đề tài một vài kinh nghiệm dạy tốt môn tin học lớp 6 - Pdf 18

Đề tài:
MỘT VÀI KINH NGHIỆM DẠY TỐT MÔN TIN HỌC LỚP 6
I. Đặt vấn đề:
Công nghệ thông tin (CNTT) là một trong các phương tiện quan trọng nhất
của sự phát triển, đang làm biễn đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo
dục của thế giới trong đó có Việt Nam. Chúng ta đang ở trong thời đại thông tin kỹ
thuật số, Thời đại Internet.
Ngày nay, kiến thức và kĩ năng CNTT đã trở thành nhu cầu thiết yếu với
mọi công dân toàn cầu, đối với mọi lứa tuổi và mọi lĩnh vực. Không những thế
thông qua Tin học (cụ thể là Internet) một cách gián tiếp học sinh có thêm nhiều cơ
hội tiếp thu kiến thức mới.
Chính vì vậy, chương trình giáo dục phổ thông mới, Tin học sẽ là một môn
học chính khóa, những năm gần đây ở cấp THCS Tin học là môn học tự chọn ở tất
cả các lớp của bậc học.
Môn tin học ở bậc THCS bước đầu giúp học sinh làm quen với một số kiến
thức ban đầu về CNTT như: Một số bộ phận của máy tính, một số thuật ngữ
thường dùng, rèn luyện một số kỹ năng sử dụng máy tính, …
Hình thành cho học sinh một số phẩm chất và năng lực cần thiết cho người
lao động hiện đại như:
+ Góp phần hình thành và phát triển tư duy thuật giải.
+ Bước đầu hình thành năng lực tổ chức và xử lý thông tin.
1
+ Có ý thức và thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao
động xã hội hiện đại.
+ Có thái độ đúng khi sử dụng máy tính và các sản phẩm Tin học.
+ Bước đầu hiểu khả năng ứng dụng CNTT trong học tập.
+ Có ý thức tìm hiểu CNTT trong các hoạt động xã hội.
Mỗi phần mềm có trong chương trình có những tác dụng nhất định :
+ Phần mềm soạn thảo văn bản: Học sinh ứng dụng từ các môn Ngữ Văn để
trình bày đoạn văn bản sao cho phù hợp, đúng cách. Ứng dụng soạn thảo văn bản
để soạn thảo bài văn và các môn học khác.

điều kiện để học sinh có thể học từ khối lớp 6, tạo điều kiện sắm sửa máy móc,
trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học môn Tin học, hiện nay đảm bảo 2 học
sinh thực hành trên 1 máy tính.
* Học sinh:
Vì là môn học trực quan, sinh động, môn học khám phá những lĩnh vực mới
nên học sinh rất hứng thú học, nhất là những tiết thực hành.
2. Khó khăn:
3
* Nhà trường:
- Chưa có phòng học lý thuyết (có lắp sẵn các thiết bị phục vụ dạy học) dành
cho bộ môn nên việc tổ chức giờ học lý thuyết còn tốn nhiều thời gian cho việc lắp
ráp các thiết bị phục vụ cho tiết dạy.
- Phòng thực hành chưa được cố định nên việc thiết kế hệ thống máy chưa
khoa học, gây khó khăn trong việc quản lý học sinh ở các tiết thực hành.
* Học sinh:
- Đời sống kinh tế của gia đình con em ở địa phương Tam Thăng còn nhiều
khó khăn, việc mua máy tính phục vụ cho các em học tập còn quá ít, trong số đó số
máy tính được kết nối Internet chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Chính vì vậy đa số
các em học sinh chỉ được tiếp xúc với máy vi tính ở trường là chủ yếu, do đó sự
tìm tòi và khám phá máy vi tính với các em còn hạn chế, nên việc học tập của học
sinh vẫn còn mang tính chậm chạp.
*Thực trạng
Trước khi thực hiện chuyên đề, tôi đã khảo sát học sinh lớp 6.1 thông qua
giờ dạy lý thuyết, dạy thực hành. Khi tổng hợp kết quả thu được:
Mức độ thao tác
Trước khi thực hiện chuyên đề
Số HS Tỷ lệ
Thao tác nhanh, đúng 5 13.5%
Thao tác đúng 14 37.8%
Thao tác chậm 16 43.2%

viên có thể kiểm tra kết quả của các nhóm sau một học kỳ hoặc năm học.
Khi dạy thực hành, giáo viên giao bài tập cho học sinh một cách cụ thể, rõ
ràng và kết hợp cả những kiến thức của bài học trước, hướng dẫn chung cho cả lớp,
trong mỗi nhóm đã phân có những học sinh khá giỏi sẽ lĩnh hội kiến thức nhanh
hơn và giúp đỡ các em học sinh yếu hơn trong nhóm của mình, giáo viên chỉ kiểm
tra việc thực hành của các nhóm và từ đó sẽ có những yêu cầu cao hơn cho những
học sinh khá hơn tự khám phá đưa ra kết luận cho cả lớp nhận xét và giáo viên kết
luận.
Ví dụ: Dạy bài tạo bảng giáo viên giao bài tập thực hành đã có trong sách
giáo khoa hoặc những bài tập ở ngoài sau đó hướng dẫn (theo nhóm) trực tiếp trên
máy chiếu cho học sinh cả lớp quan sát thao tác và lời nói của GV. Trong khi thực
hành, giáo viên kiểm tra kết quả nếu nhóm học sinh nào chưa thực hành được, giáo
viên hướng dẫn trực tiếp cho học sinh khá và học sinh khá đó có nhiệm vụ hướng
dẫn lại cho bạn học sinh yếu hơn.
2. Hệ thống các bài tập thực hành, các bài tập phù hợp với nội dung của bài
giảng, liên hệ với một số môn học khác trong chương trình học của các em. Các
bài tập không quá dài, nâng dần từ mức đơn giản đến phức tạp, ngoài ra giáo viên
cũng phải kết hợp những bài đã học trước để học sinh ôn lại và vận dụng vẽ một
cách có hệ thống. Trong mỗi bài thực hành cần có những yêu cầu cao hơn để phát
huy tính sáng tạo, tìm tòi và học sinh tự lĩnh hội kiến thức.
6
Ví dụ: Dạy bài thực hành: “Làm quen với soạn thảo văn bản”. Đối với các
thao tác mở, lưu văn bản tôi đặc biệt đi sâu việc lưu văn bản cho các em. Vì công
việc này thường liên quan đến nhiều bài tiếp theo. Tránh các tình trạng học sinh
lưu chồng lên các văn bản khác làm mất dữ liệu có trên máy tính … Để làm được
việc này tôi thường cho học sinh thực hiện nhiều lần hai thao tác (lưu và mở văn
bản) theo nhiều cách và đưa ra kết luận.
3. Trong giờ thực hành giáo viên nên tạo sự thi đua giữa các nhóm bằng
cách phân công các nhóm làm bài thực hành, sau đó các nhóm nhận xét, chấm
điểm (dưới sự chỉ dẫn của giáo viên) để tạo được sự hào hứng học tập và sáng tạo

giúp cho các em có hứng thú vừa học vừa chơi và tự khám phá phần mềm rèn
luyện kỹ năng sử dụng máy tính.
6. Giáo viên có kế hoạch bồi dưỡng để nâng cao kiến thức bản thân đáp ứng
được những yêu cầu đổi mới, cập nhật thông tin một cách đầy đủ, chính xác.
Muốn có giờ dạy đạt hiệu quả cao, bản thân mỗi giáo viên dạy Tin học nhận
thức được cần phải có kế hoạch bồi dưỡng Tin học cho bản thân bằng cách tự tìm
tòi, tham khảo các tài liệu có liên quan và có thể hỏi các đồng nghiệp của trường
8
bạn. Mỗi giáo viên cần phải biết phục hồi sửa chữa những lỗi đơn giản thường xảy
ra để có máy tính kịp thời phục vụ cho tiết dạy.
Bên cạnh tìm hiểu kiến thức về Tin học, giáo viên cũng phải tìm hiểu các
kiến thức khác như văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội để tự nâng cao nhận thức của
bản thân.
V. Kết quả:
Qua quá trình áp dụng vào giảng dạy tin học khối 6, so sánh với bảng tổng
hợp trước đó đã thu được kết quả như sau:
Mức độ thao tác
Trước khi thực
hiện chuyên đề
Sau khi thực
hiện chuyên đề
Tỷ lệ tăng,
giảm
Số Hs Tỷ lệ Số Hs Tỷ lệ
Thao tác nhanh, đúng 5 13.5% 11 29.7% +16.2%
Thao tác đúng 14 37.8% 20 54% +16.2%
Thao tác chậm 16 43.2% 12 32.4% -10.8%
Chưa biết thao tác 12 32.4% 4 10.8% -21.6%
Từ bảng kết quả trên cho thấy các biện pháp áp dụng vào việc dạy học Tin
học lớp 6 đã trình bày ở trên các em không những nắm chắc kiến thức mà còn thấy

- Tổ chức giao lưu học sinh giữa các vùng miền để các em có cơ hội được
học tập trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.
VIII. Tài liệu tham khảo:
1. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS Môn Tin học – Bộ Giáo
Dục
IX. Mục lục:
1. Đặt vấn đề Trang 1
2. Cơ sở lý luận: Trang 2
3. Cơ sở thự tiễn Trang 2
4. Nội dung nghiên cứu Trang 4
5. Kết quả nghiên cứu Trang 7
6. Kết luận Trang 7
7. Đề xuất Trang 8
8. Tài liệu tham khảo Trang 8
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status