Nghiên cứu hiện trạng môi trường và xây dựng các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu - Pdf 18

Nghiên cứu hiện trạng môi trường và xây dựng các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt
tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu
CHƯƠNG I:
MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hoá đất nước, cùng với sự phát
triển kinh tế-xã hội, các ngành sản xuất đang được mở rộng và phát triển nhanh
chóng, quá trình phát triển kinh tế và xã hội sẽ phát sinh nhiều loại chất thải, gia
tăng về khối lượng, đa dạng về thành phần, bao gồm các nguồn Chất thải rắn từ
hoạt động sinh hoạt, sản xuất, y tế, nông nghiệp
Tổng lượng rác thải sinh hoạt (RTSH) tại các đô thò ở Việt Nam vào
khoảng 18.879 tấn/ngày (năm 1999_ nguồn: Số liệu quan trắc CEETIA) nhưng chỉ
mới thu gom được khoảng 65% - 80%. Khối lượng này ngày càng tăng lên do tác
động của sự gia tăng dân số, phát triển kinh tế-xã hội và sự phát triển về trình độ
và tính chất tiêu dùng của người dân. Tại Việt Nam, RTSH hằng ngày chưa được
phân loại tại nguồn trước khi đưa đi xử lý. Ở đây RTSH được thu gom đổ vào các
bãi rác tạm bợ, đại khái mà không được xử lý, chôn lấp theo quy hoạch và hợp vệ
sinh gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, nguồn nước mặt và nước ngầm trong khu
vực. Thiết bò thu gom và vận chuyển rác còn lạc hậu, ít ỏi, không đáp ứng được
nhu cầu thu gom hiện tại.
Tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu là một trong những tỉnh có mức độ tăng trưởng kinh
tế cao nhất nước ta. Trong những năm qua, kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Ròa - Vũng
Tàu đã không ngừng phát triển, đặc biệt là tiềm năng phát triển của các ngành:
khai thác dầu khí, công nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng hải sản, du lòch dòch vụ,
các dòch vụ cảng Những lợi ích kinh tế đem lại do quá trình phát triển kinh tế
trên đòa bàn đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân
trong tỉnh, một vấn đề thách thức đang đặt ra cho tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu, đó là
SVTH: Trần Thò Tiên Trang 1
MSSV: 02ĐHMT279
Nghiên cứu hiện trạng môi trường và xây dựng các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt
tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu

TỔNG QUAN RÁC THẢI SINH HOẠT VÀ Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG DO RÁC THẢI SINH HOẠT
2.1 TỔNG QUAN VỀ RÁC THẢI SINH HOẠT
2.1.1 Đònh nghóa chất thải rắn (CTR) và rác thải sinh hoạt (RTSH):
Đònh nghóa CTR:
Chất thải rắn (Solid waste) là thuật ngữ chung dùng để chỉ tất cả các loại rác
được thải bỏ do không còn giá trò sử dụng. Tuy nhiên trên thực tế chúng cũng có
thể được tận dụng hoặc tái chế một phần hoặc toàn bộ. Ngoài ra trong thành phần
của chúng cũng có thể có cả các chất thải nguy hại (CTNH).
CTR là toàn bộ các loại vật liệu ở trạng thái rắn hoặc gần như rắn được loại
bỏ từ những hoạt động kinh tế và xã hội của con người hoặc do những vận động
của thiên nhiên tạo ra.
Đònh nghóa RTSH:
RTSH là chất thải rắn phát sinh từ sinh hoạt của con người: thực phẩm thừa,
vỏ hoa quả, bánh kẹo, các vật dụng trong gia đình… mà con người không dùng
nửa, vứt bỏ ra ngoài môi trường.
2.1.2 Nguồn gốc phát sinh RTSH:
Nguồn gốc phát sinh của RTSH rất đa dạng, chủ yếu từ quá trình sinh hoạt ở
các hộ gia đình, các chợ, các cơ quan, trường học, nhà hàng, khách sạn, các khu
thương mại, khu vui chơi giải trí, nơi công cộng, các cửa hàng… Nguồn gốc phát
sinh, thành phần và tốc độ phát sinh RTSH là cơ sở quan trọng để thiết kế, lực
chọn công nghệ và đề xuất các giải pháp quản lý RTSH phù hợp. Có nhiều cách
SVTH: Trần Thò Tiên Trang 3
MSSV: 02ĐHMT279
Nghiên cứu hiện trạng môi trường và xây dựng các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt
tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu
phân loại RTSH khác nhau, nhưng phân loại thông thường nhất, RTSH gồm: rác
hữu cơ và rác vô cơ.
Bảng 1. Nguồn gốc phát sinh và tác động của rác thải sinh hoạt lên
môi trường xung quanh

đô thò và tác động đến môi
trường không khí…
Dòch vụ
công cộng
đô thò
Rác, cành cây cắt tỉa, chất
thải chung tại các khu vui chơi,
giải trí
Mất vẻ đẹp cảnh quan, gây
ắt tắt giao thông, gây ô
nhiễm môi trường nước mặt…
Nhà hàng,
khách sạn,
chợ…
Các thực phẩm dư thừa, khăn,
hộp xốp, túi nylon, giấy của các
hộp bao bì…
Gây mùi hôi khó chòu, ảnh
hưởng đến sức khỏe của
nhân viên làm việc…
Nông nghiệp
Thực phẩm bò thối rữa, sản
phẩm nông nghiệp thừa, rác,
chất độc hại
nh hưởng đến sức khỏe
của người dân, gây ô nhiễm
môi trường không khí và
nước ngầm…
SVTH: Trần Thò Tiên Trang 4
MSSV: 02ĐHMT279

Trọng lượng riêng thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: vò trí đòa lí, mùa
trong năm, thời gian lưu giữ chất thải do đó cần phải thận trọng khi chọn giá trò
thiết kế. Trọng lượng riêng của một chất thải đô thò điển hình là khoảng 500lb/yd
3
(300 kg/m
3
) (1lb =0,4536kg, 1yd
3
= 0,7646 m
3
).
Độ ẩm:
Độ ẩm của CTR được biểu diễn bằng 2 phương pháp đó là phương pháp
trọng lượng ướt và phương pháp trọng lượng khô. Phương pháp trọng lượng ướt độ
ẩm trong một mẫu được thể hiện như là phần trăm trọng lượng ướt của vật liệu.
Phương pháp trọng lượng khô độ ẩm trong một mẫu được thể hiện như là phần
trăm trọng lượng khô của vật liệu.
Độ ẩm của RTSH thường được biểu diễn bằng % trọng lượng ướt của vật
liệu. Phương pháp trọng lượng ướt được sử dụng phổ biến trong lónh vực quản lí
RTSH, bởi vì phương pháp này có thể lấy mẫu trực tiếp ngoài thực đòa. Độ ẩm
theo phương pháp trọng lượng ướt được tính như sau:
M = (w-d)/ w * 100
Trong đó:
M: là độ ẩm (%)
w: là trọng lượng mẫu lúc lấy tại hiện trường (kg, g)
d: là trọng lượng mẫu sao khi sấy khô ở 105
0
C (kg, g)
SVTH: Trần Thò Tiên Trang 6
MSSV: 02ĐHMT279

++
=
+
=
=
Trong đó:
D

– Kích thước danh nghóa của hạt (mm)
L – Chiều dài của hạt (mm)
B – Chiều rộng của hạt (mm)
H – Chiều cao của hạt (mm)
Khả năng giữ nước hiện tại:
Khả năng giữ nước tại hiện trường của rác thải là toàn bộ lượng nước mà nó
có thể giữ lại trong mẫu rác thải dưới tác dụng của trọng lực. Khả năng giữ nước
của rác thải là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để xác đònh sự hình thành
nước dò rỉ từ bãi rác. Nước đi vào mẫu rác thải vượt quá khả năng giữ nước của
SVTH: Trần Thò Tiên Trang 7
MSSV: 02ĐHMT279
Nghiên cứu hiện trạng môi trường và xây dựng các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt
tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu
nó sẽ được giải phóng ra tạo thành nước rò rỉ. Khả năng giữ nước của rác thải
thay đổi phụ thuộc vào mức độ nén và trạng thái phân hủy của rác thải. Khả năng
giữ nước 30% theo thể tích tương đương với 30mm/100mm. Khả năng giữ nước
của chất thải không nén từ khu dân cư và thương mại thường dao động trong
khoảng 50 – 60% (Trần Hiếu Nhuệ, 1996)
Độ thấm của RTSH đã nén:
Tính dẫn nước của rác thải đã nén là một tính chất vật lý quan trọng, ở
phạm vi lớn nó sẽ chi phối sự dòch chuyển của các chất lỏng và chất khí trong bãi
rác. Hệ số thấm thường được biểu thò bằng công thức:

m
2
theo phương đứng và khoảng 10
-10
m
2
theo
phương ngang.
4.1.4.2 Các tính chất hóa học:
SVTH: Trần Thò Tiên Trang 8
MSSV: 02ĐHMT279
Nghiên cứu hiện trạng môi trường và xây dựng các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt
tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu
Các dữ liệu về thành phần hóa học của rác thải có ý nghóa hết sức quan
trọng trong việc lựa chọn phương pháp xử lý và tái sinh chất thải. Nếu rác thải
được xử lý bằng phương pháp thiêu đốt thì 4 tính chất hóa học quan trọng nhất là:
• Phân tích sơ bộ;
• Điểm nóng chảy của tro;
• Phân tích thành tố (chính xác);
• Nhiệt trò.
Trong trường hợp các thành phần hữu cơ trong rác sinh hoạt được sử dụng
làm phân ủ (compost) hay được sử dụng như là nguyên liệu để sản xuất các chế
phẩm sinh học khác thì các dữ liệu phân tích cuối cùng không chỉ bao gồm các
nguyên tố chính mà còn đòi hỏi phải phân tích hàm lượng các nguyên tố vi lượng
trong rác thải.
Phân tích sơ bộ:
Phân tích sơ bộ đối với các thành phần có thể cháy được trong chất thải rắn
đô thò bao gồm các thí nghiệm xác đònh các chỉ tiêu sau:
 Độ ẩm (lượng nước mất đi sau khi sấy ở 105
0

hỗn hợp vật liệu thải có tỷ số C/N thích hợp cho quá trình chuyển hóa sinh học.
Nhiệt trò
Hàm lượng năng lượng của các thành phần hữu cơ trong RTSH có thể được
xác đònh theo một trong các cách sau:
• Sử dụng nồi hay lò chưng cất qui mô lớn như là một calorimeter;
• Sử dụng bình đo nhiệt trò qui mô phòng thí nghiệm;
• Bằng cách tính toán nếu như biết được các nguyên tố cấu thành (công thức
hóa học hình thức).
Do khó khăn trong việc trang bò một lò chưng cất qui mô lớn nên hầu hết các
số liệu về hàm lượng năng lượng của các thành phần hữu cơ trong rác đô thò đều
dựa trên kết quả thí nghiệm của bình đo nhiệt trò trong phòng thí nghiệm.
4.1.4.3 Các tính chất sinh học của RTSH:
Ngoại trừ các thành phần plastic, cao su và da, về phương diện sinh học,
thành phần hữu cơ của hầu hết rác thải đều có thể được phân loại như sau:
SVTH: Trần Thò Tiên Trang 10
MSSV: 02ĐHMT279
Nghiên cứu hiện trạng môi trường và xây dựng các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt
tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu
• Các phân tử có thể hòa tan trong nước như: đường, tinh bột, axit amin và
nhiều axit hữu cơ khác;
• Bán cellulose, các sản phẩm ngưng tụ của đường 5 và 6 cacbon;
• Cellulose, sản phẩm ngưng tụ của đường glucose 6 cacbon;
• Dầu, mở và sáp – là những ester của các loại rượu và axit béo mạch dài;
• Lignin, một polymer có chứa vòng thơm với nhóm methoxyl (–OCH
3
) mà
tính chất hóa học của nó cho đến nay vẫn chưa biết được một cách chính xác;
• Lignocelluloza: hợp chất do lignin và celluloza kết hợp lại với nhau;
• Protein, chất tạo thành các amino axit mạch thẳng.
Có lẽ tính chất sinh học quan trọng nhất của thành phần hữu cơ trong RTSH

cộng đồng. Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, mùi hôi phát sinh nhanh chóng ở
các nơi chứa rác gây khó chòu cho mọi người xung quanh. Mùi hôi tạo thành là do
sự phân hủy yếm khí các thành phần hữu cơ trong rác có khả năng phân rã nhanh.
Chẳng hạn như trong điều kiện yếm khí, sulfate có thể bò khử thành sulfide (S
2–
),
và sau đó nó kết hợp với hydro tạo thành hydrosulfua (H
2
S) có mùi trứng thối rất
khó chòu. Sự tạo thành H
2
S có thể được minh họa bởi các phản ứng sau:
2CH
3
CHOHCOOH + SO
4
2–
→ 2CH
3
COOH + S
2–
+ H
2
O + CO
2
(Lactic) (Sulfate) (Acetic) (Ion Sulfit)
4H
2
+ SO
4

3
SCH
2
CH
2
CH(NH
2
)COOH → CH
3
SH + CH
3
CH
2
CH
2
(NH
2
)COOH
(Methioine) (Methyl mercaptan) (Aminobutyric axit)
Methyl mercaptan có thể bò thủy phân sinh hóa thành methyl alcohol và
hydro sulfua:
CH
3
SH + H
2
O → CH
4
OH + H
2
S

chôn lấp rác, chất khí chiếm ưu thế nhất là cacbon dioxyt. Khi bãi chôn lấp rác
hoàn thiện, khí sinh ra bao gồm chủ yếu là CO
2
và CH
4
với tỷ lệ ngang bằng
nhau. Bởi vì methane là chất khí có tính dễ nổ, nên sự chuyển động của nó cần
phải được kiểm soát.
Việc phóng thích các chất khí có hàm lượng rất thấp từ bãi rác cũng cần
được quan tâm do độc tính của chúng. Hơn 150 chất khí được phát hiện ở nhiều
bãi rác. Nhiều chất trong số đó được liệt vào các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi
(VOC). Việc xảy ra các nồng độ VOC đáng kể thường liên quan với các bãi rác
cũ hơn mà trước đó chúng đã tiếp nhận các chất thải công nghiệp và thương mại
có chứa các hợp chất đó.
Trong hầu hết các trường hợp, trên 90% thể tích khí sinh ra do sự phân hủy
của RTSH là mêtan và cacbonic. Khi mêtan có mặt trong không khí với nồng độ 5
– 15% nó sẽ gây nổ. Tuy nhiên, trong bãi rác không có oxy và khi nồng độ
methane đạt đến giá trò nói trên nó vẫn không gây nổ. Mặc dù hầu hết khí
SVTH: Trần Thò Tiên Trang 14
MSSV: 02ĐHMT279
Nghiên cứu hiện trạng môi trường và xây dựng các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt
tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu
methane thoát vào trong khí quyển, nhưng vẫn có thể tìm thấy cacbon dioxyt và
methane với nồng độ lên đến 40% ở khoảng cách 120m bên cạnh bãi rác. Đối với
các bãi rác không có sự thông khí, phạm vi của sự di chuyển ngang này thay đổi
phụ thuộc vào đặc tính vật liệu bao phủ và đất đá xung quanh. Nếu không kiểm
soát sự thông khí vào bầu khí quyển thì nó có thể tập trung bên dưới các công
trình xây dựng, các khoảng trống xung quanh hoặc các đê chắn xung quanh bãi
rác.
Nếu có sự thông khí thích hợp thì methane không còn là vấn đề đáng quan

sạch của đất sẽ làm cho các chất trở nên ít ô nhiễm hơn. Nhưng với khối lượng
lớn thì khả năng tự làm sạch của môi trường đất sẽ trở nên quá tải và đất bò ô
nhiễm nặng, gây suy thoái và giảm độ phì nhiêu của đất.
Quá trình phân hủy các hợp chất trong RTSH làm thay đổi tính chất lý hóa
của đất, sẽ tác động đến hệ sinh vật trong môi trường đất. Hơn nửa, các chất ô
nhiễm thấm vào lớp nước đưới đất, dẫn đến ô nhiễm nước trong đất (nước ngầm),
ảnh hưởng đến sức khỏe của con nguồn khi khai thác sử dụng nguồn nước này.
2.2.3 Ô nhiễm môi trường nước:
Hiện tượng xả rác bừa bãi trên các con kênh, sông, biển… Vừa gây mất vẻ
thẩm mỹ cảnh quan, vừa gây ô nhiễm môi trường nước mặt. Nếu tình trạng kéo
dài, gây nên hượng tượng thối rửa, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước mặt
và tạo mùi hôi thối ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân sống trong khu vực.
Thành phần nước rò rỉ từ các bãi rác
Thành phần Đơn vò Nồng độ
Bãi rác mới (dưới 2 năm) Bãi rác cũ (trên
10 năm)
Khoảng dao động Giá trò đặc trưng
pH - 4,5 – 7,5 6,0 6,6 – 7,5
BOD
5
mg/l 2.000 – 30.000 10.000 100 – 200
COD mg/l 3.000 – 60.000 18.000 100 – 500
TOC mg/l 1.500 – 20.000 6.000 80 – 160
TSS mg/l 200 – 2.000 500 100 – 400
Nitơ hữu cơ mg/l 10 – 800 200 80 – 120
N-NH
3
mg/l 10 – 800 200 20 – 40
N-NO
3

SO
4
2–
mg/l 100 – 1.000 300 20 – 50
Sắt tổng cộng mg/l 50 – 1.200 60 20 – 200
(Nguồn: Introduction to Environmental Engineering, 1998)
Đối với nguồn nước ngầm, cũng bò ô nhiễm nghiêm trọng do tác động của
rác thải sinh hoạt. Nước rò rỉ tại các bãi chôn lấp thấm vào đất gây ô nhiễm trực
tiếp đến nguồn nước ngầm.
Nước dò rỉ có thể được đònh nghóa là lượng chất lỏng tách ra từ bãi rác đi
vào môi trường xung quanh mang theo nhiều thành phần ô nhiễm. Trong hầu hết
các bãi rác đô thò, một phần nước rò rỉ là do chất lỏng sinh từ sự phân hủy các vật
chất hữu cơ và phần còn lại là do chất lỏng đi từ ngoài vào bãi rác như: hệ thống
thoát nước bề mặt, nước mưa và nước ngầm.
Khi nước rò rỉ thấm xuyên qua chất thải rắn đang bò phân hủy yếm khí ở các
tầng bên dưới của bãi rác sẽ mang theo các thành phần ô nhiễm hóa học và sinh
học. Nước rò rỉ có chứa nhiều chất hòa tan và có thể có cả các vi khuẩn gây bênh
di chuyển thâm nhập vào nguồn nước ngầm, kết quả là nguồn nước ngầm bò ô
nhiễm nặng.
2.2.4 Tác hại của RTSH lên cảnh quan và sức khoẻ công đồng:
Các sinh vật lây truyền bệnh (vectors), ô nhiễm nước và không khí không
phải là vấn đề lớn tại một bãi chôn lấp rác được vận hành và bảo dưỡng đúng qui
cách. Việc nén chặt tốt chất thải, tạo lớp phủ mỗi ngày cho chất thải rắn với việc
SVTH: Trần Thò Tiên Trang 17
MSSV: 02ĐHMT279
Nghiên cứu hiện trạng môi trường và xây dựng các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt
tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu
nén chặt lớp phủ, và quản lý nội tại tốt là những công việc cần phải làm để kiểm
soát ruồi, các loài gặm nhấm và sự cháy.
Việc đốt cháy, mà nó có thể gây ra ô nhiễm không khí, không bao giờ cho

Việc thu gom, xử lý bất hợp lý chất thải rắn cũng là nguyên nhân quan trọng
làm tăng sự xuống cấp nghiêm trọng của hệ thống thoát nước. Rác nhiều khi được
đổ bừa bãi trực tiếp vào hệ thống cống rãnh cũng như kênh rạch tiêu thoát nước,
làm tắc nghẽn các hệ thống cống thoát nước, cản trở dòng chảy, bồi lắng kênh
rạch… gây ô nhiễm nặng nề đến chất lượng các nguồn nước và ảnh hưởng xấu
đến các hệ sinh thái nước.
2.3 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ RTSH Ở VIỆT NAM
Ở nước ta do điều kiện kinh tế chưa phát triển nên hầu hết các đô thò chưa
được đầu tư thích đáng cho công tác xử lý rác. Những thành phố lớn như Hà Nội
và Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư xây dựng nhà máy chế biến rác làm phân
hữu cơ. Một số đô thò khác đã và đang lập dự án bãi chôn lấp hợp vệ sinh và chế
biến rác làm phân hữu cơ.
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Như chúng ta đã biết những thách thức và nguy cơ toàn cầu về nhòp độ cạn
kiệt, suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên và gia tăng lượng RTSH do dân
số ngày càng tăng và nhu cầu tiêu thụ của con người ngày càng nhiều. Ảnh hưởng
ngược lại của những dấu hiệu suy thoái và ô nhiễm đó tới tăng trưởng và phát
triển kinh tế – xã hội đang là mối quan tâm sâu sắc của nhiều quốc gia, nhiều tổ
chức quốc tế và các nhà khoa học ở khắp mọi nơi trên thế giới. Điều này đã thúc
đẩy việc hình thành và phát triển nhanh chóng một lónh vực khoa học công nghệ
mới có tính chất liên ngành trong khoảng hơn 100 năm qua ở lónh vực Khoa học
Công nghệ Môi trường, nhằm góp phần giải quyết các vấn đề liên quan đến việc
SVTH: Trần Thò Tiên Trang 19
MSSV: 02ĐHMT279
Nghiên cứu hiện trạng môi trường và xây dựng các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt
tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu
khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và xử lý chất thải,
bảo vệ môi trường.
Những thành tựu của khoa học và công nghệ môi trường đã cung cấp nhiều
giải pháp khác nhau để xử lý chất thải rắn công nghiệp một khi chúng đã được

biến CTR thành năng lượng. Người ta đốt cháy chất thải rắn trong một lò đốt đặc
biệt được thiết kế theo kiểu lò đốt được bao bọc xung quanh bằng các ống chứa
đầy nước để thu hồi lại nhiệt ở dạng hơi nước. Hơi nước có thể được sử dụng trực
tiếp để gia nhiệt hoặc sản xuất ra điện. Theo số liệu nghiên cứu của Nhật, số
lượng lò đốt rác ở các nước công nghiệp phát triển vào năm 1994: Nhật – 1.892,
Mỹ – 148, Canada – 17, Đức – 53, Hà Lan – 11, Thụy Điển – 21 đã phản ảnh xu
thế rõ ràng của việc sử dụng phương pháp nhiệt để xử lý CTR. Nhiều quốc gia
cũng đã ban hành các chính sách nhằm khuyến khích và kêu gọi cộng đồng sử
dụng điện bằng cách mua điện được sản xuất từ các nhà máy đốt rác. Với hiệu
quả thu hồi nhiệt và sản xuất điện, các nhà máy chế biến rác thành năng lượng có
thể sản xuất ra khoảng 600 kWh điện năng trên mỗi tấn chất thải rắn sinh hoạt.
Mặc dù đã đạt được một số tiến bộ nhất đònh trong việc xử lý chất thải rắn
bằng phương pháp đốt, song người ta vẫn không khỏi lo ngại về việc phát sinh ra
các chất thải thứ cấp từ các lò đốt rác. Nhiều báo cáo cho thấy có một lượng lớn
dioxins phát thải từ lò đốt chất thải rắn.
Theo tài liệu “Nghiên cứu tổng thể các lò đốt chất thải” do Chính phủ Nhật
Bản thực hiện năm 1997, hệ số phát thải dioxins theo khí thải lò đốt trung bình là
4,5 µg TEQ/tấn chất thải; theo tro bay là 45 µg TEQ/tấn chất thải và tích tụ trong
tro đáy lò là 3,45 µg TEQ/tấn chất thải. Kết quả nghiên cứu này đã chỉ rõ rằng
hầu hết dioxins phát thải ra môi trường chủ yếu theo tro bay với tải lượng phát
SVTH: Trần Thò Tiên Trang 21
MSSV: 02ĐHMT279
Nghiên cứu hiện trạng môi trường và xây dựng các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt
tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu
thải lớn gấp 10 lần so với khí thải. Điều này đặt ra vấn đề là cần ưu tiên xử lý tro
trong kiểm soát ô nhiễm không khí từ các lò đốt.
Thành tựu mới nhất liên quan đến vấn đề này là phát triển công nghệ nung
chảy tro và hóa khí kết hợp trong hệ thống lò đốt CTR. Việc nung chảy tro và hóa
khí ngay trong hệ thống lò đốt không chỉ cho phép phân hủy toàn bộ dioxin mà
còn ổn đònh kim loại nặng trong tro. Nhật là một trong những quốc gia đi đầu về

thiểu chất thải. Trong khoảng thời gian này, nhiều ý tưởng mới đã được nảy sinh
nhằm làm giảm các chất thải ngay tại nguồn.
Những chiến lược môi trường với nhiều tên gọi khác nhau, chẳng hạn như:
Ngăn ngừa ô nhiễm (Pollution Prevention – P2), Giảm thiểu chất thải (Waste
Minimization – WM), Sản xuất sạch hơn (Cleaner Production – CP)… dần dần
được tiếp cận như là một sự cần thiết để giảm các khoản chi phí khổng lồ cho
việc xử lý chất thải và các hành động làm sạch môi trường. Kết quả là hiện tại ở
nhiều nước trên thế giới, cách tiếp cận “ở cuối đường ống” đang được thay thế
dần bằng cách tiếp cận tích cực được ưa chuộng hơn – đó là giảm thiểu chất thải.
2.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam:
Hiện nay nước ta đã xuất hiện nhiều điểm sáng trong cuộc vận động thu
gom phân loại RTSH góp phần sạch đẹp môi trường sống của các đô thò và khu
dân cư. Ở nhiều tỉnh đã thành lập các hợp tác xã, các công ty trách nhiệm hữu
hạn trách nhiệm dòch vụ việc thu gom rác dọn vệ sinh đường phố. Điển hình nhất
có thể nói là tỉnh Thái Bình. Tỉnh Thái Bình đã triển khai khá thành công chương
trình này trên toàn thò xã Thái Bình: vừa thu gom rác vừa vận động, giáo dục
người dân phân loại RTSH tại nguồn một cách có kết quả. Một số cá nhân đã làm
kinh tế thành công bằng thu gom phân loại và tái chế rác, trong đó có cả xử lý
SVTH: Trần Thò Tiên Trang 23
MSSV: 02ĐHMT279
Nghiên cứu hiện trạng môi trường và xây dựng các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt
tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu
RTSH hữu cơ thành phân bón vi sinh như ởø Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình,
Bình Thuận…
Tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng việc thu
gom RTSH do công ty môi trường đô thò đảm nhiệm cũng đã có nhiều đổi mới,
giải quyết môi trường sạch đẹp. Tuy nhiên do vấn đề phân loại RTSH tại các hộ
gia đình và những nơi công cộng chưa giải quyết được nên gây khó khăn cho nhà
máy sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ RTSH cũng như vấn đề chuyên chở rác
và bãi chôn lấp rác.

cộng đồng và môi trường.
Việt Nam đã có những biện pháp đáp ứng với một khung pháp lý tốt, kế
hoạch đầu tư mạnh mẽ và tập trung vào mục tiêu nâng cao chất lượngdòch vụ ở
cấp đòa phương, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Trong nhiều thập kỹ qua, Việt
Nam đã có nhiều tiến bộ trong việc cải thiện hệ thống quản lý RTSH, nhưng vẫn
còn nhiều hạn chế. Sau đây là một số hệ công nghệ xử lý RTSH tại các đô thò ở
Việt Nam:
Nhà máy xử lý rác Nam Thành – Ninh Thuận:
Nhà máy được khởi công xây dựng trong vòng 8 tháng và chính thức đi vào
hoạt động từ 01/01/2003 cho đến nay. Tổng số vốn đầu tư xây dựng của Công ty
ban đầu là 30 tỷ. Đây là nhà máy xử lý RTSH tư nhân tự bỏ vốn xây dựng. Nhà
máy chủ yếu thu gom và xử lý lượng RTSH tại Tp Phan Rang.
Thực tế hiện nay cho thấy các trang thiết bò hiện đại nhập từ nước ngoài rất
tốn kém nhưng khi đưa vào hoạt động thì không hiệu quả. Vì vậy công ty đã
nghiên cứu chế tạo và cải tiến tất cả các thiết bò để cho phù hợp với tích chất rác
thải của Việt Nam. Hiện nay công ty đang tiến hành các quy trình mới cho nhà
máy hiện đại hơn. Công ty đã có đăng ký độc quyền sáng chế xử lý.
SVTH: Trần Thò Tiên Trang 25
MSSV: 02ĐHMT279

Trích đoạn ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG DO RTSH 1Môi trường nước: Môi trường không khí: Xây dựng giải pháp phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn: Xây dựng giải pháp vận chuyển và trung chuyển: Xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status