Sở giáo dục và đào tạo hng yên
Trờng thpt ân thi
Sáng kiến kinh nghiệm
Môn tin học
**************
Đề tài:
Nâng cao hiệu quả của hoạt động
thảo luận nhóm trong dạy học Tin học
Giáo viên: Chu Văn Phơng
Tổ: Toán - Tin
Trờng: THPT Ân Thi
Hng Yên - 2013
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển như vũ bão của Công nghệ
thông tin và Truyền thông đóng vai trò không nhỏ trong sự phát triển chung
của nhân loại. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng
và Nhà nước ta đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của Tin học,
Công nghệ thông tin và Truyền thông cũng như yêu cầu đẩy mạnh của ứng
dụng Công nghệ thông tin, đào tạo thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, nắm
vững tri thức khoa học công nghệ để làm chủ trong mọi hoàn cảnh công tác
và hoạt động xã hội. Chính vì xác định được tầm quan trọng đó nên Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã đưa môn Tin học vào trong nhà trường và ngay từ
tiểu học học sinh được tiếp xúc tin học để làm quen dần với lĩnh vực công
nghệ thông tin, tạo nền móng ban đầu để học những phần nâng cao tiếp
theo.
Theo đó, từ năm học 2003 – 2004, UBND tỉnh Hưng Yên và Sở
GD&ĐT Hưng Yên đã có công văn (số 867/THPT ngày 11/9/2003) gửi các
trường hướng dẫn dạy - học môn Tin học và các công văn khác để triển
khai áp dụng CNTT trong quản lý - giảng dạy bộ môn Tin học. UBND tỉnh
rằng, điều trăn trở đó chỉ được giải tỏa khi người giáo viên tự giác đổi mới
cách thức tổ chức hoạt động học tập của học sinh. Việc tổ chức hoạt động
dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh là một trong những
nhiệm vụ của năm học. Trong quá trình giảng dạy bản thân tôi đã rút ra
kinh nghiệm nhỏ trong việc tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm. Đây
không phải là một cách thức mới, tuy nhiên vấn đề là làm thế nào để nó đạt
được hiệu quả tốt nhất. Dưới đây, tôi xin trình bày những kinh nghiệm mà
mình đã rút ra được khi tổ chức hoạt động nhóm trên lớp để quý đồng
nghiệp cùng tham khảo và có ý kiến xây dựng thông qua đề tài “Nâng cao
hiệu quả của hoạt động thảo luận nhóm trong dạy - học tin học” và có
thể coi đó là một vài kinh nghiệm trong dạy - học nhằm nâng cao nhận thức
và chất lượng giáo dục của bộ môn Tin học hiện nay.
Trong quá trình thực hiện, mặc dù rất cẩn trọng song đề tài không
tránh khỏi những sơ sót. Kính mong nhận được sự góp ý của bạn bè đồng
nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
2. Lịch sử vấn đề
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, sách báo bàn luận về
phương pháp dạy học nói chung và dạy học theo phương pháp thảo
luận nhóm nói riêng. Tiếp nối những người đi trước, tôi mạnh dạn bàn
luận thêm về phương pháp dạy học theo hình thức thảo luận nhóm.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm mục đích nâng cao sự hiểu biết, vận dụng
phương pháp tổ chức thảo luận nhóm trên lớp, đồng thời cũng đề xuất
những ví dụ cụ thể về quy trình thảo luận nhóm trên lớp trong môn Tin học
sao cho đạt hiệu quả tốt nhất.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp thảo luận nhóm để tạo
sự hứng thú cho học sinh giúp lĩnh hội kiến thức một cách tốt nhất.
Đề tài tập trung nghiên cứu phương pháp hoạt động nhóm để tạo sự
hứng thú, tích cực cho người học nhằm đạt được hiệu quả cao nhất của việc
người không học tốt môn học đó. Chính vì vậy, việc tạo hứng thú cho
người học được xem là yêu cầu bắt buộc đối với bất cứ ai làm công tác
giảng dạy, đối với bất cứ bộ môn khoa học nào.
Để tạo được hứng thú cho người học thì hãy cho họ được làm chủ vấn
đề, cho họ được tự mình suy nghĩ tìm tòi giải quyết và trình bày kết quả
của mình. Khi đó người học sẽ không còn bị thụ động, không cảm thấy
nhàm chán mà luôn hào hứng. Một trong những cách thức giúp đạt được
điều đó khi giảng dạy trên lớp là giáo viên tìm cách tổ chức lớp học thành
các nhóm và đưa ra yêu cầu cho các nhóm suy nghĩ rồi trình bày kết quả,
đó là phương pháp thảo luận nhóm.
2. Thực trạng vấn đề dạy học Tin học trong nhà trường hiện nay
Tin học là một môn học mới so với các môn học khác tại trường Phổ
thông. Hơn nữa đây là một môn học không thi tốt nghiệp và thi đại học nên
không ít người còn xem nhẹ việc học Tin học. Những năm trở lại đây, mặc
dù máy tính đã trở nên quen thuộc đối với người học, tuy nhiên việc lĩnh
hội kiến thức môn Tin học trên lớp cũng không phải là một việc dễ dàng
đối với học sinh bởi chương trình học ở ba khối lớp 10, 11 và 12 bao quát
nhiều nội dung. Người học không phải chỉ được học cách sử dụng máy tính
đơn thuần mà được tìm hiểu về nhiều khía cạnh khác nhau để biết về bản
chất và những ứng dụng thực tế của máy vi tính. Do đó, việc lĩnh hội nội
dung các tiết Tin học ở trên lớp cũng mang lại khó khăn cho nhiều học
sinh. Có thể vì nhiều nguyên nhân khác nhau: kiến thức khó, mới lạ,
phương pháp dạy đơn điệu, học sinh thụ động,… việc học không đạt được
hiệu quả như mong muốn.
Khi giảng dạy, bất kì giáo viên nào đều mong muốn kết quả đạt được là
tốt nhất và đã áp dụng rất nhiều phương pháp khác nhau trong đó có
phương pháp thảo luận nhóm. Điều đó có nghĩa là phương pháp này đã rất
quen thuộc với chúng ta, tuy nhiên hiệu quả của việc thực hiện thì chưa cao
Trong quá trình giảng dạy tại trường THPT Ân Thi, tôi đã quan sát dự
giờ nhiều thầy cô và cũng áp dụng phương pháp này trong việc dạy môn
tập thể về vấn đề đó. Hình thức này thường được sử dụng kết hợp với các
phương pháp dạy học khác trong một bài học, một tiết học, nội dung thảo
luận của một nhóm nhỏ thông thường là các vấn đề ngắn, thời lượng ít (từ
10 đến 15 phút).
- Nhóm nhỏ “rì rầm”: GV chia lớp thành các nhóm “cực nhỏ” từ 2
đến 3 HS (thường là cùng một bàn) để trao đổi (rì rầm) và thống nhất một
câu hỏi trả lời, giải quyết một vấn đề nêu một ý tưởng, một thái độ… để
nhóm rì rầm có hiệu quả, GV cần cung cấp đầy đủ, chính xác các dữ kiện,
gợi ý và nêu rõ yêu cầu đối với các câu trả lời để các thành viên tập trung
vào giải quyết.
- Nhóm kim tự tháp: Đây là hình thức mở rộng của nhóm “rì rầm”,
sau khi thảo luận theo cặp (nhóm “rì rầm”), các cặp kết hợp thành một
nhóm để hoàn thiện một vấn đề chung. Nếu cần thiết có thể kết hợp nhóm
này thành nhóm lớn hơn (từ 8→16 HS).
- Nhóm đồng tâm: GV chia lớp thành hai nhóm: nhóm thảo luận và
nhóm quan sát (sau đó hoán vị cho nhau). Nhóm thảo luận là nhóm nhỏ (6
đến 12 HS) có nhiệm vụ thảo luận, trình bày vấn đề được giao, các thành
viên khác trong lớp đóng vai trò là quan sát và phản biện. Hình thức nhóm
này rất có hiệu quả, nó làm tăng ý thức trách nhiệm của cá nhân HS trước
tập thể và tạo động cơ cho những HS ngại trình bày ý tưởng của mình trước
tập thể.
Tạo sự hứng thú trong hoạt động thảo luận nhóm là một hoạt động dạy
học nhằm phát huy tính tích cực của người học, dạy học hướng về người
học. Việc tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm là đặt học sinh vào môi
trường hoạt động tích cực. Trong nhóm, học sinh được thảo luận và hợp tác
làm việc với nhau. Học tập theo nhóm giúp học sinh học tập thông qua giao
tiếp, trao đổi tranh luận với nhau, chia sẻ và có cơ hội diễn đạt ý nghĩ của
mình, phát triển các kỹ năng giải quyết vấn đề. Giáo viên là người tổ chức,
hướng dẫn, kích thích hỗ trợ học sinh lĩnh hội kiến thức bằng kinh nghiệm
giáo dục của mình.
đưa ra quan điểm của mình đối với chủ đề thảo luận, mặt khác ở đó cũng
đòi hỏi tăng cường tư duy độc lập và trao đổi lẫn nhau trong nhóm
- Trong khi thực hiện phương pháp làm việc theo nhóm, giáo viên
đóng vai trò là người chuyển giao kiến thức và hiểu biết, chuẩn bị, tổ chức,
theo dõi việc thực hiện và đánh giá tổng kết kết quả làm việc của các nhóm.
Như vậy công việc của giáo viên trong làm việc theo nhóm không bao giờ
là thừa, trái lại đó là một sự rất cần thiết để giúp cho các nhóm đạt được kết
quả trong việc tìm ra những giải pháp, câu trả lời cho vấn đề được đưa ra.
c. Phương pháp thực hiện
* Trước khi lên lớp cả giáo viên và học sinh đều phải chuẩn bị tốt:
Giáo viên:
- Lập kế hoạch bài dạy:
+ Đọc kỹ bài dạy nắm mục tiêu cần đạt.
+ Kịch bản sư phạm.
+ Dự kiến các tình huống xảy ra trong khi thảo luận nhóm.
- Dự kiến:
+ Cách chia nhóm, số lượng nhóm.
+ Nhiệm vụ của các nhóm.
+ Thời gian thảo luận, trình bày.
- Thiết kế bài giảng: Chuẩn bị hệ thống câu hỏi nhằm khuyến khích học
sinh tích cực, hào hứng suy nghĩ ở mức độ cao và sâu hơn.
- Chuẩn bị: chuẩn bị chu đáo đồ dùng và thiết bị dạy học.
- Thực hiện kế hoạch dạy học.
Học sinh:
- Chuẩn bị những thứ cần thiết mà giáo viên đã dặn dò.
- Thuộc bài cũ và chuẩn bị bài mới (xem SGK).
- Làm những bài tập của giờ học lần trước…
- Chuẩn bị bài thuyết trình về vấn đề mà giáo viên đã dặn trước (đối với
trưởng nhóm) - học sinh làm việc này chỉ khi nội dung thảo luận xoay
quanh vấn đề lớn cần nhiều thời gian.
sung khi cần.
• Phát hiện các nhóm hoạt động không có hiệu quả, uốn nắn điều chỉnh.
• Nắm chắc đặc điểm tâm lý của từng học sinh để kịp thời động viên
khuyến khích nhằm tạo không khí phấn khởi tự tin trong học tập.
• Luôn có ý thức trách nhiệm trợ giúp tránh can thiệp sâu làm hạn chế
khả năng độc lập, sáng tạo của học sinh.
• Xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò, giữa trò với trò.
- Bước 4: Tiếp nhận thông tin phản hồi từ phía học sinh
+ Học sinh đại diện nhóm trình bày kết quả, thành viên nhóm bổ sung.
+ Nhóm khác đặt câu hỏi với sự gợi mở của giáo viên để các nhóm có
cơ hội trao đổi, tranh cãi, cải chính kiến thức của mình, đồng tình kiến thức
đúng, sửa chữa kiến thức sai, bổ sung kiến thức còn thiếu từ đó làm nảy
sinh ý thức vươn lên trước bạn bè của mỗi thành viên trong nhóm nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh.
+ Giáo viên tổng kết ngắn gọn theo từng nội dung thảo luận.
- Bước 5: Tổng kết rút kinh nghiệm thảo luận nhóm
Khen thưởng các nhóm, các thành viên hoạt động tích cực, sáng tạo,
nhắc nhở tinh thần, thái độ cộng tác trong việc thảo luận nhóm.
4. Một số tình huống cụ thể
Qua quá trình giảng dạy trên lớp tôi đã áp dụng phương pháp thảo luận
nhóm trong nhiều trường hợp nhằm phát huy tính tích cực của người học.
Tuy nhiên hiện nay, không nên cho rằng bất cứ bài nào cũng cần phải có
thảo luận nhóm để chứng tỏ là có quan tâm đến đổi mới phương pháp giảng
dạy. Trên thực tế, chỉ những bài mà có phần có tình huống cần thảo luận thì
mới nên chia nhóm thảo luận. Nếu không, không nhất thiết phải có thảo
luận nhóm.
Sau đây tôi xin trình bày một số trường hợp cụ thể:
a) Ví dụ 1
Thảo luận nhóm khi dạy bài “Cấu trúc lặp”, phần 3: “Lặp với số lần
chưa biết trước và câu lệnh while-do” để giải quyết vấn đề: Có thể dùng
câu trả lời và thống nhất câu trả lời chính xác:
• Trả lời câu 1: So sánh sự giống nhau và khác nhau của câu lệnh For-
do và câu lệnh While-do.
Giống nhau: Cùng là câu lệnh để mô tả cấu trúc lặp
Khác nhau:
Câu lệnh For-do Câu lệnh while-do
Ý nghĩa Thể hiện cấu trúc lặp với số lần
biết trước
Thể hiện cấu trúc lặp với số
lần chưa biết trước
Câu lệnh
For <biến
đếm>:=<giá trị đầu>
To <giá trị cuối>
Do <câu lệnh>;
While <điều kiện>
Do <câu lệnh>;
Hoạt
động
Câu lệnh viết sau từ khóa Do
được thực hiện tuần tự, với
biến đếm lần lượt nhận các giá
trị liên tiếp tăng từ giá trị đầu
đến giá trị cuối
Khi điều kiện còn đúng thì
còn thực hiện câu lệnh sau
Do sau đó quay lại kiểm tra
điều kiện
• Trả lời câu 2: Trong câu lệnh For-do, đại lượng <biến đếm> có giá
trị thay đổi sau mỗi lần lặp
- Bước 2: Chia lớp thành 2 nhóm
Nêu một số câu hỏi gợi ý thảo luận để học sinh dễ tìm ra câu trả lời:
- Câu hỏi 1: “Dựa vào đặc điểm nào mà em nhận biết được tham số
hình thức được khai báo dưới dạng tham biến hay tham trị?”.
- Câu hỏi 2: “Hãy quan sát một ví dụ cụ thể (trang 99) và cho biết kết
quả sẽ thay đổi thế nào khi thay đổi cách khai báo tham số hình thức từ
dạng tham biến sang tham trị?”.
- Bước 3:
Trước hết học sinh thảo luận theo các nhóm nhỏ (từng bàn một) sau đó
các nhóm nhỏ sẽ tổng hợp kết quả lại thành kết quả của nhóm lớn.
Giáo viên quan sát và chỉ dẫn khi cần thiết.
- Bước 4:
Các nhóm lớn trình bày kết quả, các em trả lời các câu hỏi gợi ý từ đó
nêu lên câu trả lời cho vấn đề cần thảo luận. Giáo viên tổng kết ngắn gọn
theo từng nội dung thảo luận. Nhận xét câu trả lời và thống nhất câu trả lời
chính xác:
Câu 1: Tham biến được khai báo kèm từ khóa var, tham trị được khai
báo không kèm từ khóa nào cả.
Câu 2: Cho các em theo dõi ví dụ trong SGK và đưa ra các tình huống:
Khi x và y được khai báo kèm từ khóa var thì kết quả thế nào, nếu không
có từ khóa var thì kết quả thế nào.
Từ đó kết luận lại vấn đề:
+ Khai báo tham số hình thức dạng tham biến khi chúng tương ứng với
các biến chứa dữ liệu ra.
+ Khai báo tham số hình thức dạng tham trị khi chúng chỉ được đưa
vào để lấy giá trị tính toán mà không cần lưu dữ liệu ra.
Ví dụ:
• Khai báo dạng tham biến cho các chương trình con sau: Hoán đổi vị
trí hai số nguyên: Procedure HoanDoi(var a,b:integer), chèn thêm vào
mảng A một số nguyên x: Procedure Chen(x: integer; var A:
nhất.
- Bước 5:
Tổng kết rút kinh nghiệm thảo luận nhóm: khen thưởng các nhóm, các
thành viên hoạt động tích cực, sáng tạo, nhắc nhở tinh thần, thái độ cộng
tác trong việc thảo luận nhóm.
d) Ví dụ 4
Khi dạy bài “Giao tiếp với hệ điều hành”, phần 2 “Cách làm việc với
hệ điều hành”, giáo viên có thể cho thảo luận nhóm để trả lời câu hỏi: “Nêu
ưu nhược điểm của hai cách giao tiếp với hệ điều hành? Trong hai cách
giao tiếp đó thì hiện nay chủ yếu người dùng sử dụng cách nào?”.
- Bước 1: Sau khi tìm hiểu xong đặc điểm của hai cách giao tiếp với hệ
điều hành, giáo viên có thể đưa ra vấn đề cần thảo luận.
- Bước 2: Chia lớp thành hai nhóm lớn và đưa ra các câu hỏi gợi ý:
+ Nêu đặc điểm của cách thứ nhất? Người dùng đưa ra yêu cầu cho
máy tính bằng cách làm thế nào? Sử dụng thiết bị gì?
+ Nêu đặc điểm của cách thứ hai? Người dùng đưa ra yêu cầu cho máy
tính bằng cách làm thế nào? Sử dụng thiết bị gì?
- Bước 3: Giáo viên đóng vai trò giám sát và hướng dẫn. Sau khi trả lời
được các câu hỏi gợi ý của giáo viên thì học sinh có thể suy luận ra vấn đề
cần giải quyết.
- Bước 4: Các nhóm trình bày kết quả. Giáo viên nhận xét và tổng kết
lại.
+ Cách 1 (Sử dụng câu lệnh):
• Ưu điểm: Hệ thống biết chính xác công việc cần làm, do đó lệnh được
thực hiện ngay.
• Nhược điểm: Người dùng phải nhớ câu lệnh và phải thao tác nhiều
trên bàn phím để gõ câu lệnh.
+ Cách 2 (Sử dụng các đề xuất do hệ thống đưa ra)
Ưu điểm:
• Thuận tiện và người dùng không cần biết quy cách câu lệnh cụ thể.
Nói tóm lại học sinh phải định hướng trước các thao tác cần thực hiện
trong đầu rồi mới tiến hành thực hành trên máy, như vậy vừa nhanh, vừa
chính xác, vừa có tính chuyên nghiệp, văn bản sẽ được trình bày một cách
thống nhất, đẹp mắt.
- Bước 3: Các nhóm tiến hành thảo luận. Giáo viên đóng vai trò giám
sát và hướng dẫn.
- Bước 4: Đại diện một số nhóm trình bày ý tưởng. Giáo viên nhận xét
và đưa ra cách làm đúng.
- Bước 5: Tổng kết rút kinh nghiệm thảo luận nhóm: khen thưởng các
nhóm, các thành viên hoạt động tích cực, sáng tạo, nhắc nhở tinh thần, thái
độ cộng tác trong việc thảo luận nhóm.
Ngoài những ví dụ được trình bày ở trên, khi dạy học Tin học chúng
ta còn có thể áp dụng phương pháp thảo luận nhóm cho rất nhiều nội dung
khác nữa. Việc này sẽ đem lại rất nhiều hiệu quả trong giảng dạy.
5. Kết quả đạt được
Sau một năm vận dụng quá trình tổ chức thảo luận nhóm, tuy chưa
được hoàn toàn như mong muốn, nhưng tôi nhận thấy phần đông học sinh
hứng thú, tích cực tham gia ý kiến, thoải mái, vui vẻ mỗi khi đến tiết, thao
tác hoạt động của học sinh nhanh nhẹn hơn, ý thức tập trung hơn. Qua thảo
luận nhóm, học sinh thật sự mạnh dạn hơn, kỹ năng diễn đạt tốt hơn, phá
tan được bầu không khí yên lặng của các học sinh mệt mỏi, nhút nhát.
Cùng một đối tượng học sinh nhưng khi được giáo viên quan tâm tổ
chức thảo luận chu đáo thì chất lượng bộ môn nâng lên rõ rệt, phần đông
học sinh hứng thú trong học tập, thoải mái mỗi lúc đến tiết học. Điều đó
một lần nữa khẳng định vai trò của việc tổ chức thảo luận theo nhóm là cần
thiết đối với môn tin học nói riêng và môn học khác nói chung. Điều đặc
biệt quan trọng là học sinh yêu thích và hứng thú tìm hiểu sâu sắc hơn môn
học này.
Sau đây là kết quả thực hiện được tại lớp 10A4 năm học 2012-2013:
Sau khi dạy tại hai lớp 10A3 và 10A4 (học sinh tại hai lớp này có khả năng
Nếu áp dụng phương pháp một cách nghiêm túc theo những nội dung trình
bày ở trên, chắc chắn người dạy sẽ thu được những kết quả rất hữu ích. Tuy
nhiên, đây là một phương pháp khó. Để vận dụng thành công phương pháp
này, GV cần nắm vững kiến thức, có quy trình thảo luận khoa học cùng với
nghệ thuật sư phạm. Bên cạnh đó, cần phải có điều kiện cơ sở vật chất
thuận lợi và sự kết hợp linh hoạt thảo luận nhóm với các phương pháp dạy
học khác.
2. Kiến nghị, đề xuất
Trong thực tế, việc thảo luận nhóm còn gặp khó khăn.
- Về thời gian: một tiết học 45 phút người thầy phải truyền tải nhiều nội
dung của bài học, nếu dành nhiều thời gian cho việc thảo luận, giáo viên
không dạy hết bài.
- Về việc chia nhóm: số học sinh mỗi lớp hiện nay khoảng 45 em, nếu
chia lớp thành 2 nhóm thì sẽ quá đông còn nếu chia làm nhiều nhóm thì
không đủ không gian để thảo luận, hoặc chia nhóm như hiện nay có thể
chấp nhận được nhưng giáo viên khó bao quát được lớp, khó phát hiện học
sinh nào còn thụ động.
- Về tâm lí: Một số học sinh sẽ ỷ lại vào nhóm trưởng, nếu giáo viên
không bao quát lớp tốt sẽ có nhiều em thụ động, không tích cực
- Về việc đánh giá kết quả học nhóm còn gặp khó khăn.
- Hiện nay cũng chưa có văn bản nào quy định cho việc đánh giá thảo
luận nhóm (hoặc làm việc theo nhóm học tập ở trường và ở nhà). Đây cũng
là một hạn chế bởi lẽ nếu có điểm số đánh giá, thì chất lượng thảo luận
nhóm chắc là sẽ khác vì nó bắt buộc học sinh phải cố gắng tối đa.
Mặc dù phương pháp này vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi thực hiện
nhưng nó cũng tạo ra những chuyển biến tích cực trong việc dạy và học.
Vậy nên, tôi mong muốn Ban giám hiệu trường THPT Ân Thi nói riêng,
các trường THPT khác nói chung cùng quý thầy cô sẽ tiếp tục nghiên cứu,
xem xét và đề ra biện pháp hay một tiêu chí nào đó cho việc đánh giá kết
quả hoạt động nhóm ngày càng khoa học, công bằng và khách quan hơn.
1. Cơ sở lí luận 5
2. Thực trạng vấn đề dạy học Tin học trong nhà trường hiện nay 6
2. Thực trạng vấn đề dạy học Tin học trong nhà trường hiện nay 6
3. Giải quyết vấn đề 7
3. Giải quyết vấn đề 7
a. Các hình thức thảo luận nhóm 8
a. Các hình thức thảo luận nhóm 8
b. Ưu điểm của phương pháp làm việc theo nhóm 9
b. Ưu điểm của phương pháp làm việc theo nhóm 9
c. Phương pháp thực hiện 10
c. Phương pháp thực hiện 10
4. Một số tình huống cụ thể 12
4. Một số tình huống cụ thể 12
a) Ví dụ 1 13
a) Ví dụ 1 13
b) Ví dụ 2 15
b) Ví dụ 2 15
c) Ví dụ 3 17
c) Ví dụ 3 17
d) Ví dụ 4 18
d) Ví dụ 4 18
e) Ví dụ 5 19
e) Ví dụ 5 19
5. Kết quả đạt được 20
5. Kết quả đạt được 20
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 23