Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP quân đội - Pdf 18

Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu một bước ngoặt
quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế nước ta. Đến nay, sau 20
năm đổi mới Việt Nam đã gặt hái được những thành quả quan trọng trên
nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội…Bước vào trế kỷ 21, mục tiêu hội
nhập kinh tế quốc tế, gia nhập các tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực như
WTO, AFTA , thích nghi với xu thế cạnh tranh và hợp tác đã đặt ra cho
chúng ta những thời cơ mới, thách thức mới và nhiệm vụ mới. Ngành ngân
hàng, với vai trò cực kỳ quan trọng nền kinh tế cũng không nằm ngoài xu thế
đó. Hơn nữa, các ngân hàng thương mại còn phải tìm cho mình một hướng đi
đúng đắn để có thể giữ vững vị thế của mình, chiến thắng trong cuộc cạnh
tranh đồng thời thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Một hướng đi mà các ngân hàng thương mại Việt Nam đang nỗ lực theo đuổi
và bước đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ là thực hiện hoạt động cho vay
tiêu dùng. Đó là một hướng đi đúng đắn và đang trở thành xu thế ngày càng phổ
biến của các ngân hàng thương mại hiện đại, bởi thị trường cho vay tiêu dùng ở
Việt Nam là hiện hữu và đem lại mức lợi nhuận hấp dẫn cho các ngân hàng. Hoạt
động cho vay tiêu dùng một mặt giúp các ngân hàng thương mại hoạt động kinh
doanh hiệu quả hơn và bớt rủi ro hơn, mặt khác nó còn khuyến khích sản xuất và
tiêu dùng, từ đó kích thích tăng trưởng kinh tế.
Ngân hàng TMCP Quân đội bắt đầu triển khai nghiệp vụ này từ đầu năm
2000. Đến nay, sau 7 năm hoạt động cho vay tiêu dùng đã trở thành hoạt động kinh
doanh chủ yếu và mang lại không nhỏ cho ngân hàng.Tuy vậy, để thực hiện thành
công loại hình kinh doanh này đòi hỏi ngân hàng phải có sự đầu tư thích đáng về
vốn, công nghệ, nguồn nhân lực…kết hợp với môi trường kinh doanh thuận lợi.
Nhận thức được hướng kinh doanh đó của các ngân hàng thương mại nói
chung và Ngân hàng TMCP Quân đội nói riêng, được sự hướng dẫn của thầy giáo
– PGS-TS Đàm Văn Huệ với những kiến thức thực tiễn thu được trong quá trình
Chuyên đề thực tập
thực tập tại Ngân hàng TMCP Quân đôị, em đã quyết định chọn đề tài: “Mở rộng

tiền, những người giữ tiền này nảy sinh nhu cầu cho vay số tiền đó. Từ đó phát sinh
nghiệp vụ đầu tiên cơ bản nhất của ngân hàng nói chung, đó là huy động vốn và cho
vay vốn.
Ngân hàng là tổ chức thu hút tiền tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh
tế. Ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ của xã hội. Mọi cá nhân, tổ chức xã
hội, doanh nghiệp đều có thể mở tài khoản tại ngân hàng để gửi tiền vào đó. Ngoài
việc đảm bảo trong việc cất tài sản, những người tới gửi tiền vào ngân hàng còn
được hưởng một nguồn thu nhập từ lãi suất tiền gửi. Tỉ lệ này có thể giống hoặc
khác nhau giữa các ngân hàng, xong chúng luôn thay đổi trong một giới hạn nhất
định, theo quy định của ngân hàng trung ương trong từng nước.
Chuyên đề thực tập
Ngân hàng cung cấp các khoản tín dụng cho hàng triệu khách hàng, trong đó
có cả các cá nhân cũng như doanh nghiệp. Đối với các cá nhân, ngân hàng cho vay
để mua sắm đồ dùng gia đình, xây dựng nhà cửa, cho vay du học, du lịch Đối với
doanh nghiệp, ngân hàng cung cấp các khoản tín dụng cho doanh nghiệp bổ xung
vốn lưu động, mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, cho vay phát triển dự án
Ngân hàng còn giúp thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là các chính
sách tiền tệ nhằm điều tiết sự phát triển kinh tế theo các mục tiêu xã hội do nhà
nước đặt ra.
Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp phương tiện thanh toán cho các cá nhân và
doanh nghiệp trong xã hội, như: séc, thẻ tín dụng, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu Bên
cạnh đó, ngày nay các ngân hàng còn cung cấp thêm mảng tư vấn tài chính, bảo
lãnh, thực hiện đầu tư trên thị trường chứng khoán
Tóm lại, xã hội sẽ không phát triển mạnh mẽ như bây giờ nếu không có sự
đóng góp của ngân hàng, nó là chìa khoá cho sự phát triển kinh tế cũng như xã hội ở
hầu hết các quốc gia trên thế giới. Có thể nói, đứng sau sự phát triển của mỗi một
quốc gia là một hệ thống ngân hàng khổng lồ, điều đó đã được chứng minh , ở
những nước công nghiệp phát triển luôn đi kèm với một hệ thống các tổ chức tài
chính hùng hậu, phục vụ mọi yêu cầu phát triển.
Hoạt động chính của ngân hàng thương mại là huy động và sự dụng vốn. Việc

thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng thanh toán khoản
vay của khách hàng. Theo đó, gồm:
- Tín dụng ngắn hạn: từ 12 tháng trở xuống.
- Tín dụng trung hạn: từ trên 1 năm đến 5 năm.
- Tín dụng dài hạn: trên 5 năm.
Thời hạn tín dụng thường được xác định cụ thể (ngày ,tháng, năm) và ghi trong hợp
đồng tín dụng, là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng một
khoản tín dụng. Thời hạn tín dụng có thể được tính từ lúc đồng vốn đầu tiên của
ngân hàng đước phát ra đến khi đồng lãi cuối cùng được thu về. Thời hạn tín dụng
có thể là thời gian mà khi kết thúc, ngân hàng sẽ xem xét lại quan hệ tín dụng với
khách hàng ( thường trong truờng hợp để xem có nên cho vay tiếp không).
1.1.2.2. Căn cứ theo tài sản đảm bảo
Chuyên đề thực tập
Tài sản đảm bảo các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được nguồn thu
lợi thứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất (từ quá trình sản
xuất kinh doanh) không có hoặc không đủ.
Bao gồm các hình thức : tín dụng có đảm bảo bằng uy tín của khách hàng, có
đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài sản.
Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài sản ma
mình đang sở hữu hoặc sử dụng , hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba để trả nợ
cho ngân hàng.
Tín dụng dựa vào uy tín của chính khách hàng chỉ áp dụng cho những khách
hàng là ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính trong sạch , tốt, ít sảy ra tình
trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người đi vay.;các
khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà chính phủ yêu cầu không cần tài sản
đảm bảo; những khoản cho vay các tổ chức tài chính lơn, các công ty lớn, hoặc
những khoản cho vay trong thời gian ngắn mà ngân hàng có thể giám sát
1.1.2.3. Căn cứ theo hình thức cho vay.
Bao gồm : chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê.
Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng

dụng. Qua đó cho thấy với tốc độ phát triển mạnh mẽ như hiện nay và với dân số
trên 82 triệu người đang mở ra thị trường cho vay tiêu dùng vô cùng rộng lớn và
đầy tiềm năng.
1.2.2. Khái niệm cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng được hiểu là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu cá nhân,
hộ gia đình theo nguyên tắc các cá nhân này phải hoàn trả gốc và lãi sau một thời
gian nhất định. Các khoản cho vay tiêu dùng này là nguồn tài chính quan trọng giúp
người tiêu dùng chi trả các nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày như nhà ở, phương
tiện đi lại hay nhu cầu đi du lịch, du học trước khi họ có đủ tiền để trang trải
những khoản này.
1.2.3. Đặc điểm cho vay tiêu dùng:
Chuyên đề thực tập
Cho vay tiêu dùng có những đặc điểm giống và khác với tín dụng ngân hàng
nói chung.
- Khách hàng vay là các cá nhân và các hộ gia đình. Cho vay tiêu dùng tập
trung vào các cá nhân có nhu cầu mua sắm những hàng hoá có giá trị không lớn, số
lượng cá nhân cần vay ngân hàng hiện nay rất nhiều và đang có xu thế tăng lên, hứa
hẹn một thị trường tiềm năng cho các Ngân hàng.
- Mục đích vay nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình
không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh. Do đó, hình thức cho vay này phụ
thuộc vào nhu cầu, tính cách của từng đối tượng khách hàng, chu kỳ kinh tế và giá
cả hàng hoá dịch vụ mà người đi vay muốn mua. Một khoản vay chỉ có thể được
chấp nhận khi mà mục đích vay tiền của khách hàng là phù hợp với chính sách của
ngân hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng cần khách hàng thể hiện là mình có trách nhiệm
hoàn trả đầy đủ và đúng hạn các khoản nợ.
- Quy mô món vay nhỏ nhưng số lượng các món vay lớn.
Vì các cá nhân thường mua những hàng hoá tiêu dùng có giá trị không lớn,
hoặc họ chỉ vay để bổ xung vào só tiền còn thiếu. Cho nên, mỗi lần cho vay, ngân
hàng lại phải tíên hành đủ thủ tục cho vay đối với từng các nhân, cho nên chi phí tổ
chức cao, vì vậy lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất cho vay thương

người vay không trả đựơc. Tài sản đảm bảo có thể là tài sản độc lập, hoặc là tài sản
hình thành từ vốn vay ngân hàng.
- Khách hàng vay tiêu dùng thường quan tâm đến số tiền họ fải thanh toán chứ
ít quan tâm đến lãi suất khoản vay. Do mục địch của các cá nhân khi tham gia dịch
vụ vay này là nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình, cho nên họ thường nhìn vào
kết quả món tiền cần phải thanh toán trọn gói để so sánh với giá phải trả nếu không
vay ngân hàng. Chính vì vậy, với một chu trình cho vay chuyên nghiệp, ngân hàng
có thể thoả mãn được nhu cầu của khách hàng lại tăng được thu nhập cho bản thân
ngân hàng.
1.2.4.Cơ sở cho vay tiêu dùng
Nhiều công ty lớn, có thể tự phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu để tự tài trợ,
nhiều công ty tài chính cũng mở rộng thêm thị phần cho vay các doanh nghiệp,
thêm nữa, các công ty nước ngoài tham gia ngày càng nhiều vào lĩnh vực tài chính
Chuyên đề thực tập
khiến cho mảng hoạt động cho vay các doanh nghiệp ở các ngân hàng bị thu hẹp lại.
Điều này đưa đến kết quả tất yếu là các ngân hàng phải tìm kiếm nguồn thu nhập
mới, do vậy cho vay tiêu dùng ngày nay rất được chú trọng trong các ngân hàng.
Bên cạnh đó, việc quốc tế hoá, mở rộng kinh tế với nước ngoài khiến cho cụôc
sống xã hội ngày càng sôi động, mọi người có công ăn việc làm ổn định, thu nhập
bình quân đầu người ngày càng tăng lên, dẫn đến phát sinh nhu cầu tiêu dùng, mua
sắm cũng tăng lên. Những cá nhân có nhu cầu mua sắm thường là những người có
thu nhập cao và ổn định, nhưng chưa thể có ngay số tiền đủ lớn để chi cho việc mua
sắm của mình. Việc cho vay tiêu dùng sẽ giúp họ nâng cao mức sống, tăng khả
năng đào tạo, mở ra thêm nhiều cơ hội cho cá nhân phát triển, đồng thời sẽ tăng
thêm khả năng chi trả cho ngân hàng. Đây là nhu cầu mới và ngày càng gia tăng, nó
sẽ là một lĩnh vực tiềm năng cho các ngân hàng trong tương lai.
Các món vay cá nhân thường không quá lớn, thời gian vay thường ngắn do vậy
chi phí huy động trên 1 đồng tiền cho vay tiêu dùng sẽ thấp hơn là chi phí huy động
các khoản cho vay doanh nghiệp. Các món vay lại được rải rác, không tập trung vào
một số đối tượng chính, số lượng các món vay nhiều, khiến cho rủi ro sẽ được phân

hàng, mà thông qua các doanh nghiệp bán chịu hàng hoá, dịch vụ, nên không thể
nắm vững được khả năng trả nợ của khách hàng, (2) thiếu sự kiểm soát của ngân
hàng ( trứơc và sau khi vay vốn), nhất là trong việc lựa chọn khách hàng, (3) quy
trình nghiệp vụ với hình thức cho vay này rất phức tạp.
+ Cho vay tiêu dùng trực tiếp: là ngân hàng và khách hàng trực tiếp gặp nhau
để tiến hàng cho vay hoặc thu nợ. Hình thức này có ưu điểm là: (1) ngân hàng có
thể sử dụng triệt để trình độ, kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng của cán bộ tín
dụng, do đó các khoản cho vay thường có chất lượng cao hơn so với cho vay gián
tiếp, (2) cán bộ tín dụng khi cho vay chú ý nhất đến chất lượng khoản vay còn các
doanh nghiệp bán lẻ, thường coi trọng nhiều đến tăng doanh số bán hàng hơn là
chất lượng khoản vay, cho nên dễ dẫn đến việc cấp các khỏan tín dụng không chính
đáng, ngược lại có thể từ chối đối với những khách hàng tốt của mình, (3) hình thức
cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn hình thức cho vay gián tiếp, vì khi gặp trực
tiếp khách hàng, ngân hàng mới xử lý tốt các vấn đề phát sinh, giải quyết tốt hơn
Chuyên đề thực tập
những yêu cầu của cả hai phía, (3) do đối tượng khách hàng rất rộng , do đó việc
đưa ra các dịch vụ, tiện ích mới là rất thuận lợi, đồng thời tăng cường quảng bá hình
ảnh của ngân hàng đến với khách hàng.
- Căn cứ vào phương thức hoàn trả
+ Cho vay tiêu dùng trả góp :là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cho
phép khách hàng trả gốc và lãi làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận.
Loại hình cho vay này thường được áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc
thu nhập từng kì của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ
vay. Khách hàng có thể trả trực tiếp cho ngân hàng hoặc trả qua nhà cung cấp dịch
vụ trả góp để trả nợ ngân hàng.
Trong phương thức này, các ngân hàng cần chú ý một số vấn đề cơ bản như:
* Số tiền trả trước: khách hàng phải trả trước một phần tiền ( khoảng 30%-
40% giá trị hàng hoá dịch vụ), phàn còn lại ngân hàng sẽ cho vay. Nhờ cách này,
khách hàng sẽ có ý thức là mình là chủ sở hữu của tài sản này, nên sẽ có ý thức
hoàn trả số nợ vay, hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Số tiền trả trước nhiều hay ít tuỳ

ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được
phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, thời hạn tín dụng
được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ,
khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một
cách tuần hoàn theo một hạn mức tín dụng.
Lãi suất mà khách hàng phải chịu được tính theo những cách sau: (1) lãi suất
được tính theo dư nợ thực tế có tính đến sự điều chỉnh. Theo phương thức này số dư
nợ được dùng để tính lãi là số dư cuối cùng của mỗi kỳ sau khi khách hàng đã thanh
toán nợ cho ngân hàng; (2)lãi suất được tính theo dư nợ thực tế của khách hàng
trước khi có sự điều chỉnh. Theo phương thức này số dư dùng để tính lãi là số dư nợ
mỗi kỳ có trước khi khoản nợ được thanh toán; (3) lãi suất được tính trên dư nợ
bình quân của ngân hàng. Phương pháp này có lợi cho khách hàng vì khách hàng
chỉ cần làm thủ tục vay một lần nhưng có thể vay ngân hàng nhiều lần với số tiền
khác nhau. Nhưng số tiền vay không được quá lớn và trong thời hạn dài.
1.2.5.2. Một số phương pháp cho vay tiêu dùng:
Các ngân hàng trên thế giới thường sử dụng 2 phương pháp chính :
(1) Phương pháp hệ thống điểm: là tập hợp các tiêu thức khác nhau liên quan
đến từng đối tượng khách hàng. Mỗi tiêu thức tương ứng với một điểm nhất định,
tuỳ theo từng tiêu thức và tầm quan trọng trong hệ thống các tiêu thức. Tuy nhiên,
Chuyên đề thực tập
phương pháp hệ thống điểm số trên phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như môi
trường, kinh tế xã hội nếu các yếu tố này có biến động lớn thì ngân hàng cần phải
xem xét điều chỉnh lại các tiêu thức cho phù hợp, bảo đảm chất lượng cho vay và
thu hồi nợ.
(2) Phương pháp phán đoán là quá trình trong đó ngân hàng tiến hành phân
tích, đánh gía toàn bộ thông tin định tính và định lượng về khách hàng nhằm hạn
chế các khoản cho vay có rủi ro cao. Vì khi quyết định cho vay, ngân hàng cần phải
quan tâm đến nhiều vấn đề khác như khả năng trả nợ của khách hàng, điều kiện
kinh tế hiện tại của khách hàng, các điều kiện khác của khách hàng có phù hợp với
cơ chế, chính sách của ngân hàng hay không

được. Còn khi ngân hàng mang số tiền huy động được để cho vay lại, ngân hàng sẽ
thu được được lợi nhuận thông qua lãi suất cho vay, khoản tiền lãi này thường có lãi
suất cao hơn là lãi trả cho tiền huy động vào ngân hàng. Ngân hàng càng cho vay
được nhiều với lãi suất cao, thì lợi nhuận thu về được càng nhiều, mà thị trường cho
vay tiêu dùng là thị trường rộng lớn và rất tiềm năng, đang có xu hướng mở rộng
thêm nữa. Cho nên, cho vay tiêu dùng đang là mảng hoạt động được tập trung vào
hoạt động mạnh nhất hiện nay tại các ngân hàng.
Mặc dù chi phí cho các món vay tiêu dùng thường cao hơn các món vay khác,
song các ngân hàng vẫn tập trung vào khai thác mảng này, để có thể mở rộng thêm
quan hệ với các cá nhân, đưa đến cho người dân nhiều dịch vụ đi kèm nữa, làm cho
mối quan hệ giữa cá nhân và ngân hàng ngày càng được mở rộng và phát triển. Bên
cạnh đó, việc mở rộng lĩnh vực cho vay tiêu dùng giúp ngân hàng phân tán rủi ro,
không tập trung vốn nhiều vào một số đối tượng, do vậy làm tăng khả năng an toàn
cho vốn của ngân hàng.
1.2.6.2. Tác động đối với người tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu ,
mua sắm của người dân. Do vậy đối tượng của cho vay tiêu dùng chính là người
tiêu dùng, đặc biệt là những người có thu nhập trung bình. Với mức lương không
cao nhưng ổn định thì họ phải mất một khoảng thời gian dài để tích kiệm mới mong
mua được những sản phẩm tiêu dùng có giá trị lớn hơn khả năng chi trả hiện tại của
Chuyên đề thực tập
họ, cho nên việc xuất hiện loại hình cho vay tiêu dùng đã giúp họ có thể thoả mãn
nhu cầu tiêu dùng này. Việc thoả mãn những yêu cầu cơ bản này sẽ mang lại sự cải
thiện trong cuộc sống hàng ngày, làm tăng khả năng tài chính cho người tiêu dùng,
cho nên việc hoàn trả khoản vay lại càng dễ dàng.
Trên thực tế, ta thấy có nhiều nhu cầu mang tính tự nhiên, thiết yếu, có ý nghĩa
quan trọng trong cuộc sống đối với cá nhân và hộ gia đình , như nhu cầu về nhà ở,
phương tiện đi lại như xe máy,ô tô, hay các đồ dùng tiện nghi sinh hoạt khác song
khả năng tài chính thường có giới hạn. Vì vậy thường khi đã lớn tuổi, hay phải trải
qua một thời gian dài dành dụm mới có đủ khả năng để thoả mãn nhu cầu, việc này

thương mại
- Số lượng khách hàng cho vay
Dịch vụ cho vay tiêu dùng mở ra nhằm cung cấp cho nhu cầu chi tiêu nhưng
chưa có khả năng thanh toán ngay của các cá nhân, hộ gia đình. Số lượng này là rất
lớn, nhưng không phải ai cũng có thể vay được của ngân hàng,do những điều kiện
cho vay rất chặt chẽ. Vì thế việc nới lỏng những điều kiện này sẽ giúp gia tăng số
lượng khách hàng lên, qua đó ngân hàng sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn nữa.
- Doanh số cho vay
Tăng quy mô vón vay và số lượng các khoản vay, cho thấy rõ được tốc độ mở
rộng cho vay tiêu dùng ở ngân hàng. Doanh số cho vay tăng lên, chứng tỏ nhu cầu
vay của khách hàng được đáp ứng tốt, và lợi nhuận thu được của ngân hàng tăng
lên.
- Hạn mức cho vay
Hạn mức cho vay sẽ giới hạn khả năng vay vốn của khách hàng. Việc nới rộng
hơn hạn mức cho vay sẽ tạo điều kiện tăng doanh số cho vay, tăng quy mô cho vay
tín dụng. Nhưng ngân hàng cũng cần phải chú ý trong việc xác định các đối tượng
khách hàng được hưởng sự mở rộng hạn mức này, tránh tình trạng việc mở rộng
hạn mức tín dụng lại làm tăng hơn nữa rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
- Danh mục sản phẩm
Một danh mục sản phẩm đa dạng tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn cho khách hàng,
mở rộng được phạm vi khách hàng, phục vụ được nhiều nhu cầu cho vay hơn nữa.
Đây cũng là một điều mà ngân hàng cần chú ý phát triển.
Chuyên đề thực tập
- Phạm vi cung ứng dịch vụ cho vay tiêu dùng
Phạm vi càng được mở rộng, khách hàng tìm đến sử dụng dịch vụ càng đông,
không chỉ trong khu vực mà ngân hàng đặt trụ sở mà còn cả các địa bàn khác đến
vay vốn.
- Chất lượng dịch vụ
Các ngân hàng hiện nay cạnh tranh nhau trong chất lượng dịch vụ. Chất lượng
dịch vụ càng cao thì càng làm hài lòng khách hàng đến ngân hàng, tạo nên uy tín

dư nợ cho vay đối với khách hàng, tăng tổng mức bảo lãnh, cho thuê tài chính Vốn
tự có của ngân hàng càng lớn thì ngân hàng càng có nhièu khả năng thực hiện chiến
lược mở rộng kinh doanh của mình.
Ngoài nguồn vốn tự có của mình, các ngân hàng không ngừng huy động vốn
để có thể đáp ứng được nhu cầu về vốn cho vay của khách hàng. Thường thì tỷ lệ
vốn huy động chiếm khoảng 70% nguồn vốn của ngân hàng, đóng vai trò quan
trọng tới hoạt động của ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh
tranh và để có nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra
nhiều hình thức huy động vốn khác nhau như: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kì
hạn, tiền gửi tiết kiệm
- Nguồn nhân lực của ngân hàng
Để vận hành một ngân hàng, ngoài những yếu tố thuộc về vật chất kĩ thuật còn
có một yếu tố không thể thiếu là con người. Con người ở đây được hiểu là những
người có kiến thức chuyên môn, có lòng nhiệt tình công việc, và có đạo đức nghề
nghiệp. Những ngân hàng có đội ngũ nhân viên tốt sẽ mang lại những lợi ích lớn
như hoạt động hiệu quả hơn, có môi trường làm việc chuyên nghiệp hơn. Một tập
thể tốt là một tập thể mà những thành viên là những con người hợp tác, hoà đồng và
có trách nhiệm. Ngày này muốn có được nguồn nhân lực có chất lượng cao, ngoài
việc thường xuyên mở các lớp học nâng cao nghiệp vụ các ngân hàng còn chú trọng
tới việc áp dụng những chính sách đãi ngộ tốt để giúp cán bộ nhân viên gắn bó lâu
dài với ngân hàng.
- Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng bao gồm các quy định và điều khoản cho vay áp dụng cho
từng đối tượng vay và điều kiện vay khác nhau. Bao gồm chính sách về vốn, điều
Chuyên đề thực tập
kiện cho vay, thời hạn cho vay, hạn mức tín dụng, lãi suất cho vay, mức lệ phí, cách
thức xử lý các khoản vay có vấn đề Chính sách này rất quan trọng, nó sẽ là những
quy định cho cả ngân hàng thực hiện, nếu chính sách là đổi mới và hợp lý, nó sẽ
khích thích được khả năng hoạt động của ngân hàng, còn không sẽ gây trở ngại cho
quá trình phát triển của ngân hàng. Đặc biệt trong cơ chế thị trường với sự cạnh

nước ngoài, mang lại nhiều việc làm cho người dân, tăng khả năng tiêu dùng của
người dân, dẫn đến thúc đẩy sản xuất trong nước.
Môi trường kinh tế cải thiện, tạo ra nhiều cơ hội cho tất cả các ngành kinh tế
nói chung và ngành ngân hàng nói riêng phát triển. Ngân hàng phát triển sẽ lại thúc
đẩy trở lại các ngành khác phát triển, thoả mãn nhu cầu không chỉ cho các doanh
nghiệp mà còn đáp ứng nhu cầu vay vốn để tiêu dùng của nhân dân, một xã hội phát
triển là một xã hội tiêu dùng. Khi nền kinh tế suy thoái, sức mua giảm sút, nhu cầu
tiêu dùng hạn chế, nhu cầu vay vốn cũng giảm đi, điều này sẽ ảnh hưởng đến hoạt
động của ngân hàng.
Xu thế toàn cầu hoá đang là xu thế phổ biến hiện nay, các công ty xuyên quốc
gia, đa quốc gia xuất hiện hàng loạt, thâm nhập vào thị trường các nước, kèm theo
nó là các tập đoàn tài chính cũng xuất hiện, cạnh tranh với các công ty tài chính và
các ngân hàng trong nước, khiến các ngân hàng này bắt buộc phải đổi mới, để có
thể cạnh tranh với nước ngoài, điều này sẽ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, còn
các ngân hàng sẽ có thêm nhiều hoạt động sôi động mới, thích ứng với môi trường
kinh tế mới đầy cạnh tranh và rộng lớn.
- Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm hệ thống luật pháp đầy đủ và hoàn thiện, đồng
bộ, tạo nên sự công bằng và bình đẳng cho các loại doanh nghiệp cũng như các cá
nhân tham gia kinh doanh, huy động được tối đa các nguồn vốn trong xã hội, giải
phóng triệt để và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực sản xuất. Xây dựng khung pháp
lý đảm bảo ổn định và rõ ràng về môi trường đầu tư và tính công khai, minh bạch về
chế độ, chính sách khuyến khích đầu tư. Một môi trường pháp lý lành mạnh sẽ tạo
điều kiện cho các ngân hàng phát triển, tránh sự rườm rà trong các thủ tục cho vay,
xin vay, tăng hiệu quả làm việc của ngân hàng.
- Môi trường văn hoá - xã hội
Chuyên đề thực tập
Ngoài những những yếu tố khách quan trên , môi trường văn hoá xã hội cũng
tác động đáng kể đến các ngân hàng thưong mại. Nếu như trước đây, khi mà ngân
hàng còn chủ yếu cho vay các doanh nghiệp nhà nước, việc cho vay khách hàng là

mình, cho nên với đối tượng này ngân hàng cũng cần nắm vững những đặc điểm và
cần xem xét kĩ những yếu tố quan trọng như việc sử dụng đúng mục đích tiền vay
của khách hàng, khả năng tài chính của khách hàng, tình hình trả nợ của khách
hàng
Việc sử dụng đúng mục đích vay của khách hàng rất quan trọng,vì nó ảnh
hưởng đến rủi ro không trả được nợ của khách hàng. Đảm bảo là khách hàng sử
dụng tiền của ngân hàng đúng như những gì đã cam kết trong hợp đồng giúp các
nhân viên tín dụng theo dõi, giám sát được hiệu quả sử dụng vốn vay tốt nhất, tránh
gây nên những tổn thất không đáng có cho phía ngân hàng. Các khách hàng khi đến
ngân hàng, sẽ được đánh giá năng lực pháp lý để đảm bảo là có đủ tư cách chịu
trách nhiệm về món nợ vay và được tính điểm tín nhiệm nhằm xây dựng hồ sơ vay
vốn được hiệu quả. Hiệu quả cho vay được thể hiện là người đi vay sử dụng đúng
mục đích và có thiện chí trong việc trả nợ, tạo cho ngân hàng những khoản nợ lành
mạnh.
Khả năng tài chính của người vay cho biết khả năng hoàn trả nợ đủ và đúng
hạn. Đây là vấn đề mà các cán bộ tín dụng rất quan tâm xem xét. Vì đây là các
khoản cho vay tiêu dùng, nên phần lớn thu nhập thường xuyên của các cá nhân sẽ
được chú ý xem xét, nếu thu nhập thường xuyên mà cao, sẽ tạo điều kiên cho ngân
hàng thu hồi vốn sớm và việc phải trả nợ cho ngân hàng ít là gánh nặng cho bản
thân gia đình người vay.
Bên cạnh đó tình hình trả nợ của khách hàng cũng đáng lưu tâm. Chỉ cần một
lần chậm trễ trong thanh toán hàng kì, ngân hàng sẽ có nguy cơ thu hồi vốn chậm
nếu đó là dấu hiệu khó khăn trong trả nợ của người vay. Do đó, việc theo dõi quan
tâm đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn cũng là một điều cần thiết.
Khách hàng là nơi tạo ra nguồn thu cho ngân hàng, vì thế mở rộng quan hệ với
khách hàng, thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng cần được phát huy.
- Đối thủ cạnh tranh
Chuyên đề thực tập
Số lượng ngân hàng nhất là trong tình hình toàn cầu hoá, mở rộng buôn bán
với các nước, ngày càng tăng lên, tạo nên sức cạnh tranh lớn giữa các ngân hàng.

Để đáp ứng nhu cầu phát triển, Ngân hàng Quân đội liên tục mở rộng mạng
lưới hoạt động, từ 1 điểm giao dịch là trụ sở chính ban đầu, đến nay đã có 66 điểm

Trích đoạn Xây dựng văn hóa giao dịch MB. Xây dựng chính sách khách hàng. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định khách hàng. Đổi mới công nghệ. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status