Mot so tac gia trong chuong trinh NV9 - Pdf 18


Người thực hiện: Nguyễn Xuân Hưng
Lớp 9/3, Trường THCS Lê Hồng Phong

Nhà thơ Viễn Phương Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy
Nhà thơ Thanh Hải
Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy Nhà thơ Viễn Phương Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy Nhà thơ Viễn Phương Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy Nhà thơ Viễn Phương Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy Nhà thơ Viễn Phương Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy Nhà thơ Viễn Phương Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy Nhà thơ Viễn Phương Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy Nhà thơ Viễn Phương Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy Nhà thơ Viễn Phương Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy Nhà thơ Viễn Phương Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy
Nhà thơ Y Phương
Nhà thơ Viễn Phương Nhà thơ Huy Cận Nhà thơ Nguyễn Duy
Nhà thơ Hữu Thỉnh

-Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã Ân Phú,
-Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã Ân Phú,
huyện Dương Sơn, Hà Tĩnh. Nơi ở hiện nay: Hà Nội, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
huyện Dương Sơn, Hà Tĩnh. Nơi ở hiện nay: Hà Nội, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
1957.
1957.Trước cách mạng tháng Tám, Huy Cận đi học (Tú tài, Cao đẳng Nông Lâm…) và hoạt động
Trước cách mạng tháng Tám, Huy Cận đi học (Tú tài, Cao đẳng Nông Lâm…) và hoạt động
Văn học. Từ đầu năm 1942, vừa học Nông Lâm vừa tham gia hoạt động bí mật và làm
Văn học. Từ đầu năm 1942, vừa học Nông Lâm vừa tham gia hoạt động bí mật và làm
thơ, viết văn. Cuối tháng 7-1945, tham dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào và được bầu vào
thơ, viết văn. Cuối tháng 7-1945, tham dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào và được bầu vào
ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc (sau mở rộng thành Chính phủ lâm thời nước Việt
ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc (sau mở rộng thành Chính phủ lâm thời nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa) và vào Huế nhận sự thoái vị của Bảo Đại. Là Bộ trưởng Canh

(1958); Đất nở hoa (1960); Bài thơ của đời (1963); Hai bàn tay em
(1967); Phù Đổng Thiên Vương (1968); Những năm 60 (1968); Cô gái
(1967); Phù Đổng Thiên Vương (1968); Những năm 60 (1968); Cô gái
Mèo (1972); Thiếu niên anh hùng họp mặt (1973); Chiến trường gần
Mèo (1972); Thiếu niên anh hùng họp mặt (1973); Chiến trường gần
chiến trường xa (1973); Những người mẹ, những người vợ (1974);
chiến trường xa (1973); Những người mẹ, những người vợ (1974);
Ngày hằng sống, ngày hằng thơ (1975); Sơn Tinh, Thủy Tinh (1976);
Ngày hằng sống, ngày hằng thơ (1975); Sơn Tinh, Thủy Tinh (1976);
Ngôi nhà giữa nắng (1978); Hạt lại gieo (1984); Tuyển tập Huy Cận
Ngôi nhà giữa nắng (1978); Hạt lại gieo (1984); Tuyển tập Huy Cận
tập I (1986); Chim làm ra gió (1991); Tào Phùng (1993); Thơ tình Huy
tập I (1986); Chim làm ra gió (1991); Tào Phùng (1993); Thơ tình Huy
Cận (1994); Marées de la Mer orientale Paris (1994); Tuyển tập Huy
Cận (1994); Marées de la Mer orientale Paris (1994); Tuyển tập Huy
Cận II (1995); Thiên việt lương việt lãng (Bắc Kinh, 1959); Messages
Cận II (1995); Thiên việt lương việt lãng (Bắc Kinh, 1959); Messages
stellaires et terrestres (Canada, 1996); Thơ Huy Cận (1996).
stellaires et terrestres (Canada, 1996); Thơ Huy Cận (1996).•
VĂN: Tâm sự gái già (1940); Kinh cầu tự (1942); Suy nghĩ về nghệ
VĂN: Tâm sự gái già (1940); Kinh cầu tự (1942); Suy nghĩ về nghệ
thuật (1980 – 1982); Culture et politique république socialiste du Việt
thuật (1980 – 1982); Culture et politique république socialiste du Việt
Nam. Paris (1985); Một cuộc cách mạng trong thi ca (chủ biên cùng
Nam. Paris (1985); Một cuộc cách mạng trong thi ca (chủ biên cùng
Hà Minh Đức, 1993); Suy nghĩ về bản sắc dân tộc (1994); Các vùng
Hà Minh Đức, 1993); Suy nghĩ về bản sắc dân tộc (1994); Các vùng

,
Bầu trời vuông
,
Tre Việt nam
trong tập
Cát trắng
. Ngoài thơ, ông cũng viết tiểu thuyết, bút
ký. Năm 1997 ông tuyên bố "gác bút" để chiêm nghiệm lại bản thân rồi tập trung vào làm lịch thơ,
in thơ lên các chất liệu tranh, tre, nứa, lá, thậm chí bao tải. Từ năm 2001, ông in nhiều thơ trên
giấy dó. Ông đã biên tập và năm 2005 cho ra mắt tập thơ thiền in trên giấy dó (gồm 30 bài thơ
thiền thời Lý, Trần do ông chọn lọc) khổ 81cm x 111 cm có nguyên bản tiếng Hán, phiên âm, dịch
nghĩa và dịch thơ tiếng Việt, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Anh với ảnh nền và ảnh minh họa của
ông.
Nguyễn Duy được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.

Một số tác phẩm của Nguyễn Duy
Thơ: Cát trắng (1973), Ánh trăng (1978), Đãi cát tìm vàng (1987), Mẹ và em (1987), Đường xa
(1989), Quà tặng (1990), Về (1994)
Bụi (1997).
Thể loại khác
Em-Sóng (kịch thơ - (1983), Khoảng cách (tiểu thuyết - 1986), Nhìn ra bể rộng trời cao (bút ký -
1986).
Thành tựu nghệ thuật
Thơ Nguyễn Duy nhiều bài có cái ngang tàng nhưng nhưng vẫn trầm tĩnh và giàu chiêm nghiệm vì
thế cứ ngấm vào người đọc và trong cái đà ngấm ấy có lúc khiến người ta phải giật mình suy nghĩ,
nhiều bài thơ của ông được bạn đọc yêu thích:
Tre Việt nam, Ánh trăng, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,
Đò Lèn, Sông Thao
, Ông được đánh giá cao trong thể thơ lục bát, một thể thơ có cảm giác dễ
viết nhưng viết được hay thì lại rất khó. Thơ lục bát của Nguyễn Duy được viết theo phong cách

Viễn Phương, quê gốc Tân Châu, An Giang. Thuở nhỏ ông đi học, đến khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ
(1945), ông đến đầu quân và được xếp vào Chi đội 23.
Chi đội này hoạt động trên một địa bàn rộng lớn thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Từ cảm xúc có thật trên mỗi
chặn đường chiến đấu gian khổ, những bài thơ của ông đã lần lượt ra đời, và được đăng trên báo
Tiếng Súng
Kháng Ðịch
, là tờ báo duy nhất của Khu 9 Nam Bộ lúc bấy giờ.
Năm 1952, Nam Bộ tổ chức giải thưởng tổng kết văn học nghệ thuật lấy tên Giải thưởng Cửu Long, thì trường ca
Chiến thắng Hòa Bình
của ông được xếp giải nhì về thơ.
Không lâu sau, Chi hội Văn nghệ Nam Bộ tổ chức đại hội, ông được bầu vào Ban chấp hành. Năm 1954, cuộc
kháng chiến chống Pháp kết thúc, ông được phân công về Sài Gòn hoạt động.
Về Sài Gòn, ông đi dạy học, làm thuê kiếm sống nhưng công việc chủ yếu vẫn là sáng tác văn thơ. Với bút hiệu
Viễn Phương, ông làm thơ và viết truyện đăng trên một số tờ báo ở Sài Gòn như
Nhân loại, Hừng sáng, Công


Do những bài viết có nội dung chống đối, năm 1960, ông bị nhà cầm quyền Sài Gòn bắt giam ở Chí Hòa. Trong
tù, ông vẫn tiếp tục làm thơ.
Sau khi ra tù (1962), ông rời Sài Gòn vào chiến trường Củ Chi tiếp tục chiến đấu và làm thơ.
Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, ông liền được bầu làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng Thành phố Hồ Chí Minh,
Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và được bầu vào Ban chấp hành Hội Nhà văn
Việt Nam.
Ngoài bút danh Viễn Phương, ông còn lấy bút danh
Phương Viễn
và cũng sáng tác cả văn xuôi. Ông nổi tiếng với
bài thơ
Viếng lăng Bác
(Kim Son phổ nhạc) đã được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông. Ông được tặng Giải
thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 1995.

Bia mộ của Thanh Hải

Nhà thơ Y Phương tên khai sinh là Hứa Vĩnh Sước, dân tộc Tày, sinh năm 1948; quê
ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Y Phương nhập ngũ năm 1968, phục vụ trong
quân đội đến năm 1981 chuyển về công tác tại Sở Văn hóa- Thông tin Cao Bằng. Từ
năm 1993, ông là chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng. Thơ ông thể hiện tâm hồn
chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi.
Ông đã đoạt Giải nhất cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1983 - 1984, được
trao Giải thưởng Nhà nước với ba tập thơ nổi tiếng: "Tiếng hát tháng giêng", "Chín
tháng" và "Lời chúc"; từng đảm nhiệm chức Phó giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin, rồi
Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Cao Bằng, từng là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà
văn Việt Nam khóa 6…
Nhà thơ Y Phương:

Một số tác phẩm của ông
Tác phẩm:
Người núi Hoa (1982)
Tiếng hát tháng giêng (1986)
Lửa hồng một góc (1987)
Lời chúc (1991)
Đàn then (1996).
Thơ Y Phương (2002)
Cảm nhận về ông và thơ của ông:
- Y Phương là một người giản dị, mang đậm tư cách người miền núi. Điều này đã
được thể hiện rõ qua địa chỉ email của ông: mà “thanhcui” có
nghĩa là “thanh củi”. Ông đã ví mình như thanh củi, một thứ tầm thường. Quả thật rất
hiếm gặp những người như vậy.
- Nhà thơ đã hội tụ đất, nước và lửa trong dòng chảy cảm hứng văn chương và đã
thành công trong rất nhiều sáng tác. Từ nhiều năm trước, nhà thơ Tế Hanh đã nhận xét
về ông như sau: Y Phương là một nhà thơ, một nhà thơ miền núi rất mới mẻ, thơ anh

, tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn các khoá 3, 4, 5, Ủy viên Ban Thư ký khoá 3.
Hữu Thỉnh đã lần lượt đảm nhiệm chức trách Phó Tổng Thư ký Thường trực Hội Nhà văn Việt Nam (nay là chức
Phó Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam), Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam (3 lần), đồng thời kiêm nhiệm Ủy viên
Thường vụ Đảng ủy Khối Tư tưởng Văn hoá Trung ương, Bí thư Đảng ủy Đảng bộ Cơ quan Hội Nhà văn Việt
Nam, Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam. Đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
(khoá X). Từ năm 2000, Hữu Thỉnh là Tổng Thứ kí Hội Nhà văn Việt Nam.

Tác phẩm:
Hữu Thỉnh có những thi tuyển và những bản trường ca sau:
Âm vang chiến hào
(in chung);
Đường tới thành phố
(trường ca);
Từ chiến hào tới thành phố
(trường ca, thơ ngắn);
Khi bé Hoa ra đời
(thơ thiếu nhi, in chung);
Thư mùa đông
.
Trường ca biển
.
Thương lượng với thời gian
.
Thông tin thêm:
Ngày 30 tháng 11 năm 2006, trong lễ trao giải thưởng và lễ kết nạp hội viên Hội Nhà
văn Việt Nam, Hữu Thỉnh đã "xin miễn nhận giải thưởng" của chính Hội Nhà văn mà ông
đang là chủ tịch, cho tập thơ
Thương lượng với thời gian
được ông viết trong hơn 10
năm, đồng thời cũng từ chối giải thích lý do.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status