A/ §Æt vÊn ®Ò
I/ Lời mở đầu.
Chúng ta đều biết rằng môn ngữ văn là môn học vô cùng quan trọng trong
việc đào tạo con người, bồi dưỡng trí tuệ, tâm hồn và nhân cách cho học sinh.
Nhà văn Nga lỗi lạc M.Go – ro – ki đã từng viết : “Văn học là nhân học”. Giáo
sư Hà Minh Đức từng khẳng định “Văn học không chỉ là một nguồn tri thức mà
còn là nguồn năng lượng tinh thần lớn lao, có ý nghĩa cổ vũ, tiếp sức cho con
người trong cuộc sống” (Lý luận văn học trang 50 – NXBGD 1997). Điều này
đã được thực tế chứng minh từ ngàn năm về trước.
Từ tầm quan trọng của văn học đối với việc hình thành và phát triển nhân
cách cho học sinh, mỗi giáo viên dạy văn không chỉ xác định cho mình một
nhiệm vụ đơn giản là cung cấp cho học sinh một lượng tri thức nhất định, mà
quan trọng hơn là người giáo viên thông qua các bài giảng của mình làm cho
học trò “tự cảm thấy môn văn thật sự cần thiết cho sự khôn lớn tinh thần” (Nghĩ
từ công việc dạy văn (Trang 185) – Đỗ Kim Hồi – NXBGD) của các em, làm
cho các em thấy được thấm vào từng trang văn là tâm hồn, là trí tuệ, là những
nghĩ suy, trăn trở, là tâm sự của nhà văn trước cuộc đời, là tấc lòng mà nhà văn
muốn gửi gắm đến các thế hệ độc giả của mình.
Xuất phát từ điều đó, mỗi giáo viên phải biết phát huy tối đa sức mạnh
của mỗi giờ dạy văn của mình, để mỗi giờ văn trôi qua trong niềm vui, sự hứng
khởi và thích thú của học trò và học sinh thật sự cảm thấy khôn lớn sau mỗi giờ
dạy văn. Vậy làm thế nào để đạt hiệu quả cao trong mỗi giờ dạy văn? Đây cũng
là điều trăn trở của biết bao thầy cô giáo dạy văn.
Từ thực tế dạy học ngữ văn trong trường THPT suốt mười năm qua cùng
với việc tìm hiểu các phương pháp dạy học văn của nhiều nhà nghiên cứu, cộng
với mong muốn góp phần nhỏ công sức của mình trong việc nâng cao chất
lượng của mỗi giờ dạy ngữ văn. Tôi mạnh dạn đề xuất “Phương pháp tìm hiều
tác phẩm thơ văn của Hồ Chí Minh từ quan điểm sáng tác của Người” tôi mong
rằng phương pháp này sẽ là một trong những chiếc chìa khóa mở ra mọi giá trị
thơ văn của Hồ Chí Minh, là một trong những con đường ngắn nhất, đơn giản
nhất và hiệu quả nhất trong quá trình chiếm lĩnh giá trị tác phẩm thơ văn của Hồ
2/ Kết quả của thực trạng trên.
Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết rất hay rằng: Dạy văn, học văn là một niềm
hạnh phúc lớn lao. Vậy mà thực tế trong dạy văn và học văn hiện nay thật đáng
buồn. Học sinh thì ngày càng “bỏ rơi” môn văn. “Năm 1980, tại hội nghị giảng
dạy văn vụ giáo dục phổ thông cấp III đã công bố số liệu điều tra cho thấy trên
80% số học sinh được hỏi ý kiến trả lời là không thích văn và trên 70% số học
sinh được khảo sát thuộc loại kém văn”. Có thể nói rằng dù đã hơn 30 năm trôi
qua nhưng thực tế học văn vẫn chưa được cải thiện bao nhiêu. Tại trường THPT
Thiệu Hóa có tổng số 1.447 học sinh, nhưng chỉ có khoảng 150 học sinh chọn
học và thi văn, điều này có nguyên nhân của nó: Nguyên nhân khách quan (do
cơ chế thị trường, nhu cầu xã hội, thời đại cần nhiều cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ
khoa học ứng dụng ) và ngay cả nguyên nhân chủ quan từ phía thầy cô giáo
(như đã nêu ở trên).
Vậy làm thế nào để khắc phục được thực trạng đáng buồn trên, trước khi
chờ đợi sự thay đổi của cơ chế những thầy cô giáo có tâm huyết với học sinh,
với nghề nghiệp của mình đã phải trăn trở, nổ lực suy nghĩ để tìm ra những
phương pháp tiếp cận các tác phẩm văn chương tốt hơn, để khơi gợi hứng thú
học tập ở học sinh, làm thức dậy ở các em lòng yêu đời, yêu người, sự đam mê
với văn chương nghệ thuật.
Để góp phần làm phong phú thêm cho những giờ dạy văn, là một giáo
viên trẻ, tôi mạnh dạn áp dụng “Phương pháp tìm hiểu tác phẩm văn thơ của Hồ
Chí Minh từ quan điểm sáng tác của Người” vào dạy học các tác phẩm văn thơ
của Hồ Chí Minh trong chương trình ngữ văn THPT với hy vọng góp thêm một
phần nhỏ công sức của mình để mang lại sự thành công cho mỗi giờ dạy văn.
Phương pháp dạy học này đã được các thầy cô giáo trong tổ văn của trường
THPT Thiệu Hóa đóng góp ý kiến, xây dựng. Tôi mong muốn tiếp tục nhận
được ý kiến góp ý của đông đảo bạn bè, đồng nghiệp để tôi có được phương
pháp tốt nhất khi dạy học các tác phẩm văn học của Hồ Chí Minh.
B/ Gi¶i quyÕt vÊn ®Ò
luận của Hồ Chí Minh trong những thập niên đầu của thế kỷ XX là “Bản án chế
độ thức dân Pháp” xuất bản lần đầu ở Pa ri năm 1925, cuốn sách đã tố cáo một
cách đanh thép tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa.
Tác phẩm lay động tâm tư người đọc không chỉ ở những sự việc được mô tả
chân thực, ở những bằng chứng không thể chối cải được mà còn ở thái độ tình
cảm sâu sắc, mãnh liệt của tác giả và nghệ thuật châm biếm, đã kích sắc sảo,
giàu chất trí tuệ. Tác phẩm tiêu biểu cho văn chính luận của Hồ Chí Minh còn là
“Tuyên ngôn độc lập” (Tác phẩm được đưa vào chương trình ngữ văn 12
THPT). Đó là một văn kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử trọng đại, đồng thời là
một áng văn chính luận mẫu mực, bố cục ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ,
lý lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn giàu tính biểu cảm
“Tuyên ngôn độc lập còn là áng văn thể hiện những tình cảm cao đẹp của Người
đối với dân tộc và nhân loại. Tiếp theo “Tuyên ngôn độc lập” là những áng văn
chính luận nổi tiếng như “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (1946), “Không
có gì quý hơn độc lập tự do” (1966). Học văn chính luận của Hồ Chí Minh học
sinh không chỉ được tiếp xúc với một trí tuệ sắc sảo, một tâm hồn cao đẹp mà
còn biết đến một nghệ thuật viết văn chính luận bậc thầy.
Truyện và ký viết những năm 20 của thế kỷ XX trên đất Pháp là vũ khí
đấu tranh chính trị, tấn công trực diện kẻ thù, vạch trần bộ mặt tàn ác, xảo trá,
bịp bợm của chính quyền thực dân, châm biếm một cách thâm thúy, sâu cay, vua
quan phong kiến ôm chân thực dân. Tiêu biểu là tác phẩm “Vi hành” tác phẩm
được biết với bút pháp mới mang màu sắc hiện đại trong lối viết nhẹ nhàng và
đầy tính trào lộng.
Cùng với văn chính luận, truyện và ký là thơ ca của Hồ Chí Minh. Trong
mảng thơ ca của Người tác phẩm được chú ý nhiều nhất là tập thơ “Nhật ký
trong tù” (được viết năm 1942 – 1943) có nhiều tác phẩm trong tập “Nhật ký
trong tù” được đưa vào chương trình ngữ văn THPT. “Nhật ký trong tù” chủ yếu
ghi lại tâm trạng cảm xúc và suy nghĩ của tác giả, phản ánh tâm hồn và nhân
cách cao đẹp của người chiến sỹ cách mạng trong hoàn cảnh thử thách nặng nề
làm gì?” (mục đích), sau đó mới quyết định “viết cái gì?” (nội dung) và viết như
thế nào? (hình thức). Và tùy từng trường hợp cụ thể. Người đã vận dụng phương
châm đó theo những cách khác nhau. Vì thế những tác phẩm của Người chẳng
những có tư tưởng sâu sắc, nội dung thiết thực mà còn có hình thức nghệ thuật
sinh động, đa dạng.
2-Tính thống nhất giữa quan điểm sáng tác và thực tiễn sáng tác văn thơ của
Hồ Chí Minh.
Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh được thể hiện nhất quán trong toàn
bộ sự nghiệp thơ văn của Người. Trong cuộc đời cách mạng hơn nửa thế kỷ của
Hồ Chí Minh lúc ở trong nước, lúc ở ngoài nước, trải qua vô vàn tình huống
khác nhau, nhiệm vụ chính trị mỗi lúc một khác, những đối tượng cần thuyết
phục cũng muôn màu sắc. Người phải tùy từng trường hợp cụ thể mà xác định
mục đích và đối tượng của mỗi bài viết cho thích hợp. Để đáp ứng những mục
đích và đối tượng khác nhau như thế văn thơ Hồ Chí Minh phải luôn thay đổi từ
nội dung đến hình thức, từ tư tưởng đến phong cách viết.
* Tính thống nhất thể hiện trong truyện, ký: Chẳng hạn những truyện ngắn
như “Vi hành”, “Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu”, “Lời than vãn
của bà Trưng Trắc” ra đời đầu những năm 20, người viết bằng tiếng Pháp và
theo một bút pháp rất hiện đại của Châu Âu, đó là vì các sáng tác ấy nhằm tố cáo
những âm mưu xảo quệt của bọn thực dân Pháp, trước hết nhằm tác động vào
nhân dân Pháp và những người biết tiếng Pháp ở Pa ri.
* Tính thống nhất thể hiện trong thơ ca: Trong những bài thơ như “Ca
dân cày”, “ca binh lính”, “Ca công nhân”, “Ca sợi chỉ”, “Hòn đá” ra đời khi
Người trở về nước, tại Pắc Bó (1941) cho tới cách mạng tháng 8/ 1945, thì từ
nội dung đến hình thức lại rất đơn giản, dễ dãi, giống như những bài vè dân
gian. Đó là vì Người nhằm tuyên truyền đường lối chính sách của mặt trận Việt
Minh vào đối tượng là nhân dân lao động ở Việt Bắc phần lớn là văn hóa thấp
kém, thậm chí mù chữ.
Việt Nam độc lập đồng Minh
ký trong tù”.
“Ngâm thơ ta vốn không ham
Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây
Vừa ngâm, vừa đợi đến ngày tự do”
Vậy là Hồ Chí Minh viết cho mình. Mục đích để đỡ nóng lòng sốt ruột
trong thời gian bị giam hãm giữa lúc tổ quốc, nhân dân đang ngóng đợi người
từng giây, từng phút. Mục đích ấy, đối tượng ấy, nên nội dung thơ hết sức sâu
sắc, phong phú độc đáo. Vì đó là tiếng nói tâm hồn Hồ Chí Minh, là tài năng độc
đáo Hồ Chí Minh.
* Tính thống nhất thể hiện trong văn chính luận.
Về thể loại văn chính luận mà tiêu biểu là tác phẩm “Tuyên ngôn độc
lập”, ở tác phẩm này tác giả viết với lý lẽ rất chặt chẽ, đanh thép, mở đầu dẫn lời
văn bản “Tuyên ngôn độc lập” và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của
Mỹ và của Pháp. Đó là vì khi Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” thì ở
hai đầu đất nước bọ đế quốc Mỹ và Pháp đang lăm le theo gót quân Anh và quân
Tưởng Giới Thạch – Trung Quốc sang xâm lược nước ta. Chúng lấy lý do Việt
Nam vốn là thuộc địa của Pháp đã được nước Pháp “khai hóa, bảo hộ” bấy lâu
nay phải thuộc về chúng. Đối tượng của “Bản tuyên ngôn độc lập” đâu chỉ mình
quốc dân đồng bào Việt Nam mà cả công luận thế giới và các thế lực thù địch
đang muốn quay trở lại xâm lược Việt Nam. Với đối tượng như vậy nên bản
“Tuyên ngôn” phải có lý lẽ đanh thép, bác bỏ luận điệu xảo trá của bọn cướp
nước. Và để lại bác bỏ luận điệu xảo trá của Pháp và Mỹ thì không gì hơn là dẫn
lý lẽ của chính tổ tiên họ.
Cũng văn chính luận, nhưng khi Người viết cho đồng bào mình thì lời lẽ
cũng hết sức nôm na, giọng văn thân mật, lý và tình kết hợp với nhau như tác
phẩm “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”
Như vậy, qua việc tìm hiểu một cách khái quát về tính nhất quán giữa
quan điểm sáng tác và thực tiễn sáng tác văn thơ của Hồ Chí Minh, học sinh dễ
tích, khái quát, luyện tập.
C-Phương pháp dạy học.
Giáo viên tổ chức giờ học theo phương pháp lấy học sinh làm trung tâm,
thầy đóng vai trò chủ đạo, người thiết kế, trò là người thi công. Thầy là người tổ
chức hướng dẫn để học sinh chiếm lĩnh giá trị tác phẩm, thông qua phương pháp
đọc sáng tạo, kết hợp với phương pháp gợi mở đặt câu hỏi
D-Tiến trình giờ học.
Lời dẫn vào bài của giáo viên: Cùng với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của
mình, Hồ Chí Minh còn để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản văn học vô giá.
Trong di sản văn học ấy có tác phẩm văn học khi đọc lên đã làm triệu triệu trái
tim Việt Nam phải rơi nước mắt. Tác phẩm ấy không chỉ đánh dấu bước ngoặt
to lớn trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam mà còn là một
áng văn tâm huyết của Hồ Chí Minh, hội tụ vẻ đẹp tư tưởng tình cảm, trí tuệ của
Người, đồng thời kết tinh khát vọng cháy bỏng về độc lập tự do của dân tộc Việt
Nam. Đó là tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh, một tác phẩm
văn chính luận mẫu mực. Để hiểu rõ giá trị mọi mặt của “Tuyên ngôn độc lập”
chúng ta sẽ cùng tìm hiểu tác phẩm này.
* Triển khai bài học:
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung bài học
* Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh
tìm hiểu chung về bản “Tuyên ngôn
độc lập”
- Thao tác 1: Tìm hiểu hoàn cảnh sáng
tác của bản “Tuyên ngôn”
+ GV: Bản “Tuyên ngôn” ra đời trong
hoàn cảnh của Việt Nam và thế giới
như thế nào ?
+ HS: Dựa vào sách giáo khoa để trả
lời.
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
- Thao tác 2: Hướng dẫn học sinh xác
định đối tượng và mục đích hướng đến
của bản Tuyên ngôn.
+ GV: Tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập
hướng tới những đối tượng nào? (viết
cho ai ?)
+ HS: Căn cứ vào phần tiểu dẫn để trả
lời.
+ GV: Định hướng, khái quát lại vấn
đề.
+ GV: Nói thêm về hoàn cảnh ra đời
của bản Tuyên ngôn: Tuyên ngôn độc
lập ra đời giữa lúc hai đầu đất nước
đều có kẻ thù ngoại bang đe dọa, phía
Bắc là 20 vạn quân Tưởng đang ngấp
nghé ở cửa biên giới, chuẩn bị kéo vào
miền bắc nước ta, thay mặt quân đồng
minh vào giải giáp quân đội Nhật, phía
sau đội quân này là sự nhòm ngó muốn
can thiệp vào Đông Dương của đế
quốc Mỹ.
2-Đối tượng và mục đích sáng tác của
“Tuyên ngôn độc lập”
a- Đối tượng.
- Tất cả đồng bào Việt Nam (những
người hơn 80 năm qua rên xiết dưới
ách xâm lược của Thực dân Pháp và
phát xít Nhật, nay khi chiến tranh thế
giới thứ hai kết thúc, Phát xít Nhật đã
b- Mục đích.
- Tuyên ngôn xóa bỏ chế độ thực dân
phong kiến, tuyên bố nền độc lập của
dân tộc, khẳng định vị thế bình đẳng
của dân tộc ta trên thế giới.
- Cương quyết bác bỏ những luận điệu
xảo trá và âm mưu xâm lược trở lại của
các thế lực thực dân đế quốc.
- Thể hiện quyết tâm bảo vệ nền độc
lập dân tộc.
* Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh
đọc hiểu văn bản.
-Thao tác 1: Hướng dẫn học sinh đọc
văn bản.
+ GV: Gọi học sinh đọc và yêu cầu đọc
với giọng rõ ràng, có âm vang.
- Phần mở đầu đọc với giọng trang
trọng.
- Phần nội dung đọc với giọng hùng
hồn, đanh thép.
- Phần cuối cùng: Lời tuyên ngôn và
tuyên bố cuối cùng đọc với giọng trang
trọng, hùng biện.
II/ Đọc hiểu văn bản.
1. Đọc.
- Thao tác 2: Hướng dẫn học sinh xác
định bố cục, mạch lập luận của tác
phẩm.
+ GV: Một bản tuyên ngôn thường có
- Phần kết luận: (còn lại): Lời tuyên
ngôn độc lập và tuyên bố giữ vững nền
độc lập dân tộc bằng tất cả tinh thần và
lực lượng, tính mạng và của cải.
b- Mạch lập luận của tác phẩm.
- Mục đích của bản “Tuyên ngôn độc
lập” không chỉ để tuyên bố độc lập mà
còn phải đánh địch, bẻ gãy luận điệu
xảo trá của kẻ thù. Vì vậy bản tuyên
ngôn phải xác định cơ sở pháp lí, điểm
tựa vững chắc, thuyết phục cho mạch
lập luận ngay từ phần mở đầu.
- Đây là căn cứ thống nhất để vạch tội
kẻ thù chỉ ra tính chất phi nghĩa của
+ GV: Nêu nhận xét về lập luận của tác
phẩm ?
+ HS: Nêu nhận xét
+ GV: Định hướng, khái quát lại vấn
đề.
chúng, là cơ sở để khẳng định tính
chính nghĩa theo “lẽ phải” của ta (phần
nội dung)
- Từ đó mới đanh thép hùng hồn khẳng
định xóa bỏ hết chế độ quân chủ ở Việt
Nam.
Mạch lập luận thuyết phục người
đọc ở tính lô gic chặt chẽ: Từ cơ sở lý
luận, đối chiếu vào thực tiễn, rút ra kết
luận phù hợp, đích đáng không thể
đẳng tự do, mưu cầu hạnh phúc của
con người, Bác suy rộng, nâng lên
thành quyền bình đẳng, tự do của các
dân tộc trên thế giới. Đó là những suy
luận hợp lý, sáng tạo.
- Khép lại phần mở đầu là câu văn
khẳng định : “Đó là những lẽ phải
không ai chối cải được”.
tuyên ngôn bất hủ của chính kẻ xâm
lược.
Kiên quyết vì dùng lập luận “gậy ông
đập lưng ông” lấy lí lẽ thiêng liêng của
chúng để phê phán và ngăn chặn âm
mưu xâm lược của chúng.
Ngầm thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân
tộc: Đặt ba cuộc cách mạng, ba bản
tuyên ngôn, ba dân tộc ngang nhau.
Câu văn khép lại phần mở đầu thật
đanh thép, kiên quyết. Đây là câu chốt
quan trọng trong mạch lập luận. Nó
khẳng định những điều được trích dẫn
và suy rộng ra ở trên là “lẽ phải”, là
“chân lí” và nó trở thành một tường
thành vững chắc sừng sững được dựng
lên, những điều được nói phía sau mới
có sức nặng thuyết phục và giá trị pháp
lý.
+ Hiệu quả.
- Cách viết ngắn gọn, súc tích, khôn
+ GV: Yêu cầu học sinh nêu dẫn
chứng minh ? (SGK ngữ văn, trang 39,
40). Hiệu quả của cách viết trên ?
+ GV: Yêu cầu HS nêu khái quát quá
trình nhân dân ta nổi dậy.
+ HS: Căn cứ vào tác phẩm trả lời.
+ GV: Định hướng khái quát lại vấn
đề.
+ GV: Nhận xét về cách tái hiện nội
dung trên của Hồ Chí Minh (viết như
thế nào ?) có dẫn chứng cụ thể.
+ GV: Trong từng phần nội dung, tác
+ Cách thức tố cáo những tội ác của
thực dân Pháp.
- Nghệ thuật đối lập: Giữa phần mở
đầu và phần nội dung (lí lẽ tốt đẹp với
những hành động trắng trợn, dã man.
- Phát huy một cách tối đa hiệu quả của
nghệ thuật liệt kê, thủ pháp so sánh, ẩn
dụ, điệp từ
- Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giọng văn
hùng hồn đanh thép, câu văn dài ngắn
linh hoạt.
Tất cả những thủ pháp nghệ thuật
nói trên đã góp phần làm nổi bật những
tội ác điển hình, toàn diện, thâm độc
của thực dân Pháp tạo được mối xúc
động lớn cho độc giả.
* Quá trình nhân dân ta nổi dậy giàn
chính quyền.
thuật điệp ngữ: “Sự thật ” sự thật này
có ý nghĩa, bẻ gãy mọi luận điệu, xảo
trá của kẻ thù trước dư luận thế giới,
thuyết phục phe đồng minh và nhân
dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới
ủng hộ nền độc lập của Việt Minh
khẳng định vai trò của cách mạng vô
sản Việt Nam và lập trường chính
nghĩa của dân tộc.
- Kiểu câu khẳng định, điệp từ ngữ,
song hành cú pháp tạo nên âm
hưởng hào hùng trang trọng của đoản
khúc anh hùng ca, góp phần vào thành
công của tác phẩm.
-Thao tác 3: Hướng dẫn học sinh tìm
hiểu phần cuối cùng của bản Tuyên
ngôn.
+ GV: Nêu nội dung chính của phần
cuối cùng ? (viết cái gì)
Nội dung ấy được viết như thế nào ?
+ HS: Căn cứ vào tác phẩm.
Trả lời:
-Giáo vien định hướng, khái quát lại
vấn đề.
C/ Phần cuối cùng: (Đoạn còn lại)
+ Nội dung:
- Tuyên bố với thế giới nền độc lập của
dân tộc Việt Nam.
- Bày tỏ quyết tâm bảo vệ nền độc lập
của dân tộc Việt Nam.
+ GV: Học “Tuyên ngôn độc lập”,
chúng ta không chỉ khám phá được giá
trị mọi mặt của tác phẩm mà còn học
được từ tác giả cách viết văn chính
luận đầy sức thuyết phục.
- Tuyên bố nền độc lập của dân tộc.
- Cương quyết bác bỏ những luận
điệu xảo trá và âm mưu xâm
lược trở lại của các thế lực thù
địch.
- Thể hiện quyết tâm bảo vệ nền
độc lập của dân tộc.
+ Nội dung :
- Quyền lợi hiển nhiên của mọi
người, mọi dân tộc trên thế giới:
Quyền bình đẳng, quyền sống,
quyền sung sướng, quyền tự do.
- Tố cáo tội ác của kẻ thù và quá
trình nhân dân ta nổi dậy giành
chính quyền.
- Lời tuyên ngôn độc lập và quyết
tâm giữ vững nền độc lập của dân
tộc Việt Nam.
+ Hình thức:
- Kết cấu chặt chẽ.
- Hệ thống luận điểm lô gic, sắc sảo.
- Lập luận khéo léo, cương quyết
sức thuyết phục.
- Giọng văn linh hoạt, hùng hồn,
đanh thép.
các lớp thực nghiệm (áp dụng sáng kiến kinh nghiệm) và đối chứng (phương
pháp dạy học truyền thống). Tôi đã tiến hành kiểm tra nhanh sau tiết học, thời
gian là 7 phút.
Đề bài chung cho các lớp: Mục đích viết “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ
Chí Minh ?
- Kết quả quá trình thực nghiệm ở lớp 12A, 12B tại trường THPT Thiệu
Hóa năm học 2011 – 2012.
Phương án dạy học
Tổng số bài
kiểm tra
Điểm
9 - 10
Điểm
7 - 8
Điểm
5 - 6
Điểm
3 - 4
Thực nghiệm: Lớp 12A 45 2 (5%) 25 (55%) 13 (29%) 5 (11%)
Đối chứng : Lớp 12B 46 0 (0%) 9 (20) 25 (54) 12(26%)
- Kết quả quá trình thực nghiệm ở lớp 12D, 12E tại trường THPT Thiệu
Hóa năm học 2011 – 2012.
Phương án dạy học
Tổng số bài
kiểm tra
Điểm
9 - 10
Điểm
7 - 8
Điểm
1/ “Lý luận văn học” Hà Minh Đức – NXB giáo dục 1997
2/ “Nghĩ từ công việc dạy văn” Đỗ Kim Hồi – NXB giáo dục 1998
3/ “Phương pháp dạy học văn” Phan Trọng Luận (chủ biên) – NXB đại
học quốc gia Hà Nội.
4/ “Cẩm nang ôn luyện môn văn” Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên). NXB
Đại học quốc gia Hà Nội.
5/ “Sách giáo viên ngữ văn 12” tập 1 – NXB giáo dục.
6/ Thiết kế bài học ngữ văn 12 (tập 1) Phan Trọng Luận (chủ biên) NXB
Giáo dục.
7/ Văn học Việt Nam (1900 – 1945) Phan Cự Đệ - Trần Đình Hượu –
Nguyễn Trác – Nguyễn Hoành Khung – Lê Chí Dũng – Hà Văn Đức.
8/ “Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12 môn ngữ
văn “Phan Trọng Luận – Trần Đình Sử (và các tác giả khác)
Môc lôc
A Đặt vấn đề 1
I Lời mở đầu 1
II Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 2
1 Thực trạng 2
2 Kết quả của thực trạng trên 2
B Giải quyết vấn đề 3
I Vị trí thơ văn Hồ Chí Minh trong chương trình ngữ văn THPT. 3
II
Một số định hướng cụ thể và phương pháp tìm hiểu các tác
phẩm thơ văn của Hồ Chí Minh trong chương trình ngữ văn
THPT.
5
1 Quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh 5
2
Tính thống nhất giữa quan điểm và thực tiễn sáng tác văn học