A: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Mặc dù sách Tiếng Anh 11 mới thay đổi rất nhiều so với Tiếng Anh 11 cũ,
tuy nhiên không phải tất cả các hoạt động (activities) hoặc các tasks phù hợp đối
với học sinh (HS) lớp 11 ở từng môi trường điều kiện dạy – học khác nhau ở
Việt Nam hiện nay.
Sau vài năm dạy Tiếng Anh 11 mới tại trường THPT Tĩnh Gia 2, tôi nhận
thấy rằng có một số hoạt động (HĐ) trong sách Tiếng Anh 11 quá khó đối với
HS, một số HĐ chưa thật sự mang tính giao tiếp hoặc quá dài
so với mặt bằng
chung HS.
Giáo viên chưa mạnh dạn đổi mới hoặc áp dụng phương pháp dạy học mới.
Qua khảo sát ở một số trường THPT, rất nhiều giáo viên (GV) cho rằng bộ
sách giáo khoa (SGK) mới đã được biên soạn theo đường hướng giao tiếp – lấy
HS làm trung tâm nên cứ theo SGK mà dạy nên không cần phải điều chỉnh nội
dung sách.
Trên đây là những nguyên nhân làm cho HS không có nhiều hứng thú tham
gia trong các giờ học tiếng Anh tại trường THPT Tĩnh Gia 2. Chính vì vậy mà
GV cần phải điều chỉnh lại một số nội dung của SGK để làm cho mỗi HĐ cũng
như mỗi đơn vị bài học phù hợp và thú vị hơn đối với người học. Để làm được
điều này, GV cần đánh giá mỗi đơn vị bài học để xem vấn đề ở đây là gì và sau
đó tìm ra cách để điều chỉnh nó cho phù hợp. Nhiều cách mà GV có thể làm để
nâng cao chất lượng mỗi đơn vị bài học, chẳng hạn như phát triển thêm tài liệu
bài tập hỗ trợ từ những nguồn tài liệu khác nhau, đổi mới thủ thuật tiến trình dạy
mỗi đơn vị bài học, thiết kế các HĐ khác nhau có thể gây hứng thú cho người
học.
Trong các nguyên nhân làm cho HS không có hứng thú tham gia trong các
giờ học nói kể trên, tôi nhận thấy rằng nguyên nhân chưa điều chỉnh một số HĐ
1
phần SPEAKING cho phù hợp với đối tượng HS trường THPT Tĩnh Gia 2 là
cần thiết
tham gia của HS trong các giờ học nói tại trường THPT
Tĩnh Gia 2.
• Kết hợp nhiều phương pháp hỗ trợ khác.
2
B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.1. Định nghĩa về điều chỉnh (Adaptation)
Nhiều học giả đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về điều chỉnh. Madsen
và Bowen (1978 trang ix) đã cho rằng điều chỉnh là hành động sử dụng "Một
hoặc hơn một số thủ thuật: bổ sung, mở rộng, cá nhân hóa, đơn giản hóa, hiện
đại hóa, khu biệt, hoặc chỉnh sửa nội dung có tính văn hóa / tình huống". Ellis,
M (1986 trang 47) lại cho rằng điều chỉnh là quá trình "giữ lại, loại bỏ, sắp xếp
lại và sửa đổi" và Tomlinson (1998b: xi) đề cập đến điều chỉnh như là "giảm
thiểu, thêm, bỏ, sửa đổi, và bổ sung".
I.2. Mục đích của điều chỉnh
Thực tế có nhiều lý do để điều chỉnh các giáo trình nhằm làm cho người học
dễ dàng tiếp cận với chúng. Tuy nhiên, có hai mục đích để điều chỉnh thường
được trích dẫn nhiều nhất đó là:
1. để cho giáo giáo trình phù hợp hơn đối với hoàn cảnh mà giáo trình đó
đang được sử dụng. Mc Donough và Shaw (1993 trang 85) cho rằng mục đích
của điều chỉnh nhằm làm tăng sự phù hợp của giáo trình dạy học trong từng
hoàn cảnh bằng việc thay đổi một số đặc trưng bên trong của một cuốn sách để
phù hợp với hoàn cảnh cụ thể hơn.
2. để bù chỉnh khuyết điểm bên trong đối với giáo trình chẳng hạn không
chính xác về ngôn ngữ, không cập nhật, thiếu tính thiết thực như Madsen và
Bowen (1978) đã đề cập hoặc thiếu tính đa dạng.
Nghiên cứu kỹ định nghĩa của McDonough và Shaw ta thấy rằng tối đa sự
phù hợp của giáo trình dạy học là quan trọng vì nó khuyến khích và tăng sự
3
hứng thú cho HS làm cho không khí lớp học sôi động hơn. Thực tế khi GV thay
các HĐ mang tính giao tiếp, quản lý lớp cũng như đưa ra phản hồi. Thứ hai là
hầu hết HS không quen với việc dạy bằng Tiếng Anh. Chúng không thể hiểu nếu
GV luôn nói bằng tiếng Anh. Cuối cùng là thiếu tài liệu học, tài liệu tham khảo
và tính tự học của HS không có. Không có thư viện dành cho HS. Hơn thế, cơ sở
vật chất cần thiết dành cho môn tiếng Anh chưa đủ như máy tính, cassette,
projector v.v…
HS thường có 3 tiết/ tuần. Hạn chế về thời gian dành cho HS thực hành và
phát triển các kỹ năng cũng như làm giàu vốn từ vựng và khả năng học cấu trúc.
Hơn nữa, tiếng Anh hầu như ít khi được sử dụng ở ngoài lớp học. Đây là những
yếu tố gây ảnh hưởng tới kết quả học tiếng Anh đặc biệt là kỹ năng nói.
II.2. Giới thiệu khái quát qui trình tiến hành thu thập dữ liệu
Đầu tiên, 3 GV tiếng Anh khác quan sát 3 bài học ở 2 lớp để biết mức độ
tham gia của HS trước khi TN. Sau đó phát phiếu điều tra cho HS của 2 lớp để
biết được thái độ và nhận xét đánh giá của HS đối với HĐ nói và những yếu tố
ảnh hưởng tới sự tham gia của HS trong giờ học nói.
Sau khi thu thập thông tin từ sự quan sát, phiếu khảo sát điều tra HS, tác
giả đã giảng dạy 2 nhóm cùng 3 bài giống nhau. Đối với nhóm ĐC 3 bài được
tiến hành dạy theo đúng trình thự các HĐ của SGK. Đối với nhóm TN, các bài
nói được áp dụng dạy theo các HĐ đã được điều chỉnh. Trong suốt quá trình TN,
5
3 GV tiếng Anh khác quan sát và đo thời gian tham gia nói của HS ở 2 nhóm để
thu thập dữ liệu.
CHƯƠNG III: BIỆN PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
III.1. Kết quả trước khi thực nghiệm - quan sát
Trước khi TN, 3 GV tiếng Anh khác quan sát 3 tiết phần SPEAKING ở 2
lớp. Trong thời gian quan sát, họ đã tính thời gian tham gia nói của 2 lớp. Cả 3
tiết, tác giả đã dạy theo tiến trình các HĐ giống như SGK. Kết quả TN có thể
được minh họa sau:
Bảng1: STT và TTT cảu nhóm ĐC và nhóm TN trước khi TN.
Nhóm ĐC (11A10-43 HS) Nhóm TN (11A11-43 HS)
c. rarely 44%
d. never except when not being asked by
the teacher.
7%
Có nhiều lý do khác nhau làm cho HS ngại nói trong giờ nói tiếng Anh.
Bảng 3: Yếu tố cản trở sự tham gia của HS trong giờ học nói
2. What prevent you from speaking in the English speaking class?
Factors Percentage (%)
a. Fear of mistakes 13%
b. Speaking activities are difficult. 67%
c. Speaking activities are not various. 56%
d. I don’t like the teacher so I don’t want to speak. 20%
e. Being not accustomed to speaking. 41%
Nhìn vào bảng, ta thấy có một vài yếu tố chính làm cho HS ngại nói trong
giờ nói. 67% HS nói rằng nguyên nhân có ảnh hưởng nhất là HĐ nói. Yêu cầu
quá xa so vói trình độ thực tế của HS. Chúng không có đủ từ và cấu trúc để diễn
tả những gì mà chúng muốn nói. Chiếm tỉ lệ phần trăm cao thứ 2 mà HS thể hiện
là các HĐ trong SGK cũng làm cho chúng nhàm chán với việc nói tiếng Anh.
Gần 1 nửa (41%) chỉ ra rằng chúng không quen với việc nói tiếng Anh. Lý do
có thể là cách học truyền thống chỉ tập trung vào việc nắm được quy tắc và từ
vựng hơn là khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh và ảnh hưởng của kỳ thi viết
cũng cản trở HS quen với việc nói tiếng Anh trong lớp. Chiếm một tỉ lệ phần
7
trăm nhỏ hơn (20%) không tham gia vào HĐ nói vì GV của họ không yêu cầu
và 13% thú nhận rằng chúng sợ mắc lỗi hay bị trêu chọc chế giễu.
Tóm lại, có nhiều yếu tố khác nhau làm cho HS phải đối mặt. Những yếu
tố này xuất phát từ phía HS, GV cũng như các HĐ nói. Để nâng cao hiệu quả
trong giờ nói, cần phải có những thay đổi giữa GV, HS và HĐ nói.
III.2.2. Quan điểm của HS đối với kỹ năng nói trong sách TIẾNG ANH 11.
Bảng 4
HĐ trong SGK. Khi được hỏi lý do tại sao thích những HĐ được sửa đổi thì HS
nói rằng GV đã làm cho các HĐ trong SGK đễ hơn và mang tính giao tiếp hơn
và GV cũng chuẩn bị bài kỹ càng, thường ứng dụng trò chơi, bài hát trong giờ
nói. Điều này gây hứng thú cho HS rất nhiều.
III.2.5. Đánh giá của HS đối với giờ học nói hiện nay.
Bảng7
6.What do you think about your current speaking lessons?
a. Boring. Most of students don’t speak. 74%
b. Interesting. Students speak a lot. 12%
c. Normal 14 %
III.3. Kết quả sau khi quan sát TN
Nhóm ĐC và nhóm TN được dạy 3 bài với cùng nội dung kiến thức. Đối
với nhóm ĐC 3 bài được tiến hành dạy theo đúng các HĐ của SGK. Đối với
nhóm TN, các bài nói được áp dụng dạy theo các HĐ đã được điều chỉnh. Trong
suốt quá trình TN, tác giả và GV tiếng Anh khác quan sát 2 lớp một lần nữa để
tìm ra những thay đổi sự tham gia của HS ở 2 nhóm và đo thời gian tham gia nói
của HS ở 2 nhóm.
III.3.1. Quan sát nhóm ĐC
Tôi đã sử dụng cùng phiếu quan sát lần 2 tại lớp 11A10 và kết quả có thể
được tóm tắt như sau: Không có sự thay đổi trong cách dạy của GV, tất cả các
HĐ trong sách TIẾNG ANH 11 được giữ nguyên. Kết quả thời gian HS và GV
tham gia nói đều giống như lần quan sát trước khi TN. Điều này được minh họa
trong bảng sau:
Bảng8
Nhóm ĐC (số phút)
Bài 1 TTT 20 44%
STT 14 31%
Sự im lặng 11 24%
Bài 2 TTT 21 47%
9
10
No. countries sports
1. 1951 11
2. Philippines 1954
3. 1958 20
4. Indonesia 13
5. 1966 14
6 Thailand 18
7 Iran 25
Card A2:
Games
No.
Host country Year Number of
countries
Number of
sports
1. India 6
2. 18 8
3. Japan 13
4. 1958 20
5. Thailand 18
6 1970 13
7 1974 16
Card B1:
Games
No.
Host country Year Number of
countries
Number of
sports
Asian Games
Participants
No.
Total
medals
Rank Medals of different sports
Sports gold silver bronze
1. Bodybuilding
2. Billiards
3. Karatedo
4. Shooting
5. Wushu
GV chuẩn bị 1 bộ thẻ (Card) cho mỗi nhóm (Mỗi nhóm được phát 1 thẻ)
Card A
Viet nam took part in the 14
th
Asian Games in Busan, Korea in 2002 with 125
athletes and 65 officials.Vietnam won 18 medals in all and ranked 15
th.
Card B
In bodybuilding, Ly Duc won a gold medal and Pham Van Mach won a bronze
medal. In billiards, Tran Dinh Hoa won a gold medal and Duong Hoang Anh a
silver one.”
Card C
The two gold medals and one bronze medal in Karatedo belonged to Vu Kim
Anh, Nguyen Trong Bao Ngoc and Pham Tran Nguyen respectively.
12
Card D
Nguyen Manh Tuong won a bronze medal in shooting. Nguyen Ngoc Oanh and
Nguyen Thi My Duc won a silver and a bronze medal in wushu respectively.
bài về kết quả thi đấu của vận động viên Việt Nam tại Á Vận Hội lần thứ 14.
GV phát cho mỗi HS trong nhóm 1 thẻ trong bộ thẻ. Mỗi HS có những thông tin
khác nhau về 1 hoặc 2 kết quả thi đấu thể thao. 1HS sẽ thông báo những gì
chúng có cho thành viên khác hoàn thành bảng về kết quả thi đấu của vận động
viên Việt Nam tại Á Vận Hội lần thứ 14. GV có thể thấy khó khăn của HS trong
câu mở đầu bài phóng sự vì vậy mà GV có thể đưa ra gợi ý: “Good evening.
Welcome you to our BBC sport news today about Vietnamese performance and
achievements at the 14
th
Asian Games……. HS làm việc theo nhóm khoảng 5
phút sau đó GV gọi 1 số nhóm xung phong trình bày bài phóng sự trước lớp.
Thông thường sau khi HS trình bày, GV sẽ có những nhận xét về ý kiến của HS
và đưa ra phản hồi cuối cùng. Cuối bài học, GV mở 1 bài hát cho HS nghe và
yêu cầu HS cho biết tên. Đó là bài “Vì một thế giới ngày mai” của Quang Vinh.
Là bài hát chính thức của SEA GAMES 22 tại Việt Nam. Bài học kết thúc với
không khí rất ấm cúng và vui vẻ. Kết quả TN được minh họa sau:
Table 9
Nhóm TN (phút)
Điều chỉnh 1
(Adaptation 1)
TTT 14 31%
STT 22 49%
Im lặng 9 20%
III.3.2.2. Điều chỉnh 2 (Adaptation 2):
• Bài được điều chỉnh : Unit 13: Hobbies- B- Speaking,
• Hoạt động được điều chỉnh: task 1 và 3 (trang148 và 149)
• Lý do để điều chỉnh:
Hoạt động 1 (Activity 1) (Task 1, Tiếng Anh 11 trang 148): Thật là nhàm
chán khi hỏi cùng 1 người những câu hỏi: “Do you like to swimming/ fishing/
14
15
Nhớ viết tên người và lý do tại sao họ không thích hoạt động này.
Task 3: GV yêu cầu HS làm việc theo cặp và đóng vai. GV đã sử dụng
những gợi ý trong sách vào Handouts.
Làm việc theo cặp (Work in pairs):
Student A
Your friend is an avid
stamp collector. You want
to take up collecting
stamps as your hobby.
Now ask for his/her
experience, using the
suggestions below:
+ How to collect stamps
+How to organize stamps
+ Where to keep stamps
+ Why to collect stamps
+ Plan for the future
Student B
You are an avid stamp collector. Your friend
wants to take up collecting stamps as his/her
hobby. Share your experience with him/ her,
using the suggestions below:
+ collect stamps:
. Buy from post office.
. Ask member of family, friend, relatives,
postmen.
. Make friends with people overseas.
. Exchange stamps with others.
+Classify stamps into categories:
III.4. Sự tham gia của HS trong nhóm TN và nhóm ĐC ở 3 bài sau giai
đoạn can thiệp.
Bảng 10: Kết quả thời gian tham gia nói của nhóm TN :
Nhóm ĐC (phút) Nhóm TN (phút)
Điều chỉnh 1 TTT 20 44% 14 31%
STT 14 31% 22 49%
Im lặng 11 24% 9 20%
Điều chỉnh 2 TTT 21 47% 15 33%
STT 15 33% 22 55%
17
Im lặng 9 20% 8 18%
Điều chỉnh 3 TTT 21 47% 14 31%
STT 14 31% 21 47%
Im lặng 10 22% 10 22%
Số liệu từ bảng cho ta thấy thời gian tham gia nói của HS trong lớp TN
tăng đáng kể so với nhóm ĐC. HS nhóm TN có thời gian nói kéo dài hơn 7, 8
phút so với nhóm ĐC trong thời gian điều chỉnh 1, 2, và 3. Trái lại thời gian nói
của GV trong nhóm TN lại giảm đi đáng kể so với nhóm ĐC. Chúng ta có thể
thấy rằng trong bài 1 được điều chỉnh, GV nói 20 phút trong nhóm ĐC nhưng
trong nhóm TN GV chỉ nói 14 phút và 2 bài tiếp theo cũng xảy ra tương tự.
Trong khi sự im lặng không thay đổi nhiều trong 2 nhóm. Điều này chỉ ra rằng
các HĐ đã được điều chỉnh có ảnh hưởng lớn tới sự tham gia nói của HS.
III.5. So sánh sự tham gia của HS trước và sau khi TN:
Bảng11: TTT và STT của 2 lớp trước và sau khi TN.
Nhóm ĐC (phút) Nhóm TN (phút)
Trước Sau Trước Sau
TTT 20 21 21 14
STT 14 14 14 22
Im lặng 11 10 10 9
So với số liệu trước và sau khi TN ở bảng 10, chúng ta có thể thấy rằng
Speaking, ngoài các HĐ nói đã được ứng dụng trong 3 bài của sáng kiến này tác
giả với tư cách là GV Tiếng Anh xin có đề xuất thêm 1 số HĐ nói như sau: 1.
19
Information gap; 2. Problem-solving; 3. Role play; 4. Re-written dialogues; 5.
Games; 6. Pair interview.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 26 tháng 5 năm
2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Hà Văn Minh
20