 và nay đang được triển khai ở 40 tỉnh/thành phố. Hệ thống giám sát trọng điểm HIV
này đã cung cấp những thông tin quan trọng về xu hướng lây nhiễm HIV tại từng tỉnh và trong cả
nước. Tuy nhiên, chỉ với kết quả giám sát trọng điểm HIV chúng ta không biết được những yếu tố
nào tác động đến xu hướng dịch.
Trong năm 2000 và 2001, Việt Nam đã triển khai giám sát hành vi tại năm tỉnh Hà Nội, Hải Phòng,
Quảng Ninh, TP. HCM, và Cần Thơ. Đây là hệ thống cảnh báo sớm cho chúng ta biết được những chỉ
số hành vi đóng vai trò quan trọng trong dự đoán sự tiến triển của dịch. Để tăng cường giám sát dịch
và có những kết luận khoa học nhằm đưa ra kế hoạch cụ thể phòng chống HIV/AIDS hiệu quả, giám
sát kết hợp các chỉ số hành vi và sinh học (IBBS) vòng I đã được tiến hành năm 2005-2006 tại năm tỉnh
kể trên thêm hai tỉnh là Đà Nẵng và An Giang, IBBS đã khảo sát một cách hệ thống tại cộng đồng để
đánh giá hành vi nguy cơ, tỷ lệ hiện nhiễm HIV và STI trong các nhóm có nguy cơ cao là nhóm Tiêm
chích ma túy, Phụ nữ mại dâm, và Nam quan hệ tình dục đồng giới. Năm 2009-2010, dưới sự chỉ đạo
của Cục Phòng chống HIV/AIDS - Bộ Y tế, Viện Vệ Sinh Dịch tễ Trung ương đã tiến hành điều tra IBBS
vòng II trên các nhóm Tiêm chích ma túy, Phụ nữ mại dâm và Nam quan hệ tình dục đồng giới tại các
tỉnh thuộc vòng I và thêm năm tỉnh là Nghệ An, Yên Bái, Đồng Nai, Điện Biên, và Lào Cai. Số liệu của
hai vòng điều tra IBBS cũng đã cung cấp 8 trong 21 chỉ số mà Chính phủ Việt Nam trả lời cho Liên hợp
quốc. Đây là một trong những nghiên cứu quan trọng không những cung cấp số liệu cho việc nắm
được tình hình diễn biến dịch HIV/STI trong cả nước để đưa ra các biện pháp can thiệp hiệu quả, cung
cấp các chỉ số quan trọng cho chính phủ trả lời cho Liên hiệp quốc mà còn giúp chúng ta tính tỷ lệ mới
Người Tiêm chích ma túy: Tỷ lệ hiện nhiễm HIV tại một số tỉnh ổn định ở mức cao, tuy nhiên tỷ lệ sử
dụng chung bơm kim tiêm vẫn ở mức cao và tỷ lệ sử dụng bao cao su vẫn ở mức thấp
Trong bảy tỉnh được khảo sát cả hai năm 2006 và 2009, chỉ có TP.HCM có tỷ lệ nhiễm HIV
tăng có ý nghĩa thống kê từ 34% lên 46%, trong khi tỷ lệ hiện nhiễm giảm có ý nghĩa thông
kê tại Hải Phòng và Cần Thơ. Tỷ lệ hiện nhiễm tại An Giang có tăng đôi chút nhưng không
có ý nghĩa thống kê. Ba tỉnh còn lại là Hà Nội, Đà Nẵng và Quảng Ninh đã giảm tỷ lệ hiện
nhiễm nhưng không có nghĩa thông kê. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm TCMT tăng, tuy
nhiên tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm mới tiêm chích đã giảm từ 28% trong năm 2006 xuống
5% trong năm 2009, điều này gợi ý bằng chứng ban đầu của việc giảm tỷ suất nhiễm mới.
Hải Phòng là tỉnh có mức giảm tỷ lệ hiện nhiễm nhiều nhất, từ 66% xuống 48%. Mặc dù
nhìn chung tỷ lệ hiện nhiễm HIV đã giảm, tuy nhiên vẫn còn ở mức cao ở tất cả các tỉnh
được khảo sát, dao động từ 16% ở An Giang tới 56% ở Điện Biên, ngoại trừ Đà Nẵng có tỷ
lệ hiện nhiễm 1%.
Tỷ lệ sử dụng chung bơm kim tiêm ở mức tương đối cao trong phần lớn các tỉnh được khảo
sát. Tỷ lệ người TCMT báo cáo có sử dụng chung bơm kim tiêm trong 6 tháng qua là 24% và
trong 1 tháng vừa qua là 15%. Trên 20% người TCMT báo cáo có sử dụng chung bơm kim
tiêm trong 6 tháng qua ở tất cả các tỉnh ngoại trừ 3 tỉnh (Hải Phòng, Cần Thơ và An Giang),
và tỷ lệ này lên tới 35% ở Lào Cai. Điểm đáng quan tâm là trong nhóm TCMT nhiễm HIV, phần
lớn (lên tới 82% ở Quảng Ninh) báo cáo đã từng sử dụng chung bơm kim tiêm, ngoại trừ An
Giang và Hải Phòng. So sánh số liệu giữa 2006 và 2009, sử dụng chung bơm kim tiêm trong 6
tháng qua đã giảm ở Hải Phòng, TP. HCM, Cần Thơ, và An Giang, tăng lên ở Hà Nội và Quảng
Ninh, và không thay đổi ở Đà Nẵng.
Sử dụng bao cao su thường xuyên, được định nghĩa là luôn luôn sử dụng bao cao su trong
các lần QHTD. Tỷ lệ sử dụng bao cao su thường xuyên trong 12 tháng qua của nhóm TCMT ở
mức thấp với bạn tình thường xuyên, là vợ và bạn gái (từ 15%-56%) và ở mức cao với PNMD
(từ 39%-84%). Trong nhóm TCMT nhiễm HIV, cỡ mẫu ở một vài tỉnh quá nhỏ để có thể rút ra
kết luận khẳng định, tuy nhiên vẫn có thể ước tính khoảng 1/3 không sử dụng bao cao su
8
thường xuyên với bạn tình thường xuyên. QHTD không an toàn với PNMD ít thay đổi so với
2006, ngoại trừ việc sử dụng bao cao su thường xuyên tăng lên ở An Giang (45% lên 73%),
Nội năm 2009 thấp hơn năm 2006, tỷ lệ hiện nhiễm Chlamydia trong nhóm MDĐP ở TP. HCM
năm 2009 (11%) cao hơn năm 2006 (6%). Tỷ lệ hiện nhiễm Lậu ở mức thấp và hiếm gặp ở cả
hai thành phố. Tỷ lệ hiện nhiễm Giang mai vẫn ở mức thấp trong nhóm PNMD, ít hơn 2% ở
tất cả 10 tỉnh được khảo sát.
Trong khi tỷ lệ sử dụng bao cao su thường xuyên với khách quen trong lần quan hệ tình dục
gần nhất được báo cáo ở mức cao, ở phần lớn các tỉnh, thì tỷ lệ sử dụng bao cao su thường
xuyên trong tháng qua có sự khác biệt đáng kể, và đặc biệt là thấp ở Hà Nội, TP. HCM và
9
Đồng Nai. PNMD báo cáo sử dụng bao cao su thường xuyên với khách lạ hơn là với khách
quen. Số liệu từ Hà Nội và TP. HCM là đáng lo ngại. Đối với cả MDĐP và MDNH, tỷ lệ sử dụng
bao cao su thường xuyên giảm đáng kể với cả khách lạ và khách quen. Tại TP. HCM, tỷ lệ sử
dụng bao cao su thường xuyên trong nhóm MDĐP giảm hơn một nửa từ 69% xuống 31%
đối với khách lạ, và 64% xuống 27% đối với khách quen.
Tiêm chích ma túy là yếu tố quan trọng làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV cho nhóm PNMD
và được xem là ở mức cao tại Hà Nội, Hải Phòng, TP. HCM, và Cần Thơ. MDĐP dường như báo
cáo tiêm chích ma túy nhiều hơn MDNH (8% so với 13% tại TP.HCM; 5% so với 15% tại Hà Nội;
4% và 18% tại Hải Phòng và 1% so với 16% tại Cần Thơ).
Hơn 10% MDĐP báo cáo có bạn tình là người TCMT ở 4 tỉnh, và mức này là trên 5% ở 9 tỉnh
được điều tra. Đặc biệt, tỷ lệ này lớn hơn 20% ở Hà Nội. Có 12% MDNH tại Hà Nội báo cáo có
bạn tình là người TCMT, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các tỉnh được điều tra.
Xét nghiệm HIV trong nhóm PNMD đã tăng lên tuy nhiên vẫn còn ở mức thấp ở tất cả các
tỉnh ngoại trừ một vài tỉnh như Hải Phòng, Đà Nẵng và Nghệ An. MDĐP có xu hướng xét
nghiệm và nhận kết quả nhiều hơn MDNH. Xét nghiệm tại các tỉnh mới được khảo sát là Lào
Cai và Yên Bái ở mức thấp hơn rất nhiều so với các tỉnh khác. Phân tích số liệu giữa nhóm
MDNH và MDĐP cho thấy có sự khác biệt về tỷ lệ tiếp cận với bao cao su miễn phí/ giá rẻ ở
một số tỉnh. Nhìn chung, tỷ lệ MDĐP báo cáo tiếp cận được với bao cao su miễn phí/ giá rẻ
cao hơn MDNH. Trên 80% MDĐP ở Hải Phòng, An Giang, Cần Thơ và Nghệ An báo cáo tiếp
cận được với bao cao su miễn phí/ giá rẻ trong 6 tháng qua.
Nam quan hệ tình dục đồng giới: Nhiễm HIV và STI vẫn ở mức cao, các nguy cơ vẫn đa dạng
Tỷ lệ nhiễm HIV và STI trong nhóm MSM ở trên mức 10% ở ba trong bốn tỉnh được khảo sát,
Xét nghiệm HIV trong nhóm MSM ở mức thấp (ít hơn 30%) ở cả 4 tỉnh MSM được khảo sát. So
sánh giữa năm 2006 và 2009, TP. HCM có tỷ lệ MSM được xét nghiệm và nhận kết quả giảm
mạnh nhất (từ 24% xuống 19%).
Tỷ lệ MSM nhận được bao cao su miễn phí trong vòng 6 tháng qua tại 3 tỉnh/thành phố Hà
Nội, TP. HCM, Cần Thơ dao động trong khoảng từ 42% đến 65%. Tỷ lệ này trong nhóm MSM
ở Hải Phòng là rất thấp, đặc biệt là trong nhóm MSM có bán dâm (7%). So sánh số liệu giữa
2006 và 2009, tỉ lệ nhận bao cao su miễn phí trong nhóm MSM tăng ở Hà Nội và TP. HCM.
11
1. Xác định tỷ lệ hiện nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong các nhóm nguy
cơ cao về lây nhiễm HIV bao gồm TCMT , PNMD và MSM tại 12 tỉnh/thành phố bao gồm Hà Nội,
Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Yên Bái, Lào Cai, Điện Biên, Đà Nẵng, Đồng Nai, TP. HCM, Cần
Thơ và An Giang.
2. Xác định tỷ lệ các hành vi nguy cơ liên quan đến lây nhiễm HIV/STI, bao gồm các hành vi an toàn
và các hành vi nguy cơ cao trong các nhóm nguy cơ cao tại các tỉnh/thành phố nghiên cứu.
3. Xác định độ bao phủ của các can thiệp dự phòng HIV/AIDS tại các tỉnh nghiên cứu
Mục tiêu
12
I. THIếT kế NGHIêN CứU
Nghiên cứu này sử dụng điều tra cắt ngang để tuyển chọn các đối tượng nghiên cứu từ cộng
đồng ở các tỉnh được lựa chọn. Số liệu nghiên cứu bao gồm thông tin về hành vi và tiếp cận
với các can thiệp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp với cá nhân bởi điều tra viên
đã được đào tạo. Các số liệu sinh học cũng được thu thập qua xét nghiệm các mẫu máu,
nước tiểu và ngoáy hậu môn. Điều tra cắt ngang được lặp lại trên các quần thể nghiên cứu
tại các địa điểm nghiên cứu được lựa chọn từ vòng I diễn ra từ tháng 12, 2005 đến tháng 6,
2006. Phương pháp chọn mẫu bao gồm chọn mẫu cụm - thời gian (TLS) và Chọn mẫu dây
chuyền có kiểm soát (RDS). Mẫu máu được thu thập ở tất cả các quần thể nghiên cứu để làm
xét nghiệm HIV và Giang mai. Mẫu nước tiểu và ngoáy hậu môn được thu thập trong nhóm
PNMD và MSM ở một số tỉnh lựa chọn để làm xét nghiệm Lậu và Chlamydia.
Thiết kế nghiên cứu này giống với thiết kế được thực hiện năm 2006 để đảm bảo tính tương
An, Yên Bái, Lào Cai, Điện Biên và Đồng Nai. Các tỉnh này được đưa vào khảo sát vì tình hình
dịch ở đây có những diễn biến phức tạp và đây cũng là các tỉnh có các chương trình can
thiệp dự phòng toàn diện được hỗ trợ bởi nhiều tổ chức bao gồm PEPFAR, Ngân hàng Thế
giới, Quỹ toàn cầu.
IV. CÁC CHỉ SỐ NGHIêN CứU
Các chỉ số chính trong nghiên cứu vòng II này về cơ bản không thay đổi so với vòng I, các
chỉ số này được lựa chọn phù hợp với các chỉ số của chương trình quốc gia hoặc UNGASS,
bao gồm
Kiến thức và thái độ đối với HIV/AIDS
Kiến thức về STI và hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc khi mắc STI
Tỉnh TCMT PNMD MSM Quận huyện/thành phố (địa điểm nghiên cứu)
Hà Nội
ü ü ü
Đống Đa, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân, Cầu Giấy
Hải Phòng
ü ü ü
Lê Chân, Hồng Bàng, Ngô Quyền, Hải An
Quảng Ninh
ü ü
Bãi Cháy, Hòn Gai, Cẩm Phả
1
Nghệ An*
ü ü
Thành phố Vinh, Thị trấn Cửa Lò, Diễn Châu
Yên Bái*
ü ü
Thành phố Yên Bái, Văn Chấn, Nghĩa Lộ
Lào Cai*
Hành vi tình dục trong đó bao gồm số lượng bạn tình và các loại bạn tình (“mại dâm”,
“thường xuyên” và “không thường xuyên”, nam giới và nữ giới)
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV, giang mai, lậu và chlamydia
Sử dụng ma túy và chất gây nghiện (bao gồm tiêm chích ma túy và dùng chung BKT)
Nhận thức về nguy cơ lây nhiễm HIV và STI
Tiếp cận các can thiệp dự phòng HIV/AIDS
V. Cỡ MẫU VÀ PHƯƠNG PHÁP CHọN MẫU
1. C mu
Các chỉ số từ IBBS Vòng I được sử dụng để tính toán cỡ mẫu cần thiết của các quần thể
nghiên cứu trong Vòng II. Sử dụng cỡ mẫu hữu hiệu đối với chọn mẫu cụm, phương pháp
chọn toàn bộ, và chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống trong IBBS II, cỡ mẫu được tính toán dựa
vào công thức:
n = D *
Z
1-α
2P (1 – P ) +Z P1(1– P1) + P 2(1– P 2)
[ ]
2
(P
2
– P
1
)
2
1-β
Trong đó:
và quần thể, bao gồm MDĐP ở Quảng Ninh, Nghệ An Yên Bái và Cần Thơ và MDNH ở Hải
Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Yên Bái và Lào Cai. Sơ đồ 1 mô tả phương pháp chọn mẫu sử
dụng các đặc điểm quần thể. Để đảm bảo sự tương thích giữa hai vòng IBBS, phương pháp
lấy mẫu, là RDS hoặc TLS, được áp dụng trong Vòng 1 cũng được lặp lại trong Vòng II.
Tỉnh/thành phố TCMT MDNH MDĐP MSM
Hà Nội 300 300 300 399
Hải Phòng 300 300 300 400
Quảng Ninh 300 298 159
Nghệ An 300 274 282
Yên Bái 360 123 151
Lào Cai 300 160
Điện Biên 300
Đà Nẵng 291 251 300
Đồng Nai 300 300 300
Tp. HCM 310 305 300 399
Cần Thơ 277 354 138 398
An Giang 300 263 300
Tổng cộng 3.638 2.768 2.690 1.596
Bảng 2: Cỡ mẫu thực tế – IBBS vòng II, 2009
16
Tiêm chích
ma túy
Phụ nữ mại dâm
đường phố
Phụ nữ mại dâm
nhà hàng
Nam quan hệ
tình dục
đồng giới
Hà Nội RDS TLS TLS RDS
Không
PHƯƠNG PHÁP
17
2.1 Chn mu cm - thi gian (TLS)
Sử dụng cách lấy mẫu cụm hai giai đoạn
Giai đoạn I: Phát triển khung mẫu và lựa chọn các cụm
Giai đoạn II: Tuyển chọn các đối tượng nghiên cứu
Giai đoạn 1: Xây dựng khung mẫu và lựa chọn chùm
Bản đồ các tụ điểm từng nhóm quần thể, nơi các cá thể có thể tiếp cận được nhằm tuyển
chọn họ tham gia nghiên cứu, được xây dựng ở từng tỉnh, thành phố. Quá trình lập bản đồ
kéo dài trong khoảng 2 tuần cho mỗi nhóm quần thể tại các khu vực được chọn (Xem bảng
1: Khu vực tuyển chọn người tham gia nghiên cứu). Trước khi triển khai lập bản đồ các nhóm
đối tượng nghiên cứu, một khóa tập huấn 3 ngày được tổ chức tại mỗi tỉnh, thành phố. Khóa
tập huấn cung cấp các phương pháp giúp xác định được thành viên của các nhóm quần thể,
cách tiếp cận họ, ước lượng và ghi nhận kích cỡ quần thể tại mỗi tụ điểm. Kỹ năng phỏng
vấn cũng được cung cấp trong khóa tập huấn này. Cán bộ tham gia quá trình lập bản đồ do
các cơ quan chức năng về phòng chống AIDS tuyến tỉnh lựa chọn, bao gồm cán bộ Sở Y tế,
Trung tâm Y tế dự phòng, hoặc trung tâm phòng chống AIDS tuyến tỉnh, nhân viên y tế tại
quận huyện, cán bộ xã hội và cán bộ của Hội liên hiệp phụ nữ và Đoàn thanh niên.
Các cán bộ lập bản đồ tới các khu vực được phân công và xác định các tụ điểm có thể có các
nhóm quần thể nghiên cứu. Thông qua những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với một số người cung
cấp thông tin chính, nhóm cán bộ bắt đầu quá trình lập bản đồ từ một vài tụ điểm được xác
định ban đầu, sau đó áp dụng phương pháp hòn tuyết lăn (snowballing) để tìm kiếm thêm
các tụ điểm khác trong địa bàn được phân công. Ở mỗi tụ điểm, để thu thập được thông tin
về kích cỡ quần thể và cách tiếp cận với từng đối tượng mục tiêu, các cuộc phỏng vấn nhanh
với nhân viên bảo vệ, chủ nhà hàng, những người ở khu vực lân cận được tiến hành, hoặc có
thể thông qua đếm trực tiếp. Thông tin của mỗi tụ điểm được ghi lại vào phiếu thu thập số
liệu trong đó nêu rõ địa chỉ, các dấu hiệu đặc biệt để nhận biết và 3 ước tính về kích cỡ quần
đến khi đạt được cỡ mẫu phân bổ cho tụ điểm đó
Tất cả các cá nhân hội đủ điều kiện tham gia nghiên cứu được giải thích tóm tắt về mục
đích của nghiên cứu và được phát giấy mời tham gia có ghi đầy đủ thông tin cơ bản về
nghiên cứu, địa chỉ các trung tâm nghiên cứu nơi thu thập số liệu, và ngày hẹn phỏng vấn.
Nếu quá ngày hẹn 2 tuần mà cá nhân được chọn không đến trung tâm nghiên cứu, người
thay thế sẽ được lựa chọn tại chính tụ điểm đó. Sau nhiều nỗ lực tuyển chọn nhằm đạt đủ
cỡ mẫu phân bổ, nhưng vẫn không thể đạt được, có thể tiến hành lựa chọn người tham
gia ở các tụ điểm gần nhất trong khung mẫu để thay thế. Toàn bộ kế hoạch thay thế này
đều được Viện VSDTTƯ xem xét và phê chuẩn sau khi tham khảo ý kiến của các cán bộ tại
địa phương.
2.2. Phương pháp chn toàn b
Sau quá trình lập bản đồ, nếu ước tính kích cỡ quần thể nghiên cứu nhỏ hơn cỡ mẫu dự kiến,
phương pháp chọn toàn bộ sẽ được sử dụng. Nhóm nghiên cứu đến toàn bộ các tụ điểm
được liệt kê, với sự trợ giúp của các giáo dục viên đồng đẳng, tiếp cận với các cá nhân đủ
điều kiện tham gia, giải thích mục đích, và phát giấy mời tham gia nghiên cứu (giống giấy
mời dùng trong chọn mẫu chùm nêu trên).
2.3. Chn mu ngu nhiên h thng
Sau khi vẽ bản đồ, nếu ước tính kích cỡ quần thể vào khoảng 2 lần cỡ mẫu yêu cầu, phương
pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống sẽ được sử dụng. Nhóm nghiên cứu sẽ đến tất cả các
điểm trên bản đồ và cứ hai đối tượng phù hợp với nghiên cứu sẽ chọn ra một người tham
gia nghiên cứu. Trong trường hợp không nhận được cỡ mẫu đủ lớn sau khi đã đi tất cả các
điểm, thủ tục này sẽ được lặp lại cho đến khi đạt được cỡ mẫu.
PHƯƠNG PHÁP
19
2.4. Chn mu dây chuyn có kim soát (RDS)
Chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát là phương pháp chọn mẫu dây chuyền thông qua sự
giới thiệu của chính những người được phỏng vấn. Tuy nhiên không hoàn toàn giống với
phương pháp hòn tuyết lăn “snowball”, phương pháp này cho chúng ta ước tính chính xác
về những biến số nghiên cứu của quần thể (Heckathorn, 1997). Phương pháp chọn mẫu này
20
1.4. Tp hun nhân viên
Một khóa tập huấn 3-4 ngày được tổ chức tại mỗi tỉnh, thành phố trước giai đoạn thu thập
số liệu. Nội dung tập huấn bao gồm kiến thức về HIV/AIDS và hành vi nguy cơ, thiết kế
nghiên cứu, các kỹ năng phỏng vấn, sử dụng bộ câu hỏi, cách tiếp cận các nhóm quần thể
nghiên cứu, số liệu, bảo quản và vận chuyển mẫu, và theo dõi hướng giám sát việc thu thập
số liệu. Điều tra viên thực hành đóng vai hoặc thảo luận với các giáo dục viên đồng đẳng
đang làm việc cho các chương trình can thiệp đang được triển khai trên địa bàn. Các cán bộ
xét nghiệm tham gia nghiên cứu được các cán bộ xét nghiệm của Viện VSDTTƯ tập huấn về
cách thu thập mẫu bệnh phẩm, bảo quản và tiến hành xét nghiệm tuân thủ theo Hướng dẫn
quốc gia về xét nghiệm HIV và STI.
2. Trung tâm nghiên cu và quá trình thu thp s liu
Các trung tâm nghiên cứu được thiết lập nhằm thu thập số liệu hành vi và mẫu bệnh
phẩm sinh học. Mỗi nhóm quần thể có một trung tâm nghiên cứu riêng trên địa bàn
nghiên cứu. Sau đây là các yếu tố được cân nhắc xem xét khi lựa chọn địa điểm làm trung
tâm nghiên cứu:
Khoảng cách hợp lý về mặt địa lý với các tụ điểm nhóm quần thể nghiên cứu. Trường hợp
khu vực nghiên cứu lớn (vd. TP. HCM), một vị trí tại khu vực trung tâm gần với các đối
tượng nghiên cứu sẽ được chọn lựa.
Đủ chỗ và không gian dành cho khu vực đón tiếp, phòng phỏng vấn và phòng thu thập
mẫu bệnh phẩm. Các yếu tố liên quan đến tính bảo mật, riêng tư và tôn trọng người
tham gia là các yếu tố quan trọng trong quá trình xem xét, chọn lựa.
Phải có đầy đủ điện, nước máy, và khu vệ sinh
Vị trí thuận tiện và dễ tìm
Mỗi một trung tâm nghiên cứu đều có ba khu vực riêng biệt: Khu tiếp đón, phòng phỏng
vấn, và phòng lấy mẫu bệnh phẩm, bao gồm khu vực được bố trí dành cho tư vấn cá nhân.
o
C) trong ngày về phòng xét nghiệm tỉnh/thành phố. Các xét
nghiệm được tiến hành tại phòng xét nghiệm đó, trả kết quả sau 2 tuần. Các mẫu được tiếp
tục bảo quản ở -20
o
C đến -80
o
C đến khi chuyển về Viện VSDTTƯ.
Những người tham gia nghiên cứu nhận được một số tiền từ 50.000-100.000 đồng tuỳ thuộc
vào đối tượng và địa bàn nghiên cứu, tương đương với 3 - 5 USD để bù đắp cho thời gian họ
dành cho nghiên cứu. Các đối tượng RDS còn được nhận khoản tiền hỗ trợ thêm (khoản thứ
2) cho việc giới thiệu và tuyển chọn bạn của mình tham gia vào nghiên cứu.
Thu thập số liệu được thực hiện từ tháng 6, 2009 đến tháng 2, 2010 ở toàn bộ 12 tỉnh.
VII. THeO dõI VÀ kIểM ĐỊNH CHấT LƯợNG
Cán bộ trung ương từ Viện VSDTTƯ, FHI 360, UNODC và US CDC chịu trách nhiệm tập huấn
điều tra viên ở tỉnh về quá trình thu thập số liệu cũng như hỗ trợ kỹ thuật và định hướng cho
họ trong cuộc khảo sát. Cán bộ kỹ thuật của Viện VSDTTƯ, Pasteur TP. HCM, và Viện vệ sinh
Dịch tễ Tây Nguyên chịu trách nhiệm giám sát thực địa. Cán bộ của trung tâm phòng chống
AIDS tỉnh cũng hỗ trợ công tác giám sát. Các giám sát viên cùng làm việc với nhau khi lập
bản đồ, tuyển chọn các đối tượng nghiên cứu theo khung mẫu, phỏng vấn và thu thập mẫu
bệnh phẩm tại cơ sở nghiên cứu. Tất cả mọi vấn đề phát sinh đều được báo cáo tới các giám
sát viên Quốc gia với sự hỗ trợ kỹ thuật từ FHI 360 và CDC.
VIII. QUảN Lý VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
1. Nhp s liu và làm sch s liu
Một nhóm nhập số liệu độc lập sẽ nhập các số liệu vào cơ sở dữ liệu Epidata được phát triển
và bảo lưu tại Viện VSDTTƯ. Việc nhập số liệu kép được thực hiện với 25% số bản ghi để phát
hiện những sai sót có thể có. Nếu phát hiện sai sót ở trên 10% số liệu nhập kép, 25% số các
bản ghi khác sẽ được chọn ngẫu nhiên để xem xét nhập lại lần hai.
Tên các biến số trong bộ số liệu Vòng II được xây dựng giống Vòng I. Sau khi việc nhập số
liệu kết thúc, tất cả bộ số liệu được phân tích đảm bảo tính hợp lệ và trình tự logic giữa các
hoặc MSM nói chung, đó chỉ là các ước tính cho quần thể TCMT được lấy mẫu ở Hà Nội, Đà
Nẵng, TP. HCM, Cần Thơ và MSM được lấy mẫu ở Hà Nội, Hải Phòng, TP. HCM, và Cần Thơ.
3. Các k thut xét nghim
3.1. Xét nghim HIV
Xét nghiệm HIV được thực hiện theo phương cách III của Bộ Y tế, với hai xét nghiệm hấp thụ
miễn dịch gắn men (ELISA) và một xét nghiệm nhanh. Xét nghiệm HIV được thực hiện tại
các phòng xét nghiệm được phép khẳng định HIV dương tính. Mười phần trăm các mẫu âm
tính và năm phần trăm số mẫu dương tính sẽ được lựa chọn ngẫu nhiên để làm xét nghiệm
đảm bảo chất lượng tại Phòng xét nghiệm chuẩn Quốc gia tại Viện VSDTTƯ. Quy trình xét
nghiệm của Bộ y tế được trình bày trong phụ lục 3.
PHƯƠNG PHÁP
23
3.2. Xét nghim Giang mai
Xét nghiệm huyết thanh học Giang mai được tiến hành trên mẫu huyết thanh sử dụng kỹ
thuật rapid plasma reagin (RPR) và kỹ thuật ngưng kết hồng cầu thụ động (TPHA) để khẳng
định. Bệnh nhân được khẳng định là nhiễm Giang mai được điều trị khi có mẫu huyết thanh
dương tính với cả hai xét nghiệm. Quy trình xét nghiệm được trình bày trong phụ lục 4.
3.3. Xét nghim Lu (N. gonorrhea) và Chlamydia (C. trachomatis)
Xét nghiệm N. gonhorhea và C. trachomatis được tiến hành sử dụng kỹ thuật phản ứng
khuếch đại gen (PCR). Các mẫu bệnh phẩm được lấy là mẫu nước tiểu nhóm PNMD và MSM
và mẫu ngoáy hậu môn nhóm MSM. Các mẫu này được lấy ở các trung tâm nghiên cứu,
được bảo quản -20ºC tại phòng xét nghiệm của Trung tâm Y tế Dự phòng Tỉnh hoặc Trung
tâm Phòng chống AIDS tỉnh. Tất cả các mẫu bệnh phẩm sau đó được chuyển đến phòng xét
nghiệm tại Viện VSDTTƯ và xét nghiệm theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Đối tượng nghiên cứu dương tính với xét nghiệm HIV và giang mai khi quay lại lấy kết
quả đều được nhận hoặc giới thiệu những dịch vụ chăm sóc thích hợp: được điều trị miễn
phí nếu phát hiện bị bệnh giang mai, và được giới thiệu chuyển đến các dịch vụ hỗ trợ và
chăm sóc HIV nếu phát hiện bị nhiễm HIV. Quy trình tư vấn và trả kết quả được thực hiện
như sau:
Các buổi thảo luận với người sử dụng lao động (chẳng hạn như chủ quán bar, Karaoke)
nhằm làm rõ mục đích nghiên cứu. Điều tra viên không thu thập thông tin cá nhân người
tham gia và điền vào bất kỳ biểu mẫu số liệu nào, không có thông tin nào được cung cấp
cho người sử dụng lao động và sự tham gia là hoàn toàn tự nguyện. Điều tra viên tuyệt
đối không can thiệp ảnh hưởng tới việc tuyển dụng của người sử dụng lao động.
Thông tin về nghiên cứu được chuyển tải tới quần thể nghiên cứu thông qua các tổ chức
Phi Chính Phủ, qua các buổi làm việc trực tiếp với các nhóm, tổ chức các buổi giáo dục tại
nơi làm việc hoặc thông qua các đồng đẳng nhằm thông báo trước khi tuyển chọn người
tham gia nghiên cứu. Tại những buổi thảo luận, các vấn đề có liên quan đến nghiên cứu
được đưa ra giải thích và trả lời rõ ràng
Trước khi tuyển chọn, cán bộ nghiên cứu giải thích cho những người có đủ điều kiện,
được chọn tham gia nghiên cứu các thủ tục nghiên cứu một cách chi tiết và trả lời tất cả
các câu hỏi thắc mắc của họ. Cán bộ nghiên cứu luôn nhấn mạnh rằng nếu người tham
gia quyết định thôi không tham gia nghiên cứu nữa, quyết định đó không hề ảnh hưởng
tới các dịch vụ mà họ đang được các tổ chức hay phòng khám cung cấp. Chữ ký của
người làm chứng, và chữ ký của cán bộ nghiên cứu cùng được thu thập trong thoả thuận
tham gia nghiên cứu
Đây là nghiên cứu vô danh. Không có tên hoặc đặc điểm nhận dạng cá nhân nào được
thu thập. Tất cả các bộ câu hỏi và các mẫu bệnh phẩm sinh học đều được dán mã số
nghiên cứu riêng. Người tham gia nghiên cứu được phát một phiếu hẹn mang mã số
riêng của họ và họ dùng phiếu này để nhận kết quả xét nghiệm, tư vấn cá nhân, chữa STI
miễn phí. Do không có các đặc điểm nhận dạng nên không thể xác định ai có xét nghiệm
dương tính hoặc xác định ai tham gia và ai không tham gia vào nghiên cứu. Tại thời gian
và địa điểm nhất định, người tham gia đến để nhận kết quả xét nghiệm sử dụng phiếu
hẹn trả kết quả.