i Sự bất ổn của kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng đặt ra áp lực rất
lớn lên vai các nhà quản trị trong việc tối đa hóa lợi nhuận cổ đông, quản lý thu nhập
hiệu quả và chèo kéo công ty thoát khỏi cuôc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang diễn
ra. Đặc biệt, trong hoàn cảnh tụt dốc của kinh tế thế giới hiện nay, tiền mặt trở thành
một nguồn khó để vay mượn hơn, mỗi công ty không nên quên được sự thật rằng hầu
hết tiền mặt của công ty đều gắn chặt trong các thành phần của vốn luân chuyển, vì
vậy một chiến lược mới nhằm quản lý dòng tiền hiệu quả thì không nên bỏ qua việc
quản trị vốn luân chuyển. Vì thế vốn luân chuyển luôn được xem như nguồn sống của
một doanh nghiệp và quản trị vốn luân chuyển được coi như một phần không thể thiếu
của quản trị kinh doanh. Mục đích chính của bài nghiên cứu này là tìm hiểu tác động
của quản trị vốn luân chuyển lên lợi nhuận của các công ty niêm yết ở Việt Nam trong
giai đoạn 2007-2012 bằng phương pháp Fixed effects và GMM. Kết quả cho thấy có
tồn tại một mối quan hệ nghịch biến giữa các thành phần của vốn luân chuyển gồm kỳ
phải trả, kỳ phải thu, kỳ tồn kho và kỳ luân chuyển tiền mặt và lợi nhuận hoạt động
của các công ty. Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng phát hiện được tác động ngược chiều
của tỷ lệ nợ, tỷ lệ tài sản tài chính và quy mô tới thành quả doanh nghiệp. Kết quả
nghiên cứu khuyến khích các nhà quản trị giảm số ngày tồn kho và số ngày phải thu để
tăng khả năng sinh lợi cho doanh nghiệp.
Từ khóa: Vốn luân chuyển, lợi nhuận, kỳ luân chuyển tiền mặt, Việt Nam TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
iii
3.2. Các biến đƣợc sử dụng trong bài nghiên cứu 18
3.2.1. Biến phụ thuộc 18
3.2.2. Biến độc lập 18
3.2.2.1. Kỳ phải trả (ACP) 18
3.2.2.2. Kỳ phải thu phải thu (ACR) 19
3.2.2.3. Kỳ tồn kho (INVE) 20
3.2.2.4. Kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) 21
3.2.3. Biến điều khiển 22
3.2.3.1. Tỷ lệ nợ (DR) 22
3.2.3.2. Quy mô công ty (SIZE) 22
3.2.3.3. Tỷ lệ tài sản tài chính(FAR) 23
3.3. Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 24
3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 27
3.4.1. Phân tích ban đầu 27
3.4.1.1. Kiểm định Chow 27
3.4.1.2. Kiểm tra tính dừng 27
3.4.1.3. Thống kê mô tả và ma trận tương quan Pearson 28
3.4.2. Phân tích định lƣợng 28
4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1. Phân tích mô tả 31
4.1.1. Kiểm định Chow 31
4.1.2. Kiểm tra tính dừng 32
4.1.3. Thống kê mô tả 32
iv
Bảng 12: Kiểm tra thiếu biến Ramsey test 53
Bảng 13: Kiểm tra phương sai thay đổi trong mô hình 53
vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Tên đầy đủ bằng tiếng Anh
Tên đầy đủ bằng tiếng Việt
OLS
Ordinary least squares
Bình phương bé nhất tổng quát
GMM
Generalized method of moments
Phương pháp tổng quát hóa thời
điểm
HNX
Ha Noi Stock Exchange
Sở giao dịch chứng khoán Hà
Nội
HOSE
Ho Chi Minh Stock
Exchange
Sở giao dịch chứng khoán TP.
Hồ Chí Minh
1 Mỗi công việc kinh doanh đều cần vốn luân chuyển để tồn tại và duy trì hoạt động,
nói không sai khi người ta coi vốn luân chuyển là sự sống của một doanh nghiệp. Nó
cần cho một công ty để duy trì tính thanh khoản, tính thanh toán nợ và lợi nhuận
(Mukhopadhyay, 2004). Tầm quan trọng của quản trị vốn luân chuyển hiệu quả là
không thể chối cãi (Filbeck & Krueger, 2005). Nếu một công ty dự định đầu tư nhiều
vào vốn luân chuyển, tức là lợi nhuận có thể đầu tư vào tài sản cố định hoặc tài sản dài
hạn sẽ bị giảm bớt vì công ty sẽ phải duy trì chi phí lưu trữ hàng tồn kho trong dài hạn
cũng như chi phí nắm giữ hàng tồn kho dư thừa (Arnold, 2008).
Mặt khác, nếu một công ty đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định mà bỏ quên nhu cầu
vốn ngắn hạn thì có thể sẽ phải đối mặt với tình trạng kiệt quệ tài chính vì không đủ
tiền. Lợi nhuận và thanh khoản là 2 mục tiêu chính để duy trì hoạt động của một công
ty, do đó nhiệm vụ chính của các nhà quản trị là đánh đổi giữa lợi nhuận và thanh
khoản ở một mức độ tối ưu nhất nhằm đem lại hiệu quả cho công ty (Kargar &
Blumenthal, 1994). Việc thiếu vốn luân chuyển là một trong những nguyên nhân phổ
biến dẫn tới phá sản ở nhiều doanh nghiệp nhỏ ở nhiều nước khác nhau (Rafuse,
1996). Quản trị hiệu quả vốn luân chuyển bao gồm 2 bước là chuẩn bị nguồn lực và
điều khiển nguồn lực đó. Cả 2 đều với mục tiêu để công ty có thể đáp ứng các nghĩa
vụ ngắn hạn cũng như tránh lãng phí nguồn lực vì đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn
hạn (Eljelly, 2004). Quản trị hiệu quả sẽ làm giảm nhu cầu vay mượn bên ngoài cho
công ty.
Có nhiều các tiếp cận khác nhau đối với quản trị vốn luân chuyển, 2 cách cơ bản đó là
chính sách quản trị vốn luân chuyển cấp tiến và chính sách quản trị vốn luân chuyển
bảo thủ. Chính sách quản trị cấp tiến với việc đầu tư nhiều vào tài sản cố định và đầu
tư ít vào tài sản ngắn hạn có thể tạo ra nhiều lợi nhuận cho công ty, tuy nhiên nó cũng
đặt công ty vào nguy cơ thiếu vốn để duy trì hoạt động thường ngày và khoản trả nợ
ngắn hạn. Ngược lại, chính sách bảo thủ đầu tư ít vào tài sản cố định để đổ vốn vào tài
sản ngắn hạn, nó hàm ý rằng nợ ngắn hạn được ưa thích sử dụng hơn so với nợ dài
4
1.4 Phƣơng pháp nghiên cứu
Mẫu dữ liệu gồm có 200 doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên hai sàn HNX và
HOSE trong giai đoạn 2007-2012. Các công ty trong mẫu được lựa chọn ngẫu nhiên
từ nhiều ngành khác nhau, ngoại trừ các công ty thuộc lĩnh vực tài chính, bảo hiểm,
bất động sản. Các số liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính hằng năm được công
khai trên các website tài chính.
Trong bài, lợi nhuận của công ty được đo lường qua lợi nhuận hoạt động gộp (GOP),
trong khi đó biến tổng quát nhất liên quan tới quản trị vốn luân chuyển là kỳ luân
chuyển tiền mặt (CCC). Để có thể đưa đến kết quả tin cậy nhất, bài nghiên cứu này sử
dụng hơn một kỹ thuật ước lượng, bao gồm phân tích mô tả dữ liệu và phân tích hồi
quy đa biến bằng phương pháp Fixed effects và Generalized Method Of Moments
(GMM).
1.5 Ý nghĩa của đề tài
Thứ nhất, bài nghiên cứu này sẽ bổ sung thêm kiến thức hiện có về các thành phần của
vốn luân chuyển và lợi nhuận công ty.
Thứ hai, nếu có thể tìm ra cách mà vốn luân chuyển tác động tới lợi nhuận như nào thì
nhà quản trị có thể cân bằng những yếu tố đó nhằm mang lại lợi nhuận cao cho công
ty và tối đa hóa giá trị cổ đông.
Thứ ba, trong bối cảnh kinh tế không ổn định, những phát hiện của bài nghiên cứu có
thể được sử dụng bởi không chỉ các công ty sản xuất mà cả các công ty trong lĩnh vực
khác nhằm cải thiện tình hình tài chính của đất nước.
1.6 Bố cục bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu này được chia thành 5 chương lớn:
Chƣơng 1: Giới thiệu đề tài.
Trong chương này chúng tôi trình bày khái quát về lý do thực hiện bài nghiên cứu,
mục tiêu chính, phương pháp sử dụng và ý nghĩa đề tài.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ LỢI NHUẬN
CÔNG TY
2.1. Giới thiệu về vốn luân chuyển
Vốn luân chuyển (Working Capital) được định nghĩa là chênh lệch giữa tài sản
ngắn hạn và nợ ngắn hạn phải trả. Theo nghĩa rộng, vốn luân chuyển là giá trị của
toàn bộ tài sản ngắn hạn, những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty.
Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hoá qua tất cả các dạng - tồn tại từ
tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là
tiền mặt (Guthmann và Dougall (1948).
Vốn luân chuyển đo lường sức khỏe tài chính của một doanh nghiệp và nó đóng một
vai trò quan trọng trong việc tối đa hóa tài sản của cổ đông. Mỗi ngày các nhà quản lý
tài chính dành phần lớn thời gian để cân bằng các thành phần của vốn luân chuyển,
điều này để đáp ứng những nghĩa vụ trong ngắn hạn của công ty. Mục đích của bài
nghiên cứu này là xem xét mối quan hệ giữa các thành phần của vốn luân chuyển như
hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả đối với lợi nhuận của công ty.
2.2. Nền tảng lý thuyết về quản trị vốn luân chuyển
Các công ty tốt luôn có các nhân viên tài chính có chuyên môn giỏi để phụ trách các
vấn đề hằng ngày liên quan tới các quyết định về vốn luân chuyển, vì vốn luân chuyển
luôn chiếm phần lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp và tồn tại ở nhiều dạng khác
nhau, từ thành phần tài sản ngắn hạn này sang thành phần tài sản ngắn hạn khác, ví
dụ: từ hàng tồn kho chuyển thành thành phẩm, sau đó được bán ra và tạo ra doanh thu
bán chịu, doanh thu bán chịu này được công ty ghi nhận là một khoản nợ ngắn hạn
được được coi là sẽ được chi trả trong một khoảng thời gian ngắn bởi các khách hàng
bên ngoài.
7
8
khôn ngoan, vì khoản nợ không dễ để thu hồi có thể dẫn đến tài sản ngắn hạn phải tài
trợ bằng vay mượn. Mà chính sách tiền tệ thắt chặt được nhiều chính phủ áp dụng hiện
nay lại không khuyến khích các ngân hàng nói chung cho vay trong giai đoạn suy
thoái.
Sự thành công của một công ty có liên quan nhiều tới quản trị vốn luân chuyển. Vốn
luân chuyển là kết quả của sự khác nhau giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, và nó
liên kết với quản trị tài chính ngắn hạn thông qua các hoạt động sản xuất ngắn hạn.
Công ty luôn ưu tiền sẽ dụng nguồn vốn có sẵn vì họ không phải trả lãi suất trên
những khoản vay nợ. Một công ty không thể đảm bảo khoản nợ từ các tổ chức tài
chính một cách nhanh chóng với lãi suất rất rẻ trừ khi đó là để cải thiện năng suất sản
xuất của công ty. Vì vậy, vốn nội bộ đưa tới sự linh hoạt cho công ty (Brealey et al,
2006 pp 813-832).
2.2.1. Các nhân tố tác động tới nhu cầu vốn luân chuyển
2.2.1.1. Nhân tố bên trong
Loại hình kinh doanh: Nhu cầu vốn luân chuyển phụ thuộc vào kiểu kinh doanh của
công ty. Các doanh nghiệp sản xuất và thương mại sẽ nắm giữ nhiều hàng hóa và sẽ
có nhiều khoản phải thu cũng như nhiều khoản phải trả hơn. Vì vậy, nhu cầu về vốn
luân chuyển là rất lớn. Mặt khác, những doanh nghiệp dịch vụ như nhà hàng, khách
sạn sẽ có doanh thu tiền mặt và số lượng khách hàng nợ nhỏ. Do đó, nhu cầu về vốn
luân chuyển của loại hình doanh nghiệp này không nhiều bằng công ty sản xuất.
Quy mô công ty: công ty nhỏ, đặc biệt là những công ty mới thành lập sẽ không có
đủ vốn để trang trải hoạt động của họ, các chủ nợ sẽ không sẵn lòng cho công ty vay.
Vì thế, công ty có quy mô nhỏ sẽ có mức vốn lưu động thấp. Ngược lại, những công
ty lớn với lượng hàng hóa và con nợ khổng lồ sẽ liên tục phát triển và ngày càng cần
nhiều vốn luân chuyển hơn nữa.
Chính sách sản xuất của công ty: Nhu cầu vốn luân chuyển của công ty có thể bị
hơn. Tuy nhiên, đầu tư ban đầu vào công nghệ mới cần nguồn tiền và nhân lực rất lớn.
Chính sách thuế: Hệ thống thuế của đất nước sẽ quyết định lượng thuế phải trả hàng
năm. Nếu môi trường kinh doanh ở đất nước đó thoải mái thì tỷ lệ thuế sẽ nhỏ và sẽ
10
không đưa đến sự căng thẳng của công ty về việc đáp ứng nghĩa vụ nộp thuế. Ở một
số nước, cơ quan thuế yêu cầu phải nộp thuế trước, điều này dẫn tới việc phải đi vay
mượn để nộp thuế nếu trong trường hợp khoản nợ của khách hàng chưa thể thu lại.
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây
Đã có rất nhiều các nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển lên lợi
nhuận công ty.
Lamberson (1995) lựa chọn 50 công ty Mỹ trong giai đoạn 1980-1991 để nghiên cứu
liên quan giữa hoạt động kinh tế và chính sách vốn luân chuyển. Ông đã tìm thấy mối
quan hệ không có ý nghĩa giữa hoạt động kinh tế và các thành phần của vốn luân
chuyển.
Shin và Soenen (1998b) đã lựa chọn 58985 công ty Mỹ, trong giai đoạn 1975-1994
để điều tra có hay không mối quan hệ giữa kỳ luân chuyển tiền mặt của công ty và lợi
nhuận. Hai tác giả này đã sử dụng phân tích tương quan và hồi quy để nghiên cứu và
đã đưa đến kết quả là đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa lợi nhuận công ty và
kỳ luân chuyển tiền mặt. Lyroudi và cộng sự (1999) nghiên cứu trên mẫu gồm các
công ty niêm yết trên sàn chứng khoán London trong giai đoạn 4 năm và đã phát hiện
được kỳ luân chuyển tiền mặt có liên quan ngược chiều với lợi nhuận thuần, lợi nhuận
trên tổng tài sản và lợi nhuận trên vốn cổ phần.
Cote và Latham (1999) nhấn mạnh việc quản trị số ngày phải thu, tồn kho và phải trả
một cách hiệu quả có thể ảnh hưởng tích cực tới dòng tiền của công ty. Cuối cùng
dòng tiền đóng một vai trò sống còn trong quyết định sự tồn tại của công ty. Moyer
và công sự (2003) tìm ra rằng vốn luân chuyển chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng đầu tư
của công ty vào tài sản, 40% trong các công ty sản xuất, 50-60% đối với các doanh
2002. Họ đã kết luận được công ty có lợi nhuận tốt thì tốn ít thời gian để thu hồi các
khoản phải thu, trả thuế nhanh sớm hơn và luân chuyển từ hàng tồn kho thành thành
phẩm trong khoảng thời gian ngắn. Afza và Nazir (2007) nhận ra mối quan hệ ngược
chiều giữa thành quả của công ty và chính sách đầu tư vào vốn luân chuyển.
Samiloglo và Demirgunes (2008) khảo sát mối quan hệ giữa các thành phần của vốn
12
luân chuyển và lợi nhuận. Họ phát hiện ra số ngày phải thu và số ngày tồn kho có
quan hệ ngược chiều với lợi nhuận.
Zariyawati và cộng sự (2009) kết luận rằng mối liên hệ giữa vòng quay tiền mặt và
lợi nhuận là ngược chiều. Nghiên cứu của Sen và Eda (2009) khám phá ra vòng quay
tiền mặt càng ngắn thì sẽ càng đưa tới nhiều lợi nhuận hơn. Falope và Ajilore (2009)
trong công trình của mình đã tìm ra mối quan hệ ngược chiều có ý nghĩa giữa các
thành phần của vốn luân chuyển và thu nhập hoạt động thuần đối với mẫu 50 công ty
Nigeria. Uyar (2009) cũng đưa ra kết luận về quan hệ ngược chiều giữa vòng quay
tiền mặt và lợi nhuận trên tài sản. Theo Rezazadeh và Heidarian (2010), lợi nhuận
công ty có thể được cải thiện bằng việc giảm CCC.
Mohamad và Saad (2010) quan sát trên nguồn dữ liệu của Bloomberg của 172 công
ty niêm yết ở Malaysia trong giai đoạn 2003-2007. Họ đã kết luận được các thành
phần của vốn luân chuyển có tương quan ngược chiều với thành quả công ty. Gil và
cộng sự (2010) đã chứng minh được có tồn tại quan hệ có ý nghĩa giữa vốn luân
chuyển và lợi nhuận. Mathuva (2010) kết luận số ngày phải trả và số ngày tồn kho có
tương quan cùng chiều với lợi nhuận trong khi số ngày phải thu lại có quan hệ ngược
chiều.
Danuletiu (2010) lựa chọn 20 công ty ở Alba để tìm hiểu mối quan hệ giữa vốn luân
chuyển và lợi nhuận trong giai đoạn 2004-2008. Biến phụ thuộc là vốn luân chuyển
thuần, trong khi đó biến độc lập gồm có lợi nhuận trên tài sản, lợi nhuận trên doanh
thu, lợi nhuận trên vốn cổ phần. Kết quả là đã tìm thấy có tồn tại mối quan hệ lợi
ngoài để thúc đẩy kinh tế cũng như tình hình các công ty.
Bagchi và Khamrui (2012b) chọn mẫu 10 công ty thuộc nhóm hàng tiêu dùng nhanh
trong giai đoạn 2000-2010. Lợi nhuận trên tài sản được sử dụng để đo lường lợi
nhuận. kỳ luân chuyển tiền mặt, hệ số khả năng thanh toán lãi vay, số ngày tồn kho, số
ngày phải trả, số ngày phải thu, tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu được dùng như biến độc
lập. Khám phá của bài là tìm ra tương quan ngược chiều giữa các thành phần của vốn
luân chuyển với lợi nhuận công ty.
14
Tóm lại, từ những nghiên cứu ở trên, rõ ràng là phần lớn các nhà nghiên cứu đều tìm
thấy những kết quả tương tự nhau. Những tác giả cùng phát hiện ra mối quan hệ
ngược chiều giữa số ngày trả nợ và lợi nhuận, điều này ủng hộ thực tế là những công
ty lợi nhuận thấp sử dụng hết khoảng thời gian cho nợ đưa ra bởi các nhà cung cấp.
Mối quan hệ ngược chiều giữa số ngày phải thu và lợi nhuận có nghĩa là công ty lợi
nhuận cao cần ít thời gian hơn để thu hồi các khoản nợ. Mối quan hệ ngược chiều giữa
kỳ tồn kho và lợi nhuận cũng vậy, công ty có lợi nhuận cao chuyển đổi hàng tồn kho
thành thành phẩm trong giai đoạn ngắn. Ngoài ra, lợi nhuận được đo lường thông qua
nhiều thước đo như lợi nhuận trên doanh thu, lợi nhuận trên tài sản, lợi nhuận trên vốn
cổ phần, lợi nhuận trên vốn đầu tư hay lợi nhuận hoạt động càng làm chắc chắn thêm
vai trò của quản trị vốn luân chuyển đến thành quả của một công ty.
Với việc sử dụng mẫu lớn, kết luận của Shin và Soenen (1998), Deloof (2003),
Garcia(2007) và Nobanee (2011) là khá tin cậy. Tuy nhiên, dữ liệu nghiên cứu đã lâu
và đã khá cũ so với hiện tại.
Theo Raheman and Nasr (2007), Alam (2011), Bagchi và Khamrui (2012), có một
mối quan hệ ngược chiều giữa nợ của công ty cũng như quy mô công ty, logarit của
doanh thu và lợi nhuận.
Mặt khác, những điều tìm thấy của Ganeshan (2007) và Mathuva (2010) lại khác.
Ganeshan nhấn mạnh rằng mối quan hệ giữa số ngày luân chuyển vốn và lợi nhuận thì
tính chất và mối quan hệ giữa các biến. Bước lớn thứ hai là phân tích định lượng, ở
bước này các biến được xây dựng thành các mô hình để nghiên cứu mối quan hệ giữa
các thành phần của vốn luân chuyển và lợi nhuận, sau đó sử dụng các phương pháp
hồi quy định lượng để xử lý những mô hình đó. Chương này sẽ trình bày cụ thể hơn
về các bước này.
16
3.1. Dữ liệu
Dữ liệu trong bài nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp của các doanh nghiệp hoạt động trên 2
sàn chứng khoán là HNX và HOSE, có tình hình tài chính ổn định, không bị thua lỗ
dẫn đến hủy niêm yết do rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Các biến trong bài đều
được tính toán từ số liệu từ bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh của các công ty này, được công bố công khai trên trang www.vietstock.vn từ
năm 2007 đến năm 2012
Mẫu dữ liệu trong bài được thu thập ngẫu nhiên từ nhiều ngành khác nhau và có cùng
một số tiêu chuẩn:
Các công ty đều ở tình trạng hoạt động bình thường.
Hoạt động trước năm 2007 và có dữ liệu công bố đầy đủ từ năm 2007 đến
2012.
Loại trừ các công ty trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và bất động
sản.
Phạm vi và quy mô mẫu dữ liệu, trong bài nghiên cứu này, mẫu gồm 200 doanh
nghiệp đã được lựa chọn, các công ty được chọn ngẫu nhiên từ nhiều ngành khác nhau
và có đủ dữ liệu của ít nhất 6 năm tài chính.
Về thời gian của bộ dữ liệu, các số liệu của 200 doanh nghiệp này được thu thập
trong 6 năm từ 2007 đến 2012. Nhiều nghiên cứu trước đã chứng minh khoảng thời
gian 6 năm là đủ đển quan sát được các tác động rõ ràng của quản trị vốn luân chuyển
lên lợi nhuận của các công ty.
5
2.5%
Xây dựng
36
18%
Tổng cộng
200
100%
Các công ty thu thập mẫu dữ liệu đến từ 8 nhóm ngành khác nhau, việc chọn nhiều
nhóm ngành giúp quan sát được tác động của quản trị vốn luân chuyển lên thành quả
của công ty một cách toàn diện cũng như đem lại sự tin cậy cao về kết quả nghiên cứu
vì đã được nghiên cứu ở hầu hết các nhóm ngành. Trong các nhóm ngành, số doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất được thu thập nhiều nhất, chiếm 42.5% tổng
mẫu, ngành này thường có lượng hàng tồn kho lớn và quá trình mua nguyên liệu, sản
xuất và bán hàng diễn ra liên tục với khối lượng lớn, do đó ảnh hưởng của quản trị
vốn luân chuyển lên các công ty thuộc nhóm ngành này là rất dễ có thể quan sát được.
18
3.2. Các biến đƣợc sử dụng trong bài nghiên cứu
Các biến trong bài được lựa chọn dựa trên các nghiên cứu của các tác giả trước đây,
gồm có 1 biến phụ thuộc, 4 biến độc lập và 3 biến kiểm soát.
3.2.1. Biến phụ thuộc
Mục đích chính của quá trình hoạt động kinh doanh là để làm tăng giá trị tài sản cho
cổ đông. Một công ty hoạt động tốt hay không có thể được đo lường thông qua lợi
nhuận. Lợi nhuận của một công ty đơn giản là đo lường bao nhiêu thu thập có thể
được tạo ra mà đã tính đến chi phí để bán hàng hóa đó. Nhìn chung, một biên lợi
nhuận lớn nghĩa là công ty có khả năng giữ chi phí ở mức thấp nhất. Đã có nhiều
dụ như những người mắc nợ không có khả năng tài chính để chi trả trong ngắn hạn,
nếu thời hạn trả nợ dài thì tiền có thể được sử dụng đầu tư vào hàng tồn kho để bán ra
thu lại lợi nhuận để trả đúng hạn. Công ty cần quản lý dòng tiền dự kiến thật tốt để có
thể tận dụng được tối đa lượng tiền nhàn rỗi cũng như có sẵn tiền để trả nhà cung cấp
đúng hạn. Chi trả đúng hạn sẽ giúp công ty kiếm được nhiều khoản tín dụng hơn từ
người cung cấp và các nhà cung cấp khác cũng sẽ cho công ty nợ bởi vì danh tiếng và
uy tín của công ty đã được nâng cao. Hơn nữa, trả nợ đúng hạn sẽ cải thiện hình ảnh
công ty và vì thế sẽ ngăn ngừa được các hành động kiện tụng do từ phía chủ nợ. Một
phương pháp để xác định khi nào các khoản nợ đến hạn trả, đó là phân tích các giao
dịch trong quá khứ để biết được khi nào và tốn bao nhiêu để trả cho các chủ nợ. Một
phương pháp nữa là lấy các khoản phải trả nổi bật chia cho doanh thu bán nợ và nhân
với số ngày. Phép tính này đưa ra một chỉ số về bao lâu phải thanh toán các khoản nợ.
Số tiền phải trả cho các nhà cung cấp về hàng hóa hay dịch vụ đã mua được đại diện
bởi khoản phải trả. Khi nhà cung cấp cho phép một khoảng thời gian tín dụng chưa
cần trả tiền thì số tiền tiết kiệm được sẽ được linh hoạt để bù đắp các khoản chi phí
khác. Hơn nữa khoảng thời gian tín dụng này cũng cho phép công ty đánh giá được
chất lượng và dịch vụ của nhà cung cấp. Số ngày phải trả có thể được tính như sau:
3.2.2.2. Kỳ phải thu phải thu (ACR)