i
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu và là một yêu cầu khách quan
đối với bất kỳ quốc gia nào trong giai đoạn phát triển hiện nay. Tuy nhiên, tiến
trình này ngoài việc tạo ra những thuận lợi, cơ hội nhất định cho các quốc gia
tham gia hội nhập, còn đặt các nước này trước những khó khăn, thách thức không
nhỏ.
Lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế đặt các doanh nghiệp của các quốc gia đang
phát triển nói chung, hệ thống NHTM nói riêng, trước môi trường kinh doanh mới
với những áp lực cạnh tranh gay gắt cùng những đối thủ không cân sức.
Từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu, phân tích, đưa ra những nhân tố ảnh hưởng
đến tính hiệu quả trong hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn
hội nhập hiện nay để từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động của hệ thống NHTM là một vấn đề cấp thiết.
Bài nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để giải
quyết vấn đề nghiên cứu. Trong đó, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp biên
ngẫu nhiên - Stochatic Frontier Analysis (SFA) để tính toán biến hiệu quả hoạt
động của các NHTM Việt Nam, sau đó sử dụng mô hình 2SLS và Tobit để phân
tích các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM.
Bài nghiên cứu đánh giá thực trạng hiệu quả của hệ thống NHTM Việt Nam,
xem xét các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của hệ thống. Đồng thời cung
cấp một cái nhìn tổng quát về hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam về sự
hiệu quả hoạt động và về các nhân tố chủ quan cũng như khách quan tác động đến
tính hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM, từ đó bài nghiên cứu cũng đề xuất
những giái pháp, kiến nghị nhằm từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động, năng lực
cạnh tranh cho các NHTM trong bối cảnh mới, thời kỳ mới, đưa hệ thống NHTM
trở thành một kênh dẫn vốn hữu hiệu cho nền kinh tế, đóng góp vào công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
ii
2.4.4. Hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2006 –2012 32
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 40
3.1. Dữ liệu nghiên cứu 41
3.2. Phương pháp nghiên cứu 41
4. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm 45
5. Giải pháp và kiến nghị 50
5.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt
Nam 50
5.1.1. Giải pháp từ Nhà nước 50
5.1.2. Giải pháp từ phía các NHTM 51
5.2. Kiến nghị hỗ trợ các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của
NHTM Việt Nam 54
6. Kết luận 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
A. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT i
B. TÀI LIỆU TIẾNG ANH v
PHỤ LỤC vii
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHTMQD
Ngân hàng thương mại quốc doanh
State-owned Commercial
Banks
SFA
Phương pháp biên ngẫu nhiên
Stochatic Frontier
Analysis
TCTD
Tổ chức tín dụng
Credit Unions
TOC
Tổng chi phí hoạt động
Total of Operating Cost
VAMC
Công ty mua bán nợ quốc gia
Vietnam Asset
Management Company
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Thị phần các NHTM Việt Nam (%) 29
Bảng 2.2. Cơ cấu NHTM ở Việt Nam thời kỳ 2006 –2012 33
Bảng 4.1. Thể hiện thống kê mô tả của các biến được sử dụng trong mô hình
SFA, trong đó hiệu quả được xem xét theo biến tổng chi phí (toc) 46
Bảng 4.2. Thể hiện kết quả ước lượng mô hình 2SLS, tobit, trong đó hiệu quả hoạt
động của hệ thống ngân hàng là biến phụ thuộc (toc) theo cách tiếp cận hiệu quả
theo chi phí. 47
Sơ đồ 2.1. Tổ chức hệ thống NHTM ở Việt Nam giai đoạn 1987 -1990 20
Sơ đồ 2.2. Tổ chức hệ thốngNHTM ở Việt Nam theo pháp lệnh về ngân hàng năm
1990 22
Sơ đồ 2.3. Tổ chức hệ thống NHTM ở Việt Nam theo luật ngân hàng 1997 25
Biểu đồ 2.1. cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam thời kỳ 1991-
1999 23
Biểu đồ 2.2. thị phần tiền gửi của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam thời kỳ
1993 –1996 24
Biểu đồ 2.3. thị phần tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam thời kỳ
1993 – 1996 24
Biểu đồ 2.4. nợ quá hạn/tổng dư nợ của hệ thốngNHTMViệt Nam thời kỳ 1992-
1999 26
Biểu đồ 2.5. cơ cấuNHTM ở Việt Nam thời kỳ 2001-2005 28
Biểu đồ 2.6.: dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế thời kỳ
2000-2005 (tỷ đồng) 29
Biểu đồ 2.7. tốc độ tăng trưởng tín dụng (cred) và huy động vốn (depo) của hệ
thống NHTM Việt Nam thời kỳ 2001-2005. 30
Biểu đồ 2.8. nợ quá hạn/tổng dư nợ của hệ thống NHTM ở Việt Nam 31
Biểu đồ 2.9 nợ quá hạn/ tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng một số nước trong
khu vực và Việt Nam. 31
Biểu đồ 2.10. dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế thời kỳ
2006 –2012 32
vii
Biểu đồ 2.11. tốc độ tăng trưởngtín dụng (cred) và huy động vốn (depo) của hệ
thống NHTM ở Việt Nam thời kỳ 2005-2012. 36
Biểu đồ 2.12. nợ xấu/tổng dư nợ của hệ thống NHTM ở Việt Nam 36
phát triển nói chung, hệ thống NHTM nói riêng, trước môi trường kinh doanh mới
với những áp lực cạnh tranh gay gắt cùng những đối thủ không cân sức.
Từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu, phân tích, đưa ra những nhân tố ảnh hưởng
đến tính hiệu quả trong hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn
hội nhập hiện nay để từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động của hệ thống NHTM là một vấn đề cấp thiết.
1.2. Vấn đề nghiên cứu
Tính hiệu quả của cácNHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006-2012.
- Hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng là gì?
- Thực trạng hoạt động hiện nay của hệ thống NHTM Việt Nam như thế nào?
- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM
Việt Nam trong quá trình hội nhập?
- Những giải pháp kiến nghị nào cần đưa ra để nâng cao hiệu quả hoạt động
của hệ thống NHTM Việt Nam?
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Từ các bài nghiên cứu trước đây tại một số quốc gia trên thế giới, tác giả tổng
hợp lại các yếu tố chính tác động đến hiệu quả của hệ thống ngân hàng và từ đó
2
xây dựng một mô hình các nhân tố tác động đến hiệu quả của các NHTM Việt
Nam.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để giải
quyết vấn đề nghiên cứu. Trong đó, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp biên
ngẫu nhiên - Stochatic Frontier Analysis (SFA) để tính toán biến hiệu quả hoạt
động của các NHTM Việt Nam, sau đó sử dụng mô hình 2SLS và Tobit để phân
tích các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM.
1.5. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên nguồn số liệu về hiệu quả hoạt động của
30 NHTM Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2012.
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp và là một đơn vị kinh
tế. Ngân hàng thương mại hoạt động trong một ngành kinh tế, có cơ cấu, tổ chức
bộ máy như một doanh nghiệp bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh
nghiệp khác, phải tự chủ về kinh tế và phải có nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước
như các đơn vị kinh tế khác.
Hoạt động của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh. Để hoạt
động kinh doanh, các ngân hàng thương mại phải có vốn (vốn dược cấp nếu là
ngân hàng công, được cổ động đóng góp nếu là ngân hàng cổ phần…) phải tự chủ
về tài chính (tự lấy thu nhập để bù đắp chi phí); đặc biệt hoạt động kinh doanh cần
đạt đến mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của ngân
hàng thương mại cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Hoạt động kinh tế của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh tiền
tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì trước hết nó liên quan trực
tiếp đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội và
mặt khác, lĩnh vực tiền tệ ngân hàng là lĩnh vực “nhạy cảm”- nó đòi hỏi một sự tôn
4
trọng và khéo léo trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại
cho xã hội.
Tóm lại, ngân hàng thương mại là loại hình định chế tài chính trung gian
hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây là loại định
chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bật nhất trong nền kinh tế thị trường,
góp phần tạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy nền
kinh tế xã hội phát triển.
2.1.1.3. Chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng thương mại
- Trung gian tín dụng
Trung gian tín dụng là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của ngân hàng
thương mại, nó không những cho thấy bản chất của ngân hàng thương mại mà còn
cho thấy nhiệm vụ chính yếu của ngân hàng thương mại. Trong chức năng này
chức năng “trung gian tín dụng” ngân hàng thương mại đóng vái trò là người trung
Hộ gia đình
Cá nhân
Hình 2.1. Sơ đồ chức năng trung gian tín dụng
5
trực tiếp nào. Họ không chị trách nhiệm và nghĩa vụ gì cho nhau cả. Tất cả đều
thông qua ngân hàng thương mại, nghĩa là ngân hàng thương mại có trách nhiệm
hoàn tiền cho người gửi. Còn người đi vay phải có trách nhiệm trả nợ cho ngân
hàng.
Ngân hàng không phải là người trung gian tài chính thuần túy, mà là trung
gian tín dụng, nghĩa là việc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của chức năng này phải
theo nguyên tắc “hoàn trả” vô điều kiện.
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, các ngân hàng thương mại thực hiện
những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn của các đơn vị kinh tế, các tổ chức
và cá nhân bằng đồng tiền trong nước và bằng ngoại tệ. Nhận tiền gửi tiết kiệm
của tổ chức và cá nhân.Phát hành kỳ phiếu và trái phiếu ngân hàng để hiệu quả
huy động vốn trong xã hội. Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đối với các đơn vị,
cá nhân. Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá đối với các đơn vị, cá nhân.
Chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng thương mại có vai trò và tác dụng to
lớn đối với nền kinh tế xã hội.
Trước hết, nhờ thực hiện chức năng này mà hệ thống ngân hàng thương mại
huy động và tập trung hầu hết các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của xã hội,
biến tiền nhàn rỗi từ chỗ là phương tiện tích lũy trở thành nguồn vốn lớn của nền
kinh tế. Nhờ thực hiện chức năng trung gian tín dụng mà hệ thống ngân hàng
thương mại cung ứng một khối lượng vốn tín dụng rất lớn cho nền kinh tế. Đây là
nguồn vốn rất quan trọng vì nó không những lớn về số tiền tuyệt đối mà vì tính
chất “luân chuyển” không ngừng của nó.
- Trung gian thanh toán
nghiệp hóa và hiện đại hóa, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh và lâu bền,
tạo sự phát triển kinh tế quan trọng cho các năm tới.
Đối với ngân hàng thương mại, nó thể hiện sự đáp ứng này với nền kinh tế, thông
qua vai trò của mình là:
- Ngân hàng thương mại là nơi huy động tập trung vốn tạm thời nhàn
rỗi trong xã hội để cung cấp cho nhu cầu của nền kinh tế.
Người trả
tiền
Người mua
(Cty, XN, tổ
chức kinh tế,
cá nhân)
Ngân
hàng
thương
mại
Người thụ
hưởng
Người bán
(Cty, XN, tổ
chức kinh tế,
cá nhân)
Hình 2.2.Sơ đồ chức năng trung gian thanh toán
7
Như chúng ta đã biết trong xã hội luôn luôn tồn tại mâu thuẫn về sự thừa và
sự thiếu vốn một cách tạm thời, tức là có tình trạng một thời kỳ nào đó người thì
thừa tiền, trong khi lại có những người cần tiên. Đối với những người, những tổ
chức có tiền tạm thời nhàn rỗi, thì vấn đề đối với họ là làm sao bảo quản được số
qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển đồng điều giữa các vùng khác
nhau trong cùng một quốc gia.
Trong quá trình phát triển kinh tế của một nước và đặc biệt là các nước
đang phát triển, thì hiện tượng thừa và thiếu vốn giữa các vùng diễn ra thường
xuyên. Cho nên một vấn đề cần giải quyết được đặt ra là làm sao thực hiện được
việc tập trung vốn từ vùng có nhu cầu nhưng không có nguồn vốn sẽ có đủ nguồn
vốn để phát triển kinh tế. Chính ngân hàng thực hiện hoạt động này thông qua hoạt
động điều chuyển vốn của ngân hàng thương mại trung ương.
- Ngân hàng thương mại thông qua hoạt động của mình góp phần quan
trọng vào việc chống lạm phát, ổn định sức mua của đồng tiền, ổn định
tình hình kinh tế.
Trong hoạt động của mình, ngân hàng có thể giảm bớt lượng tiền mặt trong
lưu thông bằng cách tăng lãi suất huy động để thu hút tiền mặt vào đồng thời tăng
lãi suất ở đầu ra để hạn chế lượng tiền mặt ra trong thời kỳ lạm phát cao, hoặc các
ngân hàng có thể hành động ngược lại khi nền kinh tế có hiện tượng giảm sút. Qua
việc thay đổi trong chính sách huy động và cho vay như trên, ngân hàng góp phần
làm ổn định sức mua của đồng tiền, ngăn chặn được sự tăng giá đột ngột, kìm chế
lạm phát làm ổn định nền kinh tế.
- Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa kinh tế trong nước và ngoài
nước, tạo điều kiện cho nền kinh tế trong nước hòa nhập với nền kinh
tế trong khu vực và nền kinh tế trên thế giới.
Một ngân hàng thương mại có phạm vi hoạt động và quan hệ rộng rãi với
rất nhiều tổ chức kinh tế. Nó có khả năng huy động được vốn từ cá nhân, tổ chức
ngoài nước và tổ chức tài chính tín dụng quốc tế, qua đó bảo đảm được vốn cho
nền kinh tế trong nước, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế trong nước có thể mở
rộng hoạt động của họ ra nước ngoài một cách có hiệu quả hơn, thông qua hoạt
động thanh toán quốc tế, tư vấn tài trợ xuất nhập khẩu. Ngân hàng có thể làm đại
9
lý cho các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài qua đó giúp các tổ chức kinh tế
xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”. Như vậy, có thể
hiểu hiệu quả là mức độ thành công mà các doanh nghiệp và ngân hàng đạt được
trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm
đạt được một mục tiêu nào đó.
2.1.2.2. Phân loại hiệu quả và đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ
thống NHTM
Phân loại hiệu quả
Mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đơn giản là cố gắng tránh lãng phí, bằng
cách đạt được các đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn hoặc bằng việc cực tiểu
hóa đầu vào trong sản xuất các đầu ra đã cho. Trong trường hợp này, khái niệm
hiệu quả tương ứng với cái mà chúng ta gọi là hiệu quả kỹ thuật (khả năng sử
dụng cực tiểu hóa đầu vào để sản xuất một vectơ đầu ra cho trước, hoặc khả năng
thu được đầu ra cực đại từ một vectơ đầu vào cho trước), và mục tiêu tránh lãng
phí của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt được mức hiệu quả kỹ thuật cao. Ở
mức cao hơn, mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã
cho với chi phí cực tiểu, hoặc sử dụng các đầu vào đã cho sao cho cực đại hóa
doanh thu, hoặc phân bổ các đầu vào đầu ra sao cho cực đại hóa lợi nhuận. Trong
các trường hợp này, hiệu quả tương ứng được gọi là hiệu quả kinh tế (khả năng
cho biết kết hợp các đầu vào nhân tố cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra
một sản lượng nhất định), và mục tiêu của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt
mức hiệu quả kinh tế cao (tính theo các chỉ tiêu như chi phí, doanh thu hoặc lợi
nhuận).
Như vậy, hiệu quảlà phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp và
phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý…
Nó phản ánh quan hệ so sánh được giữa kết quả kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt
đựợc kết quả đó.
Đánh giá hiệu quả hoạt động
Đánh giá hiệu quả họat động của hệ thống NHTM có thể được chia làm hai nhóm
là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối:
11
quả hoạt động của các NHTM nhằm hạn chế được các hoạt động mang tính chất
12
rủi ro, bảo toàn vốn, nâng cao thu nhập và lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh
của NHTM. Các nhân tố này có thể được chia làm hai nhóm: nhóm nhân tố khách
quan và nhóm nhân tố chủ quan, tùy theo điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà
hai nhóm nhân tố này có ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả họat động của chính
các NHTM.
2.2.1. Nhóm nhân tố khách quan:
2.2.1.1. Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước
NHTM là cầu nối giữa khu vực tiết kiệm và khu vực đầu tư của nền kinh tế, do
vậy những biến động của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội có những ảnh hưởng
không nhỏ đến hoạt động của NHTM. Nếu môi trường kinh tế, chính trị, xã hội ổn
định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các NHTM, vì đây cũng là điều
kiện giúp cho sản xuất của nền kinh tế diễn ra bình thường, đảm bảo khả năng hấp
thụ vốn và hoàn trả vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Khi nền kinh tế
có tăng trưởng cao và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế đều có nhu cầu mở
rộng họat động sản xuất, kinh doanh, do đó nhu cầu vay vốn tăng, từ đó các
NHTM dễ dàng mở rộng họat động tín dụng của mình đồng thời khả năng nợ xấu
có thể giảm vì năng lực tài chính của các doanh nghiệp được nâng cao. Ngược lại,
khi môi trường kinh tế, chính trị, xã hội bất ổn thì lại là nhân tố bất lợi cho họat
động của các NHTM, như nhu cầu vay vốn giảm, nợ xấu và nợ quá hạn tăng làm
giảm hiệu quả hoạt động của các NHTM.
Hơn nữa, hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra khá mạnh mẽ, các
nền kinh tế của các nước trên thế giới ngày càng phụ thuộc vào nhau, luồng vốn
quốc tế đã và đang dồn vào khu vực Châu Á, điều này đang tạo điều kiện cho Việt
Nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng nhiều cơ hội mới trong việc tận
dụng nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý từ các quốc gia phát triển. Tuy
nhiên, quá trình hội nhập cũng tạo không ít khó khăn và thách thức khi phải cạnh
tranh trực tiếp với các tập đoàn tài chính tiềm lực trên thế giới. Trong khi thực tế
Ngoài các nhân tố khách quan trên đây, các yếu tố như: tập quán, tâm lý, xã hội,
khuynh hướng tiết kiệm, đầu tư, trình độ dân trí… cũng là những nhân tố khách
quan tác động đến hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM.
14
2.2.2. Nhóm nhân tố chủ quan:
Nhóm này bao gồm các nhân tố bên trong nội bộ của chính các NHTM như các
nhân tố về năng lực tài chính, khả năng quản trị điều hành, ứng dụng tiến bộ công
nghệ, trình độ và chất lượng của nguồn nhân lực…
- Năng lực tài chính của NHTM
Năng lực tài chính của NHTM thường được biểu hiện trước hết là qua khả năng
mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vốn chủ sở hữu thể hiện sức mạnh tài chính của
một ngân hàng. Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô kinh doanh của
ngân hàng như: khả năng huy động và cho vay vốn, khả năng đầu tư tài chính và
trang thiết bị công nghệ.
- Khả năng sinh lời
Đây cũng là một nhân tố phản ánh về năng lực tài chính của NHTM vì nó thể hiện
tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh. Thứ ba là khả năng phòng ngừa và
chống đỡ rủi ro. Nếu nợ xấu tăng thì dự phòng rủi ro cũng phải tăng để bù đắp cho
rủi ro, có nghĩa là khả năng tài chính cho phép sử dụng để bù đắp tổn thất có thể
xảy ra. Ngược lại, nếu nợ xấu tăng nhưng dự phòng rủi ro không đủ để bù đắp có
nghĩa là tình trạng tài chính xấu và năng lực tài chính bù đắp cho khoản chi phí
này bị thu hẹp.
- Năng lực quản trị, điều hành
Đây là nhân tố tiếp theo ảnh hưởng đến hiệu quả họat động của ngân hàng. Năng
lực quản trị, điều hành trước hết phụ thuộc và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, trình
độ lao động và tính hữu hiệu của cơ chế điều hành để có thể ứng phó tốt trước
những diễn biến phức tạp của thị trường. Tiếp theo, năng lực quản trị, điều hành
còn có thể được phản ánh bằng khả năng giảm thiểu chi phí họat động, nâng cao
năng suất sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra được một tập hợp đầu ra cực đại.
Các nghiên cứu trong nước về hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM gần
đây đã được một số tác giả quan tâm, tuy nhiên đa phần những nghiên cứu này chỉ
dừng lại ở các nghiên cứu định tính như: nghiên cứu của nghiên cứu sinh Lê Thị
Hương năm 2002 về “Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của NHTM Việt Nam”,
hay nghiên cứu của nghiên cứu sinh Lê Dân (2004) “ Vận dụng phương pháp
thống kê để phân tích hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam”, tuy đã có phần
16
nào tiếp cận vấn đề bằng phương pháp định lượng nhưng chỉ dừng lại chủ yếu ở
phương thức thống kê, hoặc nghiên cứu của Tiến sĩ Phạm Thanh Bình (2005) với
đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam trong điều
kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế” cũng chỉ dừng lại ở phân tích định tính.
Còn các nghiên cứu định lượng về đo lường hiệu quả hoạt động của các NHTM
nhìn chung là còn ít. Gần đây, có nghiên cứu của Bùi Duy Phú (2002) là đánh giá
hiệu quả của NHTM qua hàm sản xuất và hàm chi phí, tuy nhiên hạn chế của
nghiên cứu này là chỉ đơn thuần xác định hàm chi phí và ước lượng trực tiếp hàm
chi phí này để tìm các tham số của mô hình, do vậy mà không thể tách được phần
phi hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng. Nguyễn Thị Việt Anh (2004) ước
lượng các nhân tố phi hiệu quả cho ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam có áp dụng phương pháp hàm biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier
Function) và ước lượng dưới dạng hàm chi phí Cobb_ Douglas, tuy nhiên hạn chế
cơ bản của nghiên cứu đó là việc chỉ định dạng hàm.
Như vậy, có thể nói việc áp dụng những phương pháp phân tích định lượng
trong nghiên cứu hiệu quả của NHTM Việt Nam còn rất hạn chế, thực tế cũng cho
thấy hiện nay trong phân tích họat động của ngành ngân hàng từ cấp ngân hàng
đến cấp ngành, các nhà phân tích vẫn quen cách tiếp cận truyền thống, bởi vì đây
vẫn là một cách tiếp cận dễ hiểu và dễ tính.
2.3.2. Các nghiên cứu nước ngoài
Các nghiên cứu về đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, tiếp cận
theo phương pháp phân tích định lượng, đã được sử dụng trong các nghiên cứu
nghiên cứu về mối quan hệ giữa cạnh tranh và hiệu quả ngân hàng tại các ngân
hàng ở USA. Mô hình nghiên cứu đã tính ra được chỉ sổ Lerner hiệu chỉnh, đây có
thể là một phát kiến mới trong việc nghiên cứu động thái cạnh tranh của lĩnh vực
ngân hàng và các lĩnh vực khác và nó cũng có ích trong việc nghiên cứu quá trình
điều tiết, chính sách thị trường và các bên có liên quan.
Sophocles N.Brissimis, Manthos D. Delis, Nikolaos I. Papanikolaou (2008)
sử dụng mô hình 2SLS cùng với dữ liệu bảng của các ngân hàng để phân tích sự
ảnh hưởng của việc cơ cấu lại hệ thống ngân hàng đến hiệu quả hoạt động của hệ
thống ngân hàng những nước mới gia nhập khu vực Euro. Kết quả nghiên cứu cho
18
thấy mối quan hệ cùng chiều giữa việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng với tính
hiệu quả của hệ thống ngân hàng dưới tác động của các nhân tố vĩ mô.
Nghiên cứu của Rima Turk Ariss (2010) đã tiếp cận mô hình OLS và Tobit
để khám phá mức độ của sức mạnh thị trường tác động như thế nào đến hiệu quả
và tính ổn định của hệ thống trong bối cảnh của các nền kinh tế đang phát triển.
Nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ về mối quan hệ chiến lược cạnh
tranh và sự ổn định tài chính tại các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên nghiên
cứu đã giải thích được tác động của sức mạnh thị trường đến hiệu quả và sự ổn
định của từng ngân hàng tại các quốc gia này.
Barbara Casu và Claudia Giardone (2011) trong bài nghiên cứu của mình
đã áp dụng phương pháp tiếp cận trung gianvà 2 mô hình SFA, DEA để xem xét
mối quan hệ giữa mức độ cạnh tranh, mức độ tập trung và mức hiệu quả cụ thể của
các NHTM khu vực Euro. Nghiên cứu tìm ra được mối quan hệ phi tuyến giữa sự
cạnh tranh và tính hiệu quả và các nhân tố khác như: độ nhạy cảm với rủi ro,
khung điều tiết và các nhân tố vĩ mô khác có thể ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp
đến mối quan hệ này và vì vậy có thể giải thích cho các nghiên cứu sau này trong
cùng khu vực Euro.
Nghiên cứu của Joaquin, Maudos, Juan Fernandez de Guevara (2007) sử
dụng mô hình Fixed Effects để phân tích mối quan hệ giữa sức mạnh thị trường