skkn phương pháp tiếp cận tác phẩm thơ tự do trong nhà trường thpt từ góc độ đặc trưng thể loại. - Pdf 18

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LAM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2011 - 2012
Tên đề tài:
PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TÁC PHẨM THƠ TỰ DO
TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT TỪ GÓC ĐỘ ĐẶC
TRƯNG THỂ LOẠI.
Họ và tên: Nguyễn Thị Thư
1
Chức vụ: Giáo viên
Bộ môn: Ngữ văn
Đơn vị: Trường THPT chuyên Lam Sơn
Thanh Hóa, tháng 5 năm 2012
PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN VỀ
1.1. Lí do chọn đề tài
Dạy học tiếp nhận tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại là một trong
những yêu cầu cơ bản của chương trình Ngữ văn THPT hiện nay. Khác với
chương trình văn học THPT trước đó, sắp xếp vị trí các tác phẩm văn học theo
trình tự thời gian, chương trình Ngữ văn THPT hiện nay được biên soạn theo
tiêu chí cung cấp một cái nhìn đầy đủ, toàn diện về sự phong phú, đa dạng của
2
thể loại văn học. Các tác phẩm thường được sắp xếp theo nhóm thể loại văn
học, bao gồm các thể loại truyện ngắn, thơ trữ tình, kịch, tùy bút, văn chính
luận, phê bình văn học… Đặc trưng thể loại văn học trở thành điểm tựa, đồng
thời cũng là cái đích hướng tới trong quá trình tiếp cận, khám phá thế giới nghệ
thuật của mỗi tác phẩm.
Trong chương trình giảng dạy văn học ở bậc THPT, thơ tự do chiếm
một vị trí quan trọng. Những sáng tác thơ của văn học Việt Nam hiện đại ở thế
kỉ XX trong chương trình Ngữ văn THPT hầu hết là các tác phẩm thơ tự do.
Hơn thế đó đều là những tác phẩm xuất sắc, tiêu biểu của từng thời kì văn học.
Quá trình hình thành, phát triển của thơ tự do là một trong những biểu hiện của

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, tổng kết lí luận và thực tiễn
- Phương pháp tổng hợp và thống kê
- Phương pháp đối sánh
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
4
PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận của đề tài
1.2. Thơ tự do và đặc trưng thi pháp thơ tự do
1.2.1. Khái niệm thơ tự do
Dựa vào những tiêu chí và mục đích nghiên cứu, người ta có thể chia
thành các thể loại văn học khác nhau. Đối với thơ “Dựa vào thể luật, có thể
chia ra thơ cách luật và thơ tự do”và “Đứng về mặt thi pháp, thơ Việt Nam xưa
nay phân chia một cách tổng quát thành hai loại lớn: thơ cách luật và thơ tự
do”
Thơ cách luật được hiểu là những bài thơ làm theo những thể thức ổn
định, cố định về mặt thi pháp. Thơ cách luật Việt Nam có hai nguồn: thơ cổ
điển Trung Quốc (thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn…) và thơ dân
gian Việt Nam (lục bát, song thất lục bát, hát giặm…). Còn thơ tự do, thật ra
không phải là thơ hoàn toàn phủ định mọi luật lệ của thơ, nhưng đã có sự phá
cách về hình thức đúng như tên gọi của nó dưới sự chi phối của cảm xúc thơ.
Nhà nghiên cứu Trần Thanh Đạm từng nhận định: “Gọi là thơ tự do vì nó bao
gồm các loại thơ không theo một thể thức ổn định, cố định nào cả. Số chữ
trong từng câu, số câu trong từng bài, cách hiệp vần, cách ngắt nhịp hoàn toàn
5
phóng khoáng, tùy theo nội dung bài thơ và chủ định của nhà thơ.Việc nhận
diện, tìm hiểu thơ tự do luôn được đặt trong thế đối sánh với thơ cách luật.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thơ tự do là “hình thức cơ bản của thơ,
phân biệt với thơ cách luật ở chỗ không bị ràng buộc vào các quy tắc nhất
định về số câu, số chữ, niêm đối,…Thơ tự do là thơ phân dòng nhưng không
theo thể thức nhất định”. Nhà thơ Mã Giang Lân cũng quan niệm: “Thơ tự do

niêm luật thì vẫn là thơ tự do. Theo cách gọi của Nguyễn Phan Cảnh, những
bài thơ 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ trong thơ mới là thơ tự do có cốt 5, 6, 7 chữ. Hay
như Xuân Diệu gọi là thơ tự do không hoàn toàn. Như vậy thơ tự do có thể chia
làm hai dạng: thơ tự do hoàn toàn và thơ tự do không hoàn toàn. Những bài
thơ có cốt 5, 6, 7 chữ nhưng không tuân theo niệm luật, đối, vần thì được gọi là
những bài thơ tự do không hoàn toàn. Chẳng hạn như Tràng giang của Huy
Cận, Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Đây mùa thu tới của Xuân Diệu…
1.2.2.2. Thơ tự do trong các giai đoạn văn học sau 1945
7
Chính sự xuất hiện của thể thơ tự do trong phong trào Thơ mới kéo theo
sự ra đời của hàng loạt các cây bút thử sức với thể thơ này trong thơ kháng
chiến trong các thời kì chống Pháp và chống Mĩ. Các nhà thơ đã mạnh dạn đưa
thể thơ này đến với đời sống tiếp nhận của công chúng với quan niệm thống
nhất thơ tự do cởi bỏ hết những ràng buộc để thơ ca đạt được đến đỉnh cao của
sự thăng hoa. Có thể thấy đến giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám, thơ tự do
có điều kiện để phát triển với nhiều hình thức đa dạng và tiến tới tự do hoàn
toàn, thể hiện ở dạng thức tổng hợp nhiều thể loại, câu thơ ngắt dòng giữa câu
theo hình bậc thang, không viết hoa đầu dòng bài thơ đan xen nhiều thể loại
khác nhau như 7 chữ, 4 chữ, lục bát. Đặc biệt ở giai đoạn chống Mỹ, thơ tự do
nở rộ với nhiều cách lựa chọn hình ảnh táo bạo, mới lạ và nhiều cách sử dụng
tiết tấu linh hoạt:
Bốn phương trời
sương sa
Tiếng chuông chùa
ngân nga…
Trời lặng êm
Nghe rèm
Tiếng chuông
8
Rơi

trình thơ Việt Nam “Thể thơ không chỉ gắn với nghệ thuật ngôn từ mà còn xem
như là biểu hiện của quan niệm thẩm mĩ đối với đời sống. Ý thức về một xã hội
khuôn phép, mực thước thời trung đại được phản ánh trong thơ cách luật. Ý
thức về con người cá nhân và sự vận động, thay đổi của xã hội thể hiện trong
hình thức thơ tự do”
“ Lòng rộng quá chẳng chịu khung nào hết
Chân tự do đạp phăng cả hàng rào” ( Xuân Diệu)
1.2.3. Đặc trưng thi pháp thơ tự do
1.2.3.1. Đặc trưng cơ bản của khái niệm “tự do”
10
Để nhận diện về đặc điểm thơ tự do trước hết ở hình thức kết cấu, chúng
ta phải luôn đặt nó trong mối tương quan đối xứng với thơ cách luật để làm rõ
các yếu tố: số chữ trong câu, số câu trong khổ thơ, vần thơ và nhịp thơ…
Về dòng thơ, nếu như thơ cách luật hạn định về số câu trong bài, số chữ
trong câu thơ thì thơ tự do, mỗi câu thơ không nhất thiết ứng với một dòng thơ
mà có thể ngắt thành nhiều dòng. Mỗi dòng thơ có thể dài ngắn không xác
định. Hiện tượng vắt dòng chỉ xuất hiện trong thơ hiện đại. Có thể xem đây là
những khoảng trắng đầy tâm trạng của cái tôi. Nhịp điệu thơ chính là nhịp điệu
tình cảm. Kiểu kết cấu này mở độ lắng cho mạch cảm xúc, tạo những nốt lặng
của hồn thơ. Viết về cái chết và bi kịch của cuộc đời Lor – ca, nỗi bàng hoàng,
đau xót của Thanh Thảo cũng như dồn cả vào chỗ vắt dòng của câu thơ:
Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lor-ca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
(Đàn ghi ta của Lor-ca - Thanh Thảo)
11
Về cấu tạo, thơ tự do có thể có câu dài ngắn khác nhau, mạch thơ có thể

phạm tuân theo mạch cảm xúc.
1.2.3.2. Cái tôi trữ tình trong thơ tự do
Cái tôi trữ tình là cách cảm nhận của chủ thể trước hiện thực, là cách tổ
chức điểm nhìn của chủ thể trữ tình, đồng thời cũng là tổ chức sự vận động
cảm xúc cũng như tổ chức các phương tiện biểu đạt để xây dựng hình tượng trữ
tình. Như vậy cái tôi trữ tình là sản phẩm tinh thần thơ ca, thông qua việc tổ
chức các phương tiện trữ tình. Thơ tự do chẳng những nói được những gân
guốc của cuộc đời thường nhật mà còn đề cập đến nhiều chiều cuộc sống thật
thấm thía. Với điểm nhìn đa dạng ở những ngổn ngang, góc cạnh của hiện thực
chiến tranh; với những phức tạp của mạch cảm xúc, tư tưởng; với chồng chất
trăn trở về được - mất, sống - còn; với sự giằng xé giữa vinh quang – mất mát,
thơ tự do là hình thức phóng khoáng nhất để cái tôi trữ tình dịch chuyển điểm
13
nhìn trên nhiều bình diện. Để khắc sâu diện mạo của cái tôi trữ tình với những
suy tư, trải nghiệm đa chiều, tích hợp nhiều vấn đề trong nội tại thể thơ luôn là
thế mạnh bởi thơ tự do ít bị ràng buộc nhất về mặt vần điệu, về sự hạn định câu
và cho tác giả có điều kiện diễn tả đối tượng một cách thích hợp nhất. Thơ tự
do xem ra là hình thức sát hợp nhất với nhu cầu của các cây bút trẻ trong việc
cất dựng chân dung tinh thần của chủ thể trữ tình. Những vấn đề nhức nhối
nhất của hiện thực, những phân tích lí giải của chủ thể về bộn bề sự kiện e
không vừa vặn trong những thể thơ truyền thống, niêm luật chặt chẽ và hạn
định về dung lượng. Sự gò bó của các thể thơ đó sẽ khuôn hẹp khả năng biểu
hiện cái tôi trữ tình trong thơ trẻ với xu hướng đưa chất bộn bề, trần trụi của
đời sống vào thơ.
Thơ tự do mang màu sắc của cái tôi tự do không có nghĩa là nhà thơ tự
do viết, tự do bộc lộ những gì mình mong muốn. Cái tôi trữ tình trong thơ tự do
là cái tôi không khép mình trong khuôn sáo cũ, cái tôi viết, thể hiện trong thơ
một đời sống hiện thực sinh động, phong phú, đáp ứng nhu cầu cảm xúc của
người thưởng thức.
1.2.3.3. Cấu trúc thế giới hình tượng trong thơ tự do

cảm xúc chủ quan của nhà thơ.
1.2.3.5. Ngôn ngữ thơ tự do
Ngôn ngữ là nơi kí thác của hình tượng thơ. Ngôn ngữ thơ là một kiểu
cấu tạo đặc biệt của ngôn ngữ văn học. Ngôn ngữ thơ tự do và ngôn ngữ thơ
cách luật đều là ngôn ngữ nghệ thuật, nhưng điểm khác nhau là ở chỗ, nếu
ngôn ngữ thơ cách luật là ngôn ngữ phải tuân theo vần luật, thanh bằng trắc thì
ngôn ngữ thơ tự do gần hơn với ngôn ngữ, lời nói của đời thường, ngôn ngữ
văn xuôi. Có nghĩa là ngôn ngữ thơ tự do mang vẻ đẹp giản dị, chân chất, mang
hơi thở của đời sống. Điều này xuất phát từ chỗ thơ tự do luôn có xu hướng đi
gần về với cuộc sống.
Tuy nhiên ngôn ngữ thơ tự do gần gũi chứ không phải là ngôn ngữ đời
thường, bởi đó là thứ ngôn ngữ đã được chắt lọc, được kết tinh từ cuộc sống, là
thứ ngôn ngữ được viết ra từ độ chín của cảm xúc. Do vậy nó luôn đòi hỏi phải
có độ căng của cảm xúc, chứa đựng những âm vang của sự sống.
Thơ tự do không phải là một hình thức định trước trong quá trình sáng
tác mà đó là sự tìm đến tất yếu khi tâm hồn nhà thơ đạt đến độ nhuần chín, ở đó
độc giả như được trải lòng trong những trạng thái cảm xúc tế vi của người nghệ
16
sĩ. Không chỉ tự do trong hình thức câu thơ, thể thơ này còn kéo dài biên độ
của đoạn thơ, bài thơ. Đó là khi cái tôi có nhu cầu bộc bạch đến cạn cùng
nguồn cảm xúc thẩm mĩ, khi tiếng nói bức bối của chủ thể trữ tình gần như
không thể kiềm nén.
2. Thực trạng của vấn đề
2.1.Vị trí của thơ tự do trong chương trình giảng dạy
Chương trình Ngữ văn THPT đã có sự định hướng cho học sinh những
hiểu biết cơ bản về thơ tự do với việc đưa vào một số tác phẩm tự do hoàn toàn,
đặc biệt là trong sách giáo khoa Ngữ văn 12. Mục Tri thức đọc – hiểu trong
sách giáo khoa Ngữ văn 12, chương trình nâng cao đã đưa ra định nghĩa khá rõ
ràng về thơ tự do: “Thơ tự do có hình thức phân biệt với thơ cách luật, không bị
giảng buộc vào quy tắc cố định về số câu, số chữ, niêm, luật, đối, vần…. Thơ

bản. Hiệu quả của những tiết dạy về thơ tự do trong chương trình có ý nghĩa
quyết định trong chất lượng lĩnh hội tri thức đọc hiểu văn bản văn học của học
sinh. Để có một kết quả tốt trong mỗi tiết giảng dạy nói riêng cũng như cả quá
trình dạy học nói chung, giáo viên cần hiểu và lựa chọn phương pháp hướng
dẫn học sinh tiếp cận tác phẩm theo những đặc trưng của thể thơ tự do. Chỉ có
như vậy cả thầy và trò mới dễ dàng tìm được con đường khám phá, bước vào
thế giới nghệ thuật của mỗi tác phẩm thơ.
2.2. Đối với giáo viên
Tác phẩm thơ tự do được lựa chọn giảng dạy trong chương trình phổ
thông đều là những tác phẩm văn học xuất sắc của từng thời kì văn học, đồng
thời thể hiện những cá tính sáng tạo độc đáo của mỗi nhà thơ. Do vậy những
tác phẩm thơ tự do đều trở thành những đối tượng luôn khơi gợi hứng thú
khám phá, chiếm lĩnh đối với giáo viên ngữ văn – những bạn đọc trung thành
và đam mê văn chương. Tuy nhiên để truyền cho học sinh niềm đam mê và sự
hiểu biết của mình về những sáng tác thơ tự do thì không chỉ có cảm hứng mà
con cần phải có những phương pháp tối ưu. Có như vậy thì việc giảng dạy của
19
giáo viên mới có hiệu quả. Trong thực tế giảng dạy tác phẩm thơ tự do, giáo
viên vẫn chưa trang bị đầy đủ những hiểu biết căn bản về đặc trưng thể loại,
chưa có một điểm tựa vững vàng cho việc cảm nhận, phân tích tác phẩm dựa
trên những hiểu biết ấy. Từ đó cũng chưa có sự lựa chọn phương pháp giảng
dạy có hiệu quả.
2.3. Đối với học sinh
Việc học và tiếp nhận kiến thức ngữ văn đối với học sinh THPT đã
không còn trở thành một hứng thú học tập. Đây là một thực trạng đáng lo ngại
trong xã hội hiện đại, khi mà cuộc sống có nhiều mối quan tâm tưởng như là
thiết thực hơn văn chương. Khi đã không còn hứng thú học tập thì khả năng
độc lập và sáng tạo trong việc học văn cũng không còn nữa. Đối với việc tìm
hiểu, phân tích tác phẩm thơ tự do trong chương trình Ngữ văn THPT, một thể
loại đòi hỏi sự chủ động, linh hoạt của người học thì điều này còn đáng buồn

quan của nhà thơ trước cuộc sống đang diễn ra hang ngày. Câu thơ điệu nói có
thể khi đọc lên không có độ lan truyền bên ngoài cảm giác âm vận nhưng có độ
lan truyền, giao thoa bên trong tâm tưởng. Cảm nhận câu thơ điệu nói, bạn đọc
không chỉ nghe mà còn phải trải nghiệm:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và mây, và cỏ rạng…
Cho chuếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
(Vội vàng – Xuân Diệu)
Đọc đoạn thơ trên mà không lắng nghe được cái khẩu khí, hơi thở của
Xuân Diệu khi đối diện với sự sống, không nhận ra vẻ vội vàng, cuống quýt
của thi sĩ khi muốn tận hưởng đến vô biên, tuyệt đích vẻ đẹp của cuộc đời thì
22
vẫn chưa hiểu thấu được thông điệp được gửi gắm qua mỗi dòng thơ. Sự xuất
hiện liên tiếp của liên từ “và”, dấu phẩy trong một dòng thơ, kết thúc lại là dấu
chấm lửng…chính là những dấu hiệu của một câu thơ hiện đại. Mọi yếu tố
cách tân đều chỉ nhằm thể hiện dòng cảm xúc dâng trào của một hồn thơ quá ư
ham hố và tha thiết với sự sống ở Xuân Diệu.
Sự phong phú của thi pháp thơ tự do còn là ở kiểu nhà thơ mới. Kiểu thi
nhân trong thơ tự do xuất hiện với tư cách là chủ thể nhìn đời, cảm nhận thế
giới khách quan với mọi giác quan và ý thức cá nhân cao độ. Chính điều này
đã tạo ra nhãn quan hướng ngoại cho thơ tự do. Có nghĩa là thơ tự do phản ánh
cuộc sống một cách cụ thể, hơn, sắc bén hơn.
Thơ tự do còn mang đến cho người đọc một cái nhìn đầy đủ, đa dạng về
phong cách nghệ thuật, về hình tượng tác giả. Bởi thơ tự do là nơi mà nhà thơ

thể căn cứ vào chính văn bản thơ. Hàn Mặc Tử sáng tác Đây thôn Vĩ Dạ trong
hoàn cảnh đang bị cách biệt với cuộc sống bên ngoài, đang khao khát trở về
cuộc sống ấy trong khi cái chết đang đến gần. Cho nên chỉ cần một sự kiện là
nhận được bức bưu ảnh của Hoàng Cúc, người con gái Tử thầm yêu cũng đủ
“đánh động” cả thế giới tâm hồn niềm khao khát ấy trong Tử. Đó là hoàn cảnh
mà ta biết được thông qua tư liệu. Nhưng với bài thơ Tây tiến thì chỉ cần đọc
hai câu thơ đầu, ta cũng có thể sống cùng với nhà thơ trong nỗi nhớ tha thiết về
binh đoàn cũ sau một thời gian đã xa:
Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
( Tây tiến – Quang Dũng)
Khi căn cứ vào chính văn bản để tìm hiểu hoàn cảnh cảm hứng của nhà
thơ là căn cứ vào chính ngôn ngữ, những tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm. Khi
đọc văn bản, sống với mạch cảm xúc thơ, đồng thời cũng là lúc phát hiện ra
những tín hiệu thẩm mĩ, những “mắt thơ”, để từ đó mở cách cửa bước vào thế
giới nghệ thuật của tác phầm. Với phương pháp này, người đọc sẽ không bị rơi
vào tình trạng võ đoán, những quan điểm xã hội học dung tục.
3.3. Phương pháp phân tích thơ tự do
3.3.1. Khám phá kết cấu của tác phẩm
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status