HÀN MẠC TỬ – NHÀ THƠ CÓ SỐ PHẬN KỲ L
Hàn Mạc Tử là một nhà thơ có cuộc đời và số phận hết sức lạ kỳ. Trong hơn nữa
thế kỷ qua, rất nhiều cuốn sách bài baó viết về con người này nhưng dường như
vẫn còn nhiều điều không thể nói hết
I – DUYÊN KỲ NGỘ VỚI NHÀ YÊU NƯỚC VĨ ĐẠI
Hàn Mạc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh vào giờ Thìn này 22/09/1912
tại làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình. Lúc còn nhỏ, chàng đã được người anh
đầu là một người rất giỏi thơ Đường Luật động viên, hướng dẫn làm thơ, nhờ thế
chàng có thể sáng tác thành thạo thơ Đường từ rất sớm. Chính những bài thơ này
đã dẫn dắt chàng gặp gỡ nhà yêu nớc vó đại Phan Bội Châu. Và cuộc gặp gỡ đònh
mệnh đó là thay đổi cả cuộc đời chàng về sau.
y là vào năm 1925 , Phan Bội Châu bò thực dân Pháp bắt ở Trung Quốc và
đưa về Việt Nam xét xử. Nhưng dưới áp lực đấu tranh đòi ân xá của các tầng lớp
nhân dân trong nước cũng như dư luận quốc tế, chúng phải đưa nhà yêu nước về
giam lỏng ở Huế. Từ đó Phan Bội Châu trở thành ông già Bến Ngự, sớm lấy văn
thơ làm vui. Để giao lưu tâm tình với bạn hữu và những người đồng chí hướng,
Phan Bội Châu mở ra Mộng Du Thi Xã, kêu gọi mọi người gửi thơ văn đến xùng
hoạ. Lời kêu gọi của nhà yêu nước được hưởng ứng sôi nổi. Thơ từ các nơi gởi về
cho Mộng Du Thi Xã rất nhiều. Và trong số các bài thơ gởi đến, Phan Bội Châu
đặc biệt tâm đắc với ba bài thơ của Hàn Mạc Tử. Chàng đã gởi đến ba bài thơ
Đường Luật có tên là Thức Khuya, Chùa Hoang và Gái Chùa. Đó là vào những
năm 1931.
Những bài thơ của chàng đã xoáy đúng tâm trạng nhà yêu nước. Phan Bội
Châu đã hoạ lại ba bài thơ độc đáo này và cho đăng tất cả trên báo Tràng An,
một tờ báo có nhiều bạn đọc xuất bản ở Huế với lời đề dẫn : “Từ khi về nước đến
nay, được nghe nhiều về thơ Quốc m, song chưa gặp được bài nào hay đến thế.
Hồng Nam Nhạn Bắc, ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cười to một tiếng, ấy
là thỏa hồn thơ”.
Việc xướng họa thơ văn với nhà yêu nước Phan Bội Châu đã làm cho Hàn
Mạc Tử, khi đó lấy bút hiệu Phong Trần, nổi tiếng ngay lập tức. Làng văn xôn xao
trước sự xuất hiện đầy ấn tượng của một thi só mới. Đặc biệt hơn nữa, tác giả còn
nghiệp ở phòng the”, ý nói nhóm làm báo Trong Khuê Phòng số nhờ vào việc
khai thác “ thông tin khuê phòng”, với nhiều câu mỉa mai rất dung tục khiến
chàng bò sốc, không đến toà soạn nữa. Chủ bút phải cử người đến nhà trọ của
chàng lấy bài và an ủi mãi chàng mới trở lại làm việc.
Sài Gòn ít lâu chàng trở nên nổi tiếng. Nhiều chính khách kính nể và đến
làm quen khi biết chàng từng có mối liên hệ với Phan Bội Châu và bò mật thám
pháp theo dõi. Từ đó chàng quan tâm đến những thông tin chính trò. Chàng đi’nh
làm một nhà chính trò chăng ? từ những xướng họa với nhà yêu nước Phan Bội
Châu, bỏ qua cả cơ hội quan trọng là sang Pháp du học đến chỗ giao du với các cá
nhân vật chính trò không đơn thuần là những việc làm ngẫu hứng của một chàng
thanh niên trẻ tuổi. Nhà báo De Lachevrotière, một nghò viên pháp lai da màu rất
thích tìm chàng nói chuyện. Qua De Lachevrotière, chàng quen nhiều nhóm chính
trò khác nhau. Một số nhóm còn bày tỏ thái độ chống Pháp. Tuy nhiên, lâu dần
chàng cảm thấy chán nản khi nhận ra những nhóm chính trò này dù hô hào cách
mạng nhưng họ chỉ là những con bài của Pháp mà thôi.
Đầu năm 1935, chàng về Huế, trong một đêm buồn lang thang trên bến sông
Hương chàng đã làm bài thơ đêm khuya tự tình với sông Hương để tặng Phan Bội
Châu với nhiều tâm sự ray rứt :
“Bây giờ chỉ có đôi ta
Bao nhiêu tâm sự Hằng Nga biết rồi
Thû nước non đến hồi non nước
Sông Hương đành xuôi ngược đông tây
Soi lòng chỉ có đám mây
Đám mây phú qúy những ngày lao đao
Sao mặt sông xanh xao ra dáng
Sao tình sông lai láng không ngăn”
Bài thơ được đăng trên báo Công Luận số ra ngày 2 – 3 – 1935. nhiều câu chữ
bộc lộ rất rõ ý hướng của chàng :
“ Mặc ai khanh tướng công hầu
Không thèm chung đỉnh, lưng bàu gió trăng
III – THỰC HƯ QUANH CHUYỆN TÌNH MỘNG CẦM
Hàn Mạc Tử quen Mộng Cầm trong thời gian phụ trách trang văn chương cho
tờ Trong Khuê Phòng. Mộng Cầm là cháu gọi Bích Khuê bằng cậu, vì “lây nhiễm
tinh thần thơ văn” của ông cậu trẻ tuổi nên cũng tập tành làm thơ gởi báo. Hàn
Mạc Tử đã nhận được một số bài thơ như thế của Mộng Cầm gởi đến và làm quen
với Mộng Cầm.
Hai mươi năm sau ngày Hàn Mạc Tử mất, vào năm 1961, nhà thơ Nguyễn Vỹ,
chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí phổ thông có toà soạn tại Sài Gòn đã cử ông Châu
Mộng Kỳ tìm gặp Mộng Cầm để thực hiện bài phỏng vấn về mối tình Hàn Mạc
Tử – Mộng Cầm. Nhờ mối quan hệ đặc biệt, ông Châu Mộng Kỳ là thầy con riêng
của chồng Mộng Cầm, nên bài phỏng vấn mới thực hiện được. Trước đó nhiều
nhà báo đã bò từ chối. Trong bài trả lời phỏng vấn nói trên đăng ở tạp chí phổ
thông số 63, ra ngày 15 tháng 8 năm 1961, Mộng Cầm đã phủ nhận hoàn toàn
chuyện tình cảm mình và Hàn Mạc Tử : “một dòp thứ bảy đi chơi lầu ng Hoàng,
anh thổ lộ mối tình với tôi. Tôi có trả lời anh : chắc là không thể đi đến chỗ trăm
năm được, tôi nói trước để anh đừng hy vọng. Anh hỏi lý do. Tôi viện lẽ tôn giáo
khác nhau, nhưng thật ra vì biết Hàn Mạc Tử mang chứng bệnh hiểm nghèo,
không thể sống lâu được, ý tôi muốn một người chồng mạnh khỏe, tráng kiện…tuy
vậy chúng tôi vẫn giao thiệp thân mật một hai năm như thế. Trong thời gian này,
có nhiều lần, Hàn Mạc Tử năn nỉ tôi dẫn về Quãng Ngãi thăm nhà và trong nhiều
bức thư anh đề cập đến vấn đề hôn nhân. Tôi vẫn trả lời, nhưng luôn luôn ng
biện để từ chối : em thiết nghó chúng ta sống như thế này thanh cao hơn, tôn giáo
bất đồng, chữ hiếu bắt buột em phải nghe lời thân mẫu em”.
Bài phỏng vấn này đăng lên, Nguyễn Vỹ cho biết Mộng Cầm đã đọc và không
có điều chi thắc mắc và ông kết luận “ đã giải đáp dứt khoát một nghi vấn thường
bò nhiều người xuyên tạc”. Tuy nhiên với đọc giả, bài phỏng vấn của Mộng Cầm
đã gây sốc. Bởi mối tình Hàn Mạc Tử – Mộng Cầm đã được người đời nâng lên
thành huyền thoại. Ngay cả Ngọc Sương dì ruột của Mộng Cầm cũng phản đối.
Rồi Quách Tấn, người ủng hộ việc Mộng Cầm đi lấy chồng khi hay tin Hàn Mạc
Tử bò bệnh nan y cũng giận dữ trước lời phát biểu này. Quách Tấn viết : “cuộc
Hoàng Cúc là người liên quan đến bài thơ tình đẹp nhất trong kho tàng thơ ca
Việt Nam : bài thơ Thôn Vỹ. Nàng tên thật là Hoàng Thò Kim Cúc, sinh ngày
5/12/1913, kém Hàn Mạc Tử 1 tuổi. Cũng như Hàn Mạc Tử, nàng phải theo vào
Quy Nhơn sinh sống vì cha nàng là công chức, làm việc tại Quy Nhơn. Năm 1933,
Tử vào làm cho Sở Đạc Điền Quy Nhơn và quen Hoàng Tùng Ngâm – em thúc bá
của Hoàng Cúc. Hoàng Tùng Ngâm sống trong ngôi nhà nhỏ cạnh nhà Hoàng
Cúc, anh em bè bạn thường tụ tập để chơi đùa, bình phẩm văn thơ. Hoàng Cúc khi
đó cũng đang tập tành viết báo làm thơ với bút hiệu Hoàng Hoa nữ só nên cũng
quen biết Hàn Mặc Tử.
Với bản tính đa tình, Hàn Mặc Tử đã đem lòng say mê Hoàng Cúc. Chàng đã
làm một số bài thơ tặng nàng như bài Vònh Hoa Cúc, Trồng Hoa Cúc… một số bài
đã đến tay Hoàng Cúc qua Hoàng Tùng Ngâm. Hoàng Cúc biết rõ tình cảm của
chàng.
Rồi Hàn Mac Tử vào Sài Gòn làm báo. Sau một thời gian, chàng về lại Quy
Nhơn. Lúc này gia đình chàng đã dời đến cách nhà Hoàng Cúc chỉ vài căn. Tình
xưa dậy sóng trở lại. Giờ đây, chàng ít nhiều bạo dạn hơn trước. Hàn Mặc Tử sáng
tác bài Hồn Cúc : “Bấy lâu sát ngõ, chẳng ngăn tường / Không dám sờ tay sợ lắm
hương / Xiêm áo đêm nay tề chỉnh qúa / Muốn ôm hồn cúc ở trong sương”.
Năm 1936, Hoàng Cúc theo gia đình về Huế sinh sống. Sau đó, nàng bắt đầu ăn
chay trường trở thành cư só, sống cuộc đời lặng lẽ bí ẩn. Cũng trong năm đó, Hàn
Mặc Tử in tập thơ Gái Quê, là tập thơ mới đầu tiên kể từ khi chàng bỏ làm thơ
Đường Luật. Chàng mang theo một số tập Gái Quê ra Huế. Và chàng đã gặp lại
Hoàng Cúc trong một dòp hội chợ nhưng không dám tặng thơ cho nàng. Chàng
cũng tìm đến Vỹ Dạ – nơi ở của Hoàng Cúc – nhưng chỉ đứng ngoài cổng một lúc
rồi bước đi.
Nhiều năm sau đó, giữa hai người không có liên lạc gì với nhau. Một hôm Hoàng
Cúc nghe tin chàng bò bệnh phong, nàng liền gửi thư cho chàng. Và chàng đã cảm
động sáng tác bài Đây Thôn Vỹ Dạ gửi tặng nàng.
Chuyện tình Hoàng Cúc – Hàn Mặc Tử cũng có những điều gây tranh cãi như
trường hợp Mộng Cầm. Bởi Hoàng Cúc đã có lần công khai phủ nhận chuyện
Năm 1936, Hàn Mặc Tử từ Sài Gòn trở về Quy Nhơn. Lúc này thân phụ
Hoàng Cúc về hưu nên gia đình phải dọn về Huế. Cũng trong năm đó, chàng bắt
đầu phát hiện những dấu hiệu của căn bệnh phong, nhưng chàng vẫn chưaq quan
tâm đến nó. Một thời gian rất lâu, căn bệnh mới phát mạnh.
Năm 1939, Hoàng Cúc nhận được hung tin nói trên từ Hoàng Tùng Ngâm. Nàng
chuẩn bò một số tiền đònh gửi cho Hàn Mạc Tử uống thuốc nhưng không dám gửi.
Nàng bèn gửi cho Tử một bức ảnh chụp cảnh nàng ặc áo lụa dài trắng đứng dưới
vòm cây xanh mát. Nhận được ảnh, Tử rất vui. Chàng liền làm ngay bài thơ Đây
Thôn Vỹ Dạ gửi ra Huế cho Hoàng Cúc.
Chi tiết trên theo Nguyễn Bá Tín. Còn theo nhiều tác giả khác thì Hoàng Cúc
không gửi ảnh mình mà gửi một tấm bưu ảnh có mây nước, có chiếc đò ngang với
cô gái chèo đò, có khóm tre, có cả ánh trăng hoặc là ánh nắng chiếu xuống. Một
thời gian sau, nàng nhận được thư của Tử. Kèm theo bài thơ Đây Thôn Vỹ Dạ gửi
tặng, Hàn Mặc Tử viết : “ Túc hạ ! có nhận được bức ảnh bến Vỹ Dạ lúc hừng
đông hay là một bến trăng? Và mấy hàng chữ của túc hạ gửi thăm, muôn vàng
cảm tạ. Túc hạ còn nhớ đến người năm xưa, thế là phúc phận lắm rồi. Mong ơn
trên xuống độ cho túc hạ thật đầy và mong rằng một møa xuân naò đấy sẽ gặp lại
được túc hạ cho phỉ dạ. Thăm túc hạ bình an vui vẻ”
Đây Thôn Vỹ Dạ là bài thơ nhẹ nhàng nhất của Hàn Mặc Tử trong tập thơ Điên.
Bởi lúc này chàng đang trong thời kỳ bệnh tật, đau đớn điên cuồng cả thể xác lẫn
tâm hồn. Thơ của chàng luôn luôn là những gào thét uất hận, nghẹn ngào. Bài thơ
này, Nguyễn Bá Tín cho biết nguyên cái tưa ban đầu của nó nó Đây Thôn Vỹ
Dạ. Nhưng về sau đã được biên tập lại, bỏ đi chữ ở. Trong bài thơ, hình ảnh hàng
cau được nhiều người khen ngợi, nhưng lại đem đến thắc mắc cho chính người
được tặng thơ là Hoàng Cúc. Nàng đã kgông hiểu vì sao Hàn Mặc Tử lại viết câu
thơ “Sao anh không về chơi Thôn Vỹ / Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”. Thôn
Vỹ Dạ, nằm bên kia Đập Đá, cư dân ở đây phần lớn thuộc tầng lớp thượng lưu. Kế
Thôn Vỹ Dạ là thôn Nam Phổ, một thôn bình dân, sống bằng nghề trồng cau.
“Mua vôi chợ Quán chợ Cầu. Mua cau Nam Phổ mua Trầu chợ Dinh”. Cau Nam
Phổ nổi tiếng khắp cả nước. Hằng năm đến mùa cau, già trẻ gái trai trong làng
VI – MAI ĐÌNH – TÌNH THƠ HAY TÌNH YÊU ?
Mai Đình thực ra không phải là một nàng thơ, cũng không phải là người tình
của Hàn Mạc Tử…đúng nghóa, nàng là một người bạn văn chương của chàng. Nàng
gặp Hàn Mạc Tử khi chàng đã lâm trọng bệnh, xa lánh tất cả mọi người để về ẩn
mình trong một cái chòi tranh ở Gò Bồ, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 15 km.
Mai Đình xuất thân trong một gia đình khá giả, nhưng mang trong mình một
dòng máu lãng mạn, nàng theo tiếng gọi bốn phương cất bước ra đi. Nhờ có nghề
dạy nữ công gia chánh cho những gia đình giàu có nên Mai Đình kiếm kế sinh
nhai khá dễ dàng. Nàng đã đặt chân đến nhiều vùng đất xa xôi, có khi qua tận
Nam Vang. Năm 1937, Mai Đình đến Quy Nhơn. Trước đó nàng đã nghe danh
Hàn Mặc Tử từ lâu. Là một người có cá tính mạnh mẽ, nàng không câu nệ, tìm
cách giáp mặt chàng. Lần đầu tiên, Hàn Mặc Tử vì tự ti bệnh tật nên không chòu
tiếp. Nàng bèn vào Nha Trang, thông qua Quách Tấn để “tiếp cận” chàng. Trong
hồi ký của mình, Quách Tấn nhớ lại : “Gặp tôi, nàng không chút e lệ, ngồi nói
chuyện như người quen biết đãlâu. Phê bình bài thơ Gái Quê xong, nàng tỏ thật
nỗi lòng đối với Tử : “biết Tử mang bệnh ngoặt nghèo, lòng tôi hết sức thương
cảm. Tôi mong sao chia sớt được nỗi khổ đau của tử một đôi phần”. Rồi chàng
trách Mộng Cầm sao đành lòng bỏ Tử”.
Nàng gởi cho Quách Tấn bài thơ Biết Anh để tặng Hàn Mặc Tử với những câu thơ
thật mạnh dạn : “Còn anh em đã gặp anh đâu! / Chỉ cảm vần thơ có những câu /
u yếm say sưa đầy cả mộng / Xui lòng tư tưởng lúc thâu đêm”. Đây là một bài
thơ đầu tiên mở ra một tình bạn văn chương thú vò giữa hai người. Hàn Mặc Tử
nhận được thơ, liền hồi âm như Mai Đình đã đi khỏi Nha Trang. Chàng buồn rầu
sáng tác bài Lưu Luyến : “Chửa gặp nhau mà đã biệt ly / Hồn anh theo dõi bóng
em đi / Hồn anh sẽ nhập trong luồn gió / Lưu luyến bên em chẳng nói gì”.
Điều đặc biệt trong mối quan hệ Hàn Mặc Tử – Mai Đình là nàng đã hành xử
rất đúng với tinh thần văn chương : tứ hải giai huynh đệ. Theo tài liệu của Trần
Thanh Mại thì muà hè năm 1938, Mai Đình từ biệt Quy Nhơn để vào Sài Gòn thu
xếp công việc. Khi trở ra, Mai Đình đưa cho Hàn Mặc Tử một món tiền để lo
thuốc thang và nói ý đònh cùa mình : sẽ ở lại cái chòi tranh cùng với chàng. Hàn
cánh đồng thì gặp trời mưa giông. Cả 2 chạy vào trú trong một căn chòi bên
đường. Mưa một lúc một lớn, trời tối đen như mực. Từ trong căn chòi, hai người
nhìn ra bên ngoài thấy có những qủa cầu lửa màu xanh dưới đất vùn vụt bay lên.
Những qủa cầu lửa chớp tắt liên tục. Đồng thời lại thấy tiếng rền vang ầm ầm như
ai lăng thùng sắt trên đường đá. Hai người rất hoảng sợ, ngồi ôm nhau rung rẩy
trong căn chòi. Một lúc trời quang mây tạnh, bước ra khỏi nơi cư trú mưa thì mới
biết mình đang ở cạnh một ngôi mộ ai mới chôn. Trở về Sài Gòn ít hôm, Tử thấy
ngứa nấy khó chòu trong người. Một thời gian thì thấy những vết đỏ như đồng xu ở
trên lưng, sau lang dần ra khắp người. Căn bệnh phong xuất hiện từ đó.
Những thông tin này đăng tải lên kèm với việc phê phán việc Mộng Cầm bỏ
Tử đi lấy chồng trong lúc tử bò căn bệnh quái ác hành hạ khiến Mộng Cầm hết sức
day dứt. Theo quan niệm dân gian trước đây, căn bệnh phong phát ra do người ta
nhiễm phải hơi dưới mộ mới bốc lên trong lúc mưa giông. Nhiều người tin đó là sự
thật nên càng trách Mộng Cầm nhiều hơn, rằng nàng đã gián tiếp đưa chàng đến
bệnh tật rồi lại vội vã bỏ ra đi.
Tuy nhiên ngay từ thời ấy, chứng minh căn bệnh phong do loại vi trùng có tên
gọi hansen gây ra. Chính khi Hàn Mặc Tử nhập viện phong Quy Hòa, bệnh viện
Quy Nhơn đã làm xét nghiệm cho chàng và tìm ra vi trùng hansen trong cơ thể
chàng.
Nhưng có một điều gây khó hiểu cho nhiều người là việc phát bệnh của Tử lại
có những chi tiết trùng hợp với quan niệm dân gian nói trên. Nguyễn Bá Tín cho
biết, chính Hàn Mặc Tử đã kể với bàmẹ về chuyện mắc mưa dông trong nghóa điạ
: “ Mẹ tôi linh cảm là có chuyện chẳng lành. Bà vặn hỏi mãi thì anh kể chuyện có
hôm cùng người bạn đi chơi Phan Thiết, gần tối băng qua cánh đồng, thì gặp phải
cơn mưa giông dữ dội…”. Ngay cả Mộng Cầm cũng thừa nhận chuyện như vậy.
Hãy đọc đoạn đối thoại giữa Châu Hải Kỳ và Mộng Cầm trên tạp chí phổ thông
số ra ngày 15/8/1961 :
- “ Như vậy xin lỗi bà, bà có đi lầu ng Hoàng và có
gặp mưa không?”
- “ Tôi nhận có đi chơi lầu ng Hoàng với Hàn Mạc