Lời mở đầu
1 -Tính cấp thiết của đề tài.
Phát triển nền kinh tế thị trường, nền kinh tế mở thì hoạt động ngoại thương
là tất yếu đối với bất cú quốc gia nào. Chính phủ Việt Nam xác định để phát
triển nền kinh tế thì hoạt động XNK được ưu tiên hàng đầu.
Để tham gia hoạt động ngoại thương bất cứ đơn vị kinh tế nào cũng cần có
vốn. Do đó tín dụng ngân hàng tham gia vào hoạt động ngoại thương như là một
tất yếu. Tín dụng XNK của các NHTM giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội đổi
mới công nghệ, thiết bị hiện đại góp phần nâng cao chất lượng hàng hoá XK. Tín
dụng XNK đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất, tạo
công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế
quốc gia .
Trong giai đoạn hiện nay Việt Nam đang được biết đến là một nền kinh tế
mới nổi, có môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn. Do đó có nhiều thuận lợi lớn
để đẩy mạnh hoạt động XNK. Các doanh nghiệp Việt Nam chắc chắn sẽ nắm lấy
cơ hội này để tích cực tham gia vào lĩnh vực kinh doanh XNK. Từ đó nhu cầu về
vốn của họ trong hoạt động này cũng rất lớn. Đây chính là cơ hội thuận lợi để
các NHTM Việt Nam mở rộng hoạt động tín dụng XNK. Từ đó làm tăng và đa
dạng hoá nguồn thu nhập của các ngân hàng. Một mặt mở rộng hoạt động tín
dụng XNK giúp cho các ngân hàng mở rộng hình ảnh của mình ra thị trường thế
giới. Đây là điều kiện thuận lợi để ngành ngân hàng hội nhập với ngành ngân
hàng thế giới. Tuy nhiên hiện nay các NHTM lại đang có nhiều bất cập trong
việc mở rộng hoạt động tín dụng XNK .
Chính vì những lý do đó mà em chọn đề tài “Giải pháp mở rộng hoạt tín
dụng xuất nhập khẩu tại SCB – chi nhánh Hà Nội ”
2 -Mục đích nghiên cứu.
+Phân tích đánh giá thực trạng mở rộng hoạt động tín dụng XNK tại SCB
Hà Nội.
+Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả mở rộng
hoạt động tín dụng XNK tại SCB Hà Nội
3 -Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
PGD Thanh Xuân, địa chỉ Số 70-72 Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội
PGD Thanh Nhàn, 465 Kim Ngưu - Tổ 52 Vĩnh Tuy- Hai Bà Trưng- Hà
Nội
PGD Đống Đa. địa chỉ 136 Nguyễn Lương Bằng - Đống Đa – Hà Nội
PGD Cầu Giấy địa chỉ 233 đường Cầu Giấy – Cầu Giấy – Hà Nội
Quán triệt phương châm “SCB luôn hướng đến sự hoàn thiện vì khách
hàng” cùng với toàn hệ thống của SCB, SCB Hà Nội đã đẩy mạnh phát triển các
dịch vụ ngân hàng hiện đại, nâng cao uy tín và khẳng định được chất lượng phục
vụ của mình. Hiện nay SCB Hà Nội cung cấp tất cả các dịch vụ mà toàn hệ
thống SCB đang cung cấp bao gồm:
-Dịch vụ tài khoản,
-Các sản phẩm tiền gửi,
-Dịch vụ bảo lãnh,
-Tín dụng,
-Kinh doanh ngoại hối,
3
-Thanh toán trong nước,
-Thanh toán quốc tế,
-Các dịch vụ khác nh : dịch vụ chi trả lương, thu chi tiền mặt, uỷ nhiệm
chi, uỷ nhiệm thu…
Quyền hạn của Giám đốc chi nhánh Hà Nội: GĐ SCB Hà Nội chịu trách
nhiệm điều hành chi nhánh Hà Nội và các PGD trực thuộc. Trong phạm vi điều
hành GĐ SCB Hà Nội được thực hiện các công việc sau:
-Ký kết các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh,
chứng thư bảo lãnh, hợp đồng đảm bảo nợ vay, các chứng từ liên quan đến hồ sơ
vay, các chứng từ liên quan đến đăng ký và xoá đăng ký giao dịch đảm bảo,
thông báo giải chấp tài sản và các chứng từ liên quan đén hoạt động của chi
nhánh Hà Nội. Mức giá trị trên mỗi hợp đồng mà GĐ chi nhánh Hà Nội được
quyền ký không được vượt quá hạn mức 50.000.000.000 đồng (năm mươi tỷ
đồng.(
cao hơn năm trước rất nhiều. Có được thành quả này là do SCB Hà Nội đã tạo
được niềm tin cho dân cư còng nh các thành phần kinh tế khác. Đồng thời do
SCB luôn duy trì mức lãi suất tiền gửi ở mức cao và đưa ra nhiều sản phẩm tiền
gửi và hình thức khuyến mại theo từng đối tượng khách hàng. Việc huy động
được lượng tiền gửi lớn từ dân cư sẽ tạo sự ổn định trong nguồn vốn vủa SCB
Hà Nội do đó tạo được sự chủ động trong việc sử dụng vốn của ngân hàng .
Bảng 2: Nguồn vốn phân theo loại tiền gửi Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
2006 2007
Tổng sè (%)-/+ Tỷ trọng Tổng sè (%) -/+ Tỷ trọng
Tiền, vàng gửi
KKH
151.898 1.566 25,7 270.787 78 4,5
-Tiền gửi KKH
bằng VND
151.895 1.566 25,7 254.321 67 4,2
-Tiền gửi KKH
bằng vàng, ngoại tệ
3 50 16.466 548.767 0,3
Tiền, vàng gửi
CKH
438.197 2.040 74,1 5.686.731 1.198 95,4
-Tiền gửi CKH
bằng VND
356.411 1.916 60,3 5.527.006 1.451 92,7
-Tiền gửi CKH
bằng vàng, ngoại tệ
81.786 2.831 13,8 159.725 95 2,7
TGvốn chuyên
dùng
Thương nghiệp
290.210 - 74,2 142.935 -51 13,6
Xây dùng
86.329 - 22,1 471.041 446 44,8
Hoạt động phục vụ
cá nhân và cộng
đồng
10.703 - 2,7 436.261 3.976 41,5
Tổng
391.242 100
1.051.43
7
169 100
)Nguồn : Thuyết minh BCTC năm 2007 SCB Hà Nội(
Trong năm 2005 SCB Hà Nội chỉ hoạt động trong hơn hai tháng và đạt tổng
dư nợ là 111.993 triệu đồng. Đến năm 2006 tổng dư nợ là 391.242 triệu đồng
tăng trưởng 249% so với năm 2005. Năm 2007 tổng dư nợ đạt 1.051.437 triệu
đồng tăng trưởng 169% so với năm 2006. Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2007
thấp hơn năm 2006 không phảI là do hoạt động tín dụng của năm 2007 có chiều
hướng chứng lại mà là do năm 2005 SCB Hà Nộ chỉ mới hoạt động hơn hai
tháng .
6
So với năm 2006 tốc độ tăng trưởng tín dụng ngành chế biến và thương
nghiệp năm 2007 lần lượt giảm 70% và 51% chỉ còn chiếm tỷ trọng là 0,1% và
13,6%. Sự giảm sút này là do SCB Hà Nội tập trung vốn cho ngành Xây dựng vf
hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng. Ngành Xây xùng trong năm 2007 tăng
trưởng 446% đạt 471.041 triệu đồng chiếm 44,8% tổng dư nợ. Hoạt động phục
vụ cá nhân và cộng đồng tăng trưởng 3976% đạt 436.261% chiếm 41,5% tổng
dư nợ. Sở dĩ có sự dịch chuyển này là do năm 2007 khu vực Hà Nội và các tỉnh
lân cận đẩy mạnh phát triển ngành xây dựng đồng thời nhu cầu vốn của khối
39,6
Cho vay khác
0 - 19.400 - 1,9
Tổng
391.242 249 100
1.051.43
7
169 100
)Nguồn : Thuyết minh BCTC năm 2007 SCB Hà Nội(
Năm 2007 tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay cá nhân so với năm 2006 là
1021% đạt 416.861 triệu đồng (chiếm 39,6% tổng dư nợ). Đồng thời tăng trưởng
7
dư nợ tín dụng của công ty TNHH, tư nhân là 111% đạt 176.224 triệu đồng
(chiếm 16,8% tổng dư nợ). Nh vậy có thể thấy SCB Hà Nội đang chiếm lĩnh thị
trường Hà Nội bằng việc hướng đến khối khách hàng cá nhân và các doanh
nghiệp nhỏ.
Qua hơn hai năm hoạt động tại Hà Nội SCB Hà Nội chủ yếu cho vay ngắn
hạn. Tăng trưởng dư nợ tín dụng ngắn hạn so với tăng trưởng dư nợ tín dụng
trung và dài hạn. Năm 2007 tốc độ tăng trưởng tín dụng ngắn hạn là 308% đạt
614.995 triệu đồng (chiếm 58,5% tổng dư nợ). Dư nợ trung hạn tăng 35% đạt
266.664 triệu đồng (chiếm 25,4% tổng dư nợ). Dư nợ tín dụng dài hạn tăng
trưởng 296% đạt 169.778 triệu đồng (chiếm 16,1% tổng dư nợ). Cơ cấu tín dụng
của SCB Hà Nội được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 5: Dư nợ theo thời hạn cho vay.
) Đơn vị tính: Triệu đồng(
Chỉ tiêu 2006 2007
Dư nợ
-/+
(%)
Tỷ trọng
Tổng phí thu dịch vụ (Đơn vị: Đồng(
1.070.915 4.227.273
Số lượng thẻ đã phát hành (Thẻ(
526 515
Trong đó : - Thẻ chuẩn (Thẻ(
96 23
- Thẻ vàng (Thẻ(
44 52
- Thẻ đặc biệt (Thẻ(
386 421
- Thẻ phô (Thẻ(
6 1
- Phát hành lại (Thẻ(
15 18
Số lượng thẻ bị huỷ (Thẻ(
13 21
)Nguồn: Thuyết minh BCTC năm 2007 của SCB Hà Nội(
Hoạt động thanh toán quốc tế:
SCB chính thức tham gia dịch vụ thanh toán quốc tế trực tiếp mới được hơn
hai năm và chính thức trở thành thành viên của mạng thanh toán SWIFT từ hơn
một năm nay nhưng đã có nhiều nỗ lực để trở thành ngân hàng có dịch vụ thanh
toán quốc tế có chất lượng. Sù nỗ lực của SCB đã được ghi nhân khi SCB là
ngân hàng được ngân hàng Wachovia Bank (ngân hàng lớn thứ tư của Mỹ) công
nhận là ngân hàng có dịch vụ thanh toán quốc tế xuất sắc nhất năm 2007 của
Việt Nam.
Đóng góp vào sự thành công đó của cả hệ thống có sự nỗ lực rất đáng ghi
nhận của SCB Hà Nội. Trong năm 2007 SCB Hà Nội đạt được kết quả thu nhập
về nghiệp vụ TTQT nh sau:
10
Biểu đồ 1: Thu nhập từ nghiệp vụ TTQT năm 2007:
nhiều khó khăn, áp lực cạnh tranh ngày gay gắt song năm 2006 và 2007 SCB Hà
Nội vẫn đạt kết quả về lợi nhuận đáng ghi nhận. Chênh lệch thu – chi của SCB
Hà Nội năm 2006 là 11,15 tỷ đồng, năm 2007 là 71,77 tỷ đồng tăng 543,7% so
với năm 2006 (gấp 6,44 lần.(
Bảng 7: Cơ cầu thu nhập của SCB Hà Nội qua các năm ( Đơn vị
tính:Đồng(
Chỉ tiêu
2006 2007
Sè thu Tỷ trọng(%) Sè thu Tỷ trọng(%)
Thu nhập thuần từ lãi
19.444 93,75 93.758 91,79
Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ
1.296 6,25 8.337 8,16
12
Lãi thuần từ hoạt động khác
0,7 0,003 54 0,05
Tổng 20.740,7 100 102.149 100
)Nguồn: Báo cáo KQKD năm 2007 của SCB Hà Nội(
Đóng góp chủ đạo cho thu nhập của SCB Hà Nội là thu từ lãi thuần. Năm
2006 là 19,44 tỷ đồng chiếm 93,75% tổng thu, năm 2007 là 93,76 tỷ đồng chiếm
91,79% tổng thu. SCB Hà Nội cũng đã đẩy mạnh triển khai kinh doanh các dịch
vụ khác. Các dịch vụ này đã làm đa dạng hoá nguồn thu nhập của SCB Hà Nội.
Thu dịch vụ trên tổng thu các năm 2006 và 2007 lần lượt là 6,24% và 8,16%.
Năm 2006 lãi thuần từ hoạt động dịch vụ của SCB Hà Nội chiếm 11,66%
tổng lợi nhuận trước thuế, năm 2007 tỷ lệ này là 11,62%.
Tổng tài sản của SCB Hà Nội tăng mạnh qua các năm. Năm 2006 đạt
1.126,81 tỷ đồng đến năm 2007 đạt 6.627,89 tỷ đồng (gấp 5,88 lần so với 2006.(
Trong năm 2007 SCB Hà Nội có mức đóng góp là 19,89% vào kết quả kinh
doanh của toàn hệ thống SCB (đứng thứ hai sau Sở giao dịch).Năm 2007 có thể
coi là năm thắng lợi lớn của SCB Hà Nội với việc hoàn thành gấp đôi kế hoạch
chứ chưa phải được quyết định bởi chất lượng và tiện Ých của các sản phẩm tiền
gửi. Điều này sẽ làm tăng chi phí và giảm khả năng cạnh tranh trong việc sử
dụng vốn của ngân hàng. SCB Hà Nội cần phải nghiên cứu các phương thức huy
động và các sản phẩm tiền gửi hữu Ých để qua đó thu hót và giữ được khách
hàng của mình.
Tín dụng của SCB Hà Nội tăng trưởng mạnh về số lượng nhưng chưa đa
dạng về chủng loại khách hàng. Tín dụng vẫn chủ yếu tập trung vào số Ýt mặt
hàng. Điều này đã làm giảm khả năng phân tán rủi ro và giảm khả năng khuếch
trương hình ảnh của SCB Hà Nội qua khách hàng.
Nguòn thu của SCB Hà Nội chưa đa dạng và chưa phân tán được rủi ro.
Thu nhập chủ yếu vẫn là thu từ lãi thuần. Thu từ các dịch vụ khác chiếm tỷ trọng
rất thấp trong tổng thu. Đáng tiếc là SCB Hà Nội chưa có nguồn thu từ các
nghiệp vụ như kinh doanh ngoại hối, mua bán chứng khoán kinh doanh, mua bán
chứng khoán đầu tư…Bên cạnh đó có thể thÊy sản phẩm dịch vụ của SCB Hà
Nội cũng như của cả hệ thống SCB chưa phong phú, đa dạng. Các sản phẩm dịch
vụ đưa ra hầu nh chưa được quan tâm và đánh giá về mặt hiệu quả.
Mặc dù mô hình tổ chức mới của hệ thống SCB đã được áp dụng từ đầu
tháng 04/2007 nhưng hiện tại SCB Hà Nội lại chưa triển khai thực hiện. Đây là
nguyên nhân gây khó khăn cho SCB Hà Nội trong việc mở rộng quy mô hoạt
động và chất lượng phục vụ của mình .
Công nghệ mà SCB Hà Nội đang sử dụng hiện tại không đáp ứng được
yêu cầu, gây cản trở tiến độ thực hiện công việc của nhân viên. Hệ thống Smat
14
Bank của ngân hàng đã trở nên lỗi thời và cần được thay thế bởi những hệ thống
tiên tiến hơn.
Công tác khuếch trương thương hiệu của SCB Hà Nội còn nhiều bất cập.
Nó thể hiện ở chỗ trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh lân cận rất Ýt người biết đến
thương của SCB. Khi nói đến “SCB” người ta thường nhầm tưởng đó là của các
ngân hang khác nh Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội hay Sacombank .
1.2 -thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu của scb- chi nhánh hà nội.
2003 20.149 20.6 25.256 27.9 45.405 24.6
15
2004 26.503 31.5 31.954 26.5 58.457 28.7
2005 32.223 21.6 36.881 15.4 69.104 18.2
2006 39.605 22.9 44.410 20.4 84.015 21.6
2007 48.387 22.2 60.830 37 109.217 30
Nguồn:Thời báo kinh tế Việt Nam(2004-2008), báo cáo thường niên của NHNN
Biểu đồ 3: Tổng kim ngạch XNK Việt Nam từ 2002-2007 (ĐVT:Triệu USD(
Nguồn:Thời báo kinh tế Việt Nam(2004-2008), báo cáo thường niên của NHNN
Trong những năm qua hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng mạnh mẽ
chính vì thế mà hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của các NHTM cũng tăng
mạnh .
1.2.1.2 -Tình hình tài trợ xuất nhập khẩu cả các NHTM.
Cùng với sự tăng trưởng của hoạt động xuất nhập khẩu hoạt động tài trợ
xuất nhập khẩu của các NHTM cũng phát triển mạnh. Tuy nhiên đặc điểm dễ
thấy của các NHTM Việt Nam hiện nay là các giải pháp về tín dụng chỉ có tính
tạm thời, phần lớn là tín dụng ngắn hạn, đáp ứng yêu cầu trước mắt, phục vụ cho
từng nhu cầu nhỏ cụ thể và thiếu các dự án đầu tư dài hạn phát triển xuất khẩu,
tín dụng dài hạn chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng dư nợ tín dụng. (đặc điểm này
không chỉ trong tín dụng xuất nhập khẩu mà còn phổ biến trong toàn bộ hoạt
động tín dụng.(
16
Tuy nhiên trong những năm qua còng ghi nhận những cố gắng của các
NHTM Việt Nam trong việc phát triển dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động xuất nhập
khẩu. Các ngân hàng Việt Nam có sự đầu tư mạnh cho công nghệ, trở thành
thành viên của các hiệp hội thanh toán quốc tế, trở thành đại lý của các ngân
hàng mạnh của Thế giới, Đồng thời mở các đại lý văn phòng đại diện ở các nước
trên Thế giới.
Mặc dù vậy các NHTM Việt Nam còn có những hạn chế trong việc phục vụ
cho xuất nhập khẩu sau:
+ Đối với hàng xuất khẩu :
Gồm các hàng hoá : Dệt may, Da giày, Thuỷ sản, Đồ gỗ, Gạo,Cao su,Thủ
công mỹ nghệ.
- Quy trình cấp tín dụng :
Bước 1 : Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn. Thực hiện theo hướng
dẫn khách hàng vay vốn ngắn hạn và tiếp nhân hồ sơ.
Bước 2 : Thẩm định
Bước 3 : Lập tờ trình phê duyệt.
Bước 4 : Thông báo kết quả phê duyệt cho khách hàng.
Bước 5 : Hoàn tất các thủ tục bảo đảm tiền vay và hợp đồng tín dụng.
Bước 6 : Giải ngân.
Bước 7 : Kiểm tra sử dụng vốn vay.
Bước 8 : Kiểm tra tiến độ thực hiện hợp đồng.
Bước 9 : Kiểm soát chứng từ
Bước 10: Kiểm soát dòng tiền .
⇒Thực hiện các phương thức tài trợ XNK:
Hiện nay theo chính sách của SCB Hà Nội triển khai thực hiện các
phương thức tài trợ XNK sau:
Tín dụng tài trợ XK:
Chiết khấu bộ chứng từ :
18
SCB Hà Nội thực hiện phương thức này nhằm bổ sung VLĐ cho các doanh
nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh XNK, góp phần nâng cao hiệu quả và thúc
đẩy sản xuất kinh doanh. Mặt khác, tạo ra những tiện Ých ngân hàng phù hợp
với hoạt động kinh doanh của khách hàng, từ đó thu hót khách hàng và khuyến
khích các doanh nghiệp sử các doanh nghiệp sử dụng sản phẩm dịch vụ của
SCB.
SCB Hà Nội có thể chiết khấu bộ chứng từ lên đến 85% giá trị bộ chứng từ
đối với phương thức thanh toán nhờ thu. Và chiết khấu 95% giá trị bộ chứng từ
đối với phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
5 Gạo =<05 triệu USD/ Năm =<08 triệu USD/ Năm
6 Cao su =<05 triệu USD/ Năm =<08 triệu USD/ Năm
7 Thủ công mỹ nghệ =<01 triệu USD/ Năm =<02 triệu USD/ Năm
)Nguồn: Quy định cho vay XK của SCB(
Điều kiện về năng lực và thị trường của đơn vị xuất khẩu:
Đối với các ngành dệt may, da giày, thuỷ sản, đồ gỗ:
Tình hình sản xuất kinh doanh: hoạt động kinh doanh ổn định trong 3 năm
và có ROE tối thiểu 10%/năm trong 2 năm gần nhất.
Có chứng chỉ quản lý chất lượng.
Xuất khẩu sang Ýt nhất 2 thị trường khác nhau.
Có nhà xưởng thuộc sở hữu của đơn vị XK do mua sắm hoặc đầu tư mà có.
Kinh nghiệm XK của đơn vị XK tối thiểu là 3 năm.
Có uy tín trong ngành hàng XK, có Ýt nhất 3 khách hàng truyền thống.
Có nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định.
Đối với các ngành thủ công mỹ nghệ, gạo, cao su:
Tình hình SXKD: Ngành thủ công mỹ nghệ: hoạt động kinh doanh ổn định
trong 3 năm và có ROE tối thiểu 10%/ năm trong 2 năm gần nhất. Ngành gạo và
cao su: hoạt động kinh doanh ổn định trong 2 năm và có lãI trong 1 năm gần nhất
Kinh nghiệp XK của đơn vị XK tối thiểu là 3 năm.
Có uy tín trong ngành hàng XK, có Ýt nhất 3 khách hàng truyền thống.
Có nhà xưởng thuộc sở hữu của đơn vị XK do mua sắm hoặc đầu tư mà có.
Đơn vị XK gạo và cao su phảI có thêm các điều kiện sau:
Với ngành gạo: Diễn biến tồn kho năm trước cho they đơn vị XK có khả
năng đảm bảo lượng hàng XK.
20
Với ngành cao su: Có nông trường cao su đảm bảo sản lượng bằng tối
thiểu 60% sản lượng XK của đơn vị XK.
Điều kiện theo phương thức thanh toán:
Đối với phương thức L/C:
L/C được phát hành bởi ngân hàng có uy tín, là những ngân hàng nằm trong
Nội.
+Ký quỹ theo tỷ lệ quy định của SCB
+Có TSĐB
+Mở tài khoản thanh toán tại SCB Hà Nội
+L/C phải được mở tại SCB Hà Nội đều phải ghi rõ vận đơn được lập theo
lệnh của SCB Hà Nội.
+Tất cả các lô hàng NK do SCB Hà Nội mở L/C thanh toán đều phải mua
bảo hiểm trên đường vận chuyển (trừ trường hợp khách hàng ký quỹ 100%). Đặc
biệt khi SCB Hà Nội cho vay thanh toán L/C NK và nhận chính lô hàng NK làm
đảm bảo thì khách hàng phải tiếp tục mua bảo hiểm từ lúc nhận hàng đến khi
nhập kho, lưu kho và cho đến lúc tất toán nợ vay (đơn vị hưởng bảo hiểm là SCB
Hà Nội.(
Với các khách hàng có đủ điều kiện vay vốn mở và thanh toán L/C sẽ được
SCB Hà Nội cho vay theo các phương thức vay từng lần, vay theo hạn mức tín
dụng, vay theo dự án đầu tư.
Nếu có nhu cầu khách hàng có thể vay để thanh toán lên đến 90% giá trị
của L/C nhập khẩu.
L/C được mở có thể là trả ngay hoặc trả chậm.
Cho vay dùa trên chứng từ nhờ thu :
Nhờ thu là phương thức thanh toán quốc tế khá phổ biến. Doanh số thực
hiện nhờ thu là khá lớn chỉ sau phương thức thanh loán L/C. Do đó nhu cầu vốn
trong các thương vụ này cũng rất lớn. SCB nói chung và SCB Hà Nội nói riêng
đã có hình thức cho vay dùa trên chứng từ nhờ thu.
Để được vay vốn theo hình thức này ngoài các loại hồ sơ như khoản vay
thông thường SCB Hà Nội còn yêu cầu một số điều kiện sau:
-Khách hàng phải thực hiện thanh toán cho đối tác qua SCB Hà Nội
-Có giấy đề nghị xử lý bộ chứng từ nhờ thu hàng nhập.
22
-Giấy phép nhập khẩu/ hạn ngạch (nếu là nhập khẩu có điều kiện.(
-Các giấy tờ khác có liên quan.
T
Chỉ tiêu 2006 2007
1
Dư nợ tín dụng XNK
10 130
Tăng trưởng so với năm trước(%) - 1.200
2
Tổng nguồn vốn
1.127 6.628
Tăng trưởng so với năm trước(%) - 488
3
Vốn huy động từ dân cư và nền kinh tế
591 5.962
Tăng trưởng so với năm trước(%) - 909
4
Hệ sè dư nợ TD XNK/Tổng nguồn vốn
(%)
0,9 2
5
Hệ sè dư nợ TD XNK/Vốn huy động(%)
1,7 2,2
)Nguồn: Thuyết minh BCTC năm 2007 của SCB Hà Nội(
Qua bảng ta thấy quy mô đầu tư vốn của SCB Hà Nội trong lĩnh vực XNK
so với tổng nguồn vốn còng nh vốn huy động từ dân cư và nền kinh tế là rất thấp.
Năm 2006 các tỷ lệ này lần lượt là 0,9% và 1,7% ; năm 2007 là 2% và 2,2%. Tốc
độ tăng trưởng tín dụng XNK mặc dù cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng
trưởng vốn huy động từ dân cư và nền kinh tế nhưng về quy mô thì tín dụng
XNK lại quá nhỏ bé, chưa khai thác hết nguồn vốn cho tín dụng XNK.
Mặt khác vốn huy động bằng ngoại tệ của SCB Hà Nội còn quá thấp. Năm
2006 vốn huy động bằng ngoại tệ chỉ chiếm 13,8% trong tổng số vốn huy động.
còn quá thấp so với các ngân hàng khác và so với tốc độ tăng trưởng kim ngạch
XNK của Việt Nam trong những năm qua.
* Về cơ cấu dư nợ tín dụng XNK :
Trong hai năm thực hiện cho vay XNK SCB Hà Nội chủ yếu là cho vay NK
còn cho vay XK thì rất hạn chế. Cụ thể: năm 2006 trong 10 tỷ tín dụng XNK thì
tất cả đều là tín dụng dành cho các nhà NK. Năm 2007 trong 130 tỷ tín dụng
XNK chỉ có 4 tỷ là tín dụng cho nhà XK (cấp cho một công ty XK đồ gỗ.(
Như vậy có thể thấy SCB Hà Nội chưa chú trọng đến lĩnh vực tài trợ cho
các mặt hàng XK. Điều này sẽ làm giảm khả năng thu hót ngoại tệ của SCB Hà
Nội.
*Về thực tế thực hiện các sản phẩm tín dụng dành cho hoạt động XNK :
Trong thời gian qua thực tế SCB Hà Nội chỉ mới thực hiện chiết khấu
chứng từ xuất nhập khẩu dành cho những hợp đồng ngoại thương thực hiện
thanh toán theo phương thức L/C. Còn việc thực hiện chiết khấu các chứng từ
XNK cho các hợp đồng ngoại thương thực hiện thanh toán theo phương thức nhờ
thu chưa được tiến hành. Thực tế SCB Hà Nội cũng chỉ cho chiết khấu tối đa từ
60% đến 70% giá trin của bộ chứng từ.
Trong cho vay mở và thanh toán L/C dành cho nhà NK SCB chủ yếu là cho
vay để thanh toán loại L/C trả ngay. Đối với L/C trả chậm lại rất hạn chế tài trợ.
Tỷ lệ cho vay cũng chỉ ở mức tối đa từ 60% đến 70% giá trị của L/C.
Thực tế tại SCB Hà Nội chưa phát sinh việc cho vay dùa vào bộ chứng từ
nhờ thu và cho vay chuyển tiền .
25