1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là một nhóm bệnh lý rối loạn chuyển hoá, gây tăng
đường huyến mạn tính do thiếu insulin tương đối hoặc tuyệt đối của tuỵ.
Đồng thời nó là một phức hợp rối loạn chuyển hoá gồm glucid, lipid, protid
và điện giải. Nhờ insulin - một chất nội tiết tố - mà lượng đường trong máu ở
người bình thường được kiểm soát rất chặt chẽ và được duy trì ở mức 3,9-
6,4mmol/ml. Khi insulin tiết ra không đủ hoặc insulin hoạt động không hiệu
quả để chuyển glucose thành glycogen - chất dự trữ năng lượng - dẫn đến
lượng đường thừa tích luỹ lại trong máu với nồng độ cao. Cơ thể khắc phục
tình trạng không bình thường này bằng cách thải đường ra nước tiểu, từ đó
có tên "đái tháo đường" hay "tiểu đường".
Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) đã được biết đến từ rất xưa. Người Ai Cập
đã mô tả bệnh này từ 1500 năm trước thiên chúa giáng sinh nh một bệnh lý
có kèm tiểu nhiều [1]. Hiểu biết về bệnh ngày càng tăng dần với thời gian.
Đây là một bệnh nặng gây tổn thương nhiều cơ quan, bệnh thường kéo dài
làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ người bệnh do các biến chứng
mãn tính nhất là khi phát hiện và điều trị muộn. Về phương diện kinh tế xã
hội, ĐTĐ là một gánh nặng cho xã hội, sự điều trị và chăm sóc khá phức tạp
và tốn kém.
ĐTĐ là một bệnh có tình trạng bệnh lý phức tạp khá phổ biến trên thế
giới. Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho biết tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở các nước
đang phát triển sẽ tăng lên nhanh trong 25 năm tới. Tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ
tăng liên quan đến sự gia tăng dân số, tuổi thọ kéo dài, sinh hoạt thiếu lành
mạnh, như ăn uống thái quá, sử dụng thực phẩm chế biến sẵn, Ýt rèn luyện
thân thể, phụ thuộc vào các phương tiện giao thông công cộng. Ên Độ, Trung
Quốc và Mỹ là những quốc gia có số người bị ĐTĐ tăng mạnh. Ở Việt Nam
và Campuchia bệnh ĐTĐ cũng phát triển nhanh có chiều hướng gia tăng nhất
là ở các thành phố lớn.
2
Đường huyết tăng cao kéo dài sẽ gây ra rất nhiều các biến chứng nguy
trường Đại học Dược Hà Nội, nhóm Tổng hợp hoá dược cũng đã nghiên cứu
việc tổng hợp hai sulfamid tiểu đường dẫn xuất của sulfonylurea là
carbutamid và tolbutamid, trong phạm vi luận văn này chúng tôi đặt vấn đề
"Nghiên cứu tổng hợp thuốc điều trị tiểu đường chlorpropamide".
Mục tiêu của luận văn nhằm giải quyết một số vấn đề sau:
- Tổng quan về bệnh, tiểu đường và thuốc điều trị bệnh.
- Nghiên cứu điều chế một số nguyên liệu trung gian sử dụng trong
các phương pháp tổng hợp chlorpropamide.
- Nghiên cứu khảo sát một số phương pháp tổng hợp chlorpropamide.
4
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG.
1.1.1. Định nghĩa
Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hoá gây tăng đường huyết do
giảm bài tiết insulin hoặc giảm hoạt động của insulin hoặc phối hợp cả hai
yếu tố trên, gây tăng đường huyết mạn tính dẫn tới rối loạn chức năng, suy
giảm chức năng và tổn thương rất nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt,thận, thần
kinh, tim và mạch máu [2].
1.1.2. Tần suất [4]
Trên thế giới đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh đã có từ lâu, nhưng đặc biệt
phát triển trong những năm gần đây,bệnh tăng nhanh theo tốc độ phát triển
của nền kinh tế- xã hội theo ước tính của tổ chức y tế thế giới (WHO)
Năm 1994,toàn thế tgiới có 110 triệu người ĐTĐ, năm 1995 tăng lên
135 triệu (4%dân số thế giới). Dự báo năm 2010 có 221 triệu và năm 2025 sẽ
có 300 triệu người ĐTĐ (chiếm 5,4% dân số thế giời).
Khu vực Tây Thái Bình Dương ( trong đó có Campuchia và Việt Nam)
hiện tại có khoảng 30 triệu người mắc bệnh ĐTĐ và dự báo sẽ tăng gấp đôi
vào năm 2025. Điểm đặc biệt quan trọng là bệnh ở khu vực này tăng rất
người trẻ dưới 40 tuổi. Bệnh nhân có thể trạng thấp hơn bình thường và
trong cơ thể không sinh ra được insulin. Nhóm này rất dễ bị hôn mê do máu
bị toan (acid) vì nhiễm chất ceton, nếu bệnh nhân ngừng tiêm insulin mà vẫn
ăn khẩu phần chứa nhiều glucid. Nhóm này được coi là một bệnh di truyền,
gặp ở hầu hết ở trẻ em và tuổi thành niên.
− Nhóm II. Nhóm đái tháo đường không phụ thuộc insulin: Bệnh xuất
hiện ở người lớn hơn 40 tuổi gọi là bệnh đái đường trưởng thành. Cơ thể
6
người bệnh vẫn tiết ra insulin bình thường, nhưng các tổ chức lại không đáp
ứng được với chính insulin tiết ra và cả insulin ngoại sinh. Bệnh có liên quan
đến sự tăng tuổi thọ, nó quan hệ đến một chế độ ăn quá mất cân đối, béo bệu,
và Ýt hoạt động thể lực. Ta có thể điều chỉnh glucose niệu chỉ bằng chế độ ăn
kiêng đi kèm với thuốc hạ glucose huyết. Do đó dạng này gọi là đái tháo
đường không lệ thuộc insulin. Bệnh Ýt khi tiến triển đến hôn mê.
1.1.6. Biến chứng [3]
Bệnh đái tháo đường là một bệnh toàn cơ thể do đó rất nhiều cơ quan bị
ảnh hưởng bởi bệnh này. Người ta xếp biến chứng đái tháo đường làm hai
loại chính: biến chứng cấp tính và biến chứng mạn tính.
− Các biến chứng cấp tính thường gặp:
+ Nhiễm toan ceton
+ Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu
+ Nhiễm toan acid lactic
+ Hạ đường huyết
− Các biến chứng mạn tính:
+ Bệnh lý tim mạch: Thiếu máu cơ tim và nhồi máu cơ tim, rối loạn
lipid và lipoprotein huyết tương, tăng huyết áp.
+ Bệnh lý mắt: Đục thuỷ tinh thể, bệnh lý võng mạc.
+ Bệnh lý thận: Tổn thương cầu thận xơ hoá, suy thận và hoại tử cầu
thận.
+ Bệnh lý bàn chân: Loét và hoại tử bàn chân
hoại tử tăng gấp 20 lần. Do đó vấn đề điều trị đái tháo đường là hết sức cần
thiết.[9]
1.1.8. Chế độ ăn uống cho bệnh nhân đái tháo đường[10]
a/ Mục đích:
8
− Bảo vệ cuộc sống cho người bệnh và làm nhẹ các triệu chứng của
bệnh.
− Giúp cho bệnh nhân có cuộc sống càng bình thường càng tốt.
− Đạt được và duy trì cân bằng chuyển hoá, tránh được các biến chứng
nguy hiểm cho người bệnh.
b/ Nguyên tắc xây dựng:
Sè calo: Cho 30 calo/kg thể trọng đủ để bệnh nhân giữ thể trọng bình
thường (50 kg-1500 calo) hoặc thấp hơn bình thường vài kg.
+ Đối vời người đã béo phì: Chỉ nên cho 1200 calo/ ngày.
+ Đối với người cân nặng bình thường:
Nữ 1500-2000 calo/ngày.
Nam 1800-2500 calo/ngày.
+ Đối với người Ýt hoạt động: 25 calo/kg cơ thể.
Cách phân bổ nh sau:
+ Glucid: 40 % tổng số calo là mức hạn chế mà bệnh nhân sử dụng
được.
+ Protid: Cần phải tăng để đủ calo nhưng không quá nhiều sễ gây nhiễm
toan. Chỉ nên cho từ 1-1,5g/kg thể trọng. Tức là khoảng 15-20% tổng số calo.
+ Lipid: Sau khi tính song glucid, protid sẽ tính lipid để mang đủ lại
calo, vào khoảng 40-45%tổng số calo.
+ Muốn có vị ngọt có thể dùng saccarin hoặc các loại đường hoá học.
+ Sinh tố và muối khoáng cần nhiều.
c/ Cách thực hiện:
− Thức ăn không có hoặc rất Ýt glucid có thể ăn tự do:
+ Thức ăn không có glucid: Thịt, cá, trứng, đậu phụ.
10
Insulin có cấu trúc là hai chuỗi đa peptid, chuỗi A có 21 acid amin,
chuỗi B có 30 acid amin. Hai chuỗi được nối với nhau bằng 3 cầu disulfua.
Trọng lượng phân tử khoảng 48000 đvC, insulin bị phân huỷ bởi enzym
protease nên phải dùng bằng đường tiêm mới có tác dụng.
c/ Tác dụng:
Insulin làm hạ glucose máu, tăng sử dụng glucose ở cơ. Nó thúc đẩy
tổng hợp glycogen và chuyển glucid thành lipid làm giảm phóng thích
glucose từ gan. Insulin thúc đẩy đồng hoá protid bằng cách làm cho
aminoacid dễ dàng vào các tế bào để tạo thành protein [8].
d/ Cơ chế tác dụng:[7]
Hiện nay người ta đã chứng minh là insulin làm cho glucose dễ nhập
vào tế bào. Insulin gắn vào Receptor đặc hiệu trên màng tế bào, quá trình này
sẽ hoạt hoá Tyrosin kinase đặc hiệu của Receptor ở trong tế bào. Và kinase
này lại hoạt hoá protein kinase khác, bằng phản ứng phosphoryl hoá. Cuối
cùng những enzym này có thể phosphoryl hoá nhiều enzym quan trọng khác
nh glucokinase, glycogen synthetase Theo Bandle, đầu tiên có lẽ insulin
làm giảm các acid béo chưa được este hoá ở huyết tương nên tế bào chuyển
sang sử dụng nhiều glucose làm giảm lượng glucose trong máu.
e/ Chỉ định:
− Bệnh đái tháo đường nhóm I và các biến chứng của bệnh đái đường:
chỉ dùng insulin khi chế độ ăn giảm glucid mà không làm hết được glucose
trong nước tiểu. Đối với bệnh nhân đái tháo đường thể gầy (người trẻ) insulin
máu gần như mất hẳn thì chỉ định insulin là bắt buộc.
− Nôn, trẻ gầy yếu kém ăn: dùng phối hợp với glucose.
− Gây sock insulin (làm cơn hạ glucose máu) để chữa một số bệnh tâm
thần kinh
11
f / Chế phẩm:
Bảng 1.1 : Giới thiệu một số loại insulin tiêu biểu
Humulin N
NPH Iletin I
NPH Iletin II
Người (bio)
Bò / lợn
Lợn (TK)
Dưới da
Dưới da
Dưới da
Đục
Đục
Đục
NPH
(Novonordish)
Novolin N
NPH
Người (bio)
Lợn (TK)
Dưới da
Dưới da
Đục
Đục
Lente (lilly)
Humulin L
Regular Iletin I
Regular Iletin II
Người (bio)
Bò / lợn
Lợn (TK)
Dưới da
Liều lượng insulin thường dựa vào lượng glucose đái ra trong 24 giê.
Trung bình bệnh nhẹ dùng 20 đơn vị insulin/24 giờ. Bệnh vừa dùng 20-40
đơn vị insulin/24 giờ. Bệnh nặng dùng trên 50 đơn vị insulin/24 giê.
Mới đây, ở Mỹ các nhà bào chế đã nghiên cứu và đưa ra thử nghiệm
dạng bào chế mới của insulin, đó là dạng khí dung để xịt. Rất tiện sử dụng
cho bệnh nhân vì bệnh nhân có thể tự sử dụng mà lại không gây đau đớn mỗi
khi phải tiêm insulin như trước.
g / các loại Insulin:[4]
Hiện nay trên thị trường có tới hơn 20 loại insulin , bảng sau đây cho
thấy một số sản phẩm đó.
Bảng 1.2 : Insulin phân theo thời gian tác dụng và duy trì [2]
Insulin Bắt đâu tác
dụng
Đỉnh tác
dụng
Thời gian tác dụng
có hiệu quả kéo dài tối đa
Động vật
Regular 30 phót 3 – 4h 3 – 4 6 – 10
NPH 4 – 6h 8 – 14h 16 – 20 16 – 24
Lente 4 – 6h 8 – 14h 16 – 20 16 – 24
Ultralente 8 – 14h rất thấp 24 – 36 24 – 36
Người
Lispron <15 phót 30 phót 3 – 4 4 – 6
Regular 30 phót 2 – 3h 3 – 6 6 – 8
NPH 2 – 4h 6 – 10h 10 - 16 14 - 18
Lente 2 – 4h 6 – 12h 12 - 18 16 - 20
Ultralente 6 – 10h 10 – 16h 18 - 20 20 - 24
Dựa vào thời gian bắn đầu có tác dụng sau khi tiêm, thời gian có tác
dụng duy trì đường máu, người ta chia các loại insulin có tác dụng nhanh ,
Amylin được tổng hợp với tên chế phẩm là Pramlintid tiêm dưới da liều 30-
60 µg có tác dụng kiểm soát tốt đường huyết.
1.2.2. Các thuốc đái tháo đường dùng uống
Nhiều thuốc có tác dụng hạ đường huyết được đưa vào cơ thể bằng
đường uống. Theo cấu trúc và cơ chế tác dụng các chất này được chia thành
5 nhóm nh sau:
1.2.2.1. Các thuốc nhóm dẫn xuất biguanid
a/ Đại cương:
Chất đầu tiên thuộc biguanid tìm thấy có tác dụng hạ đường huyết là
Metformin vào năm 1948. Dẫn xuất biguanid có công thức chung nh sau:
Bảng 1.3: Các thuốc thuộc dẫn chất biguanid
R
2
R
1
C
N NH
2
C
NH
NH
NH
R
2
R
1
Stt Tên thuốc R
1
R
2
sulfamid chống đái đường.
Tác dông phụ của biguanid nói chung Ýt gặp, nếu dùng lâu dài và liều
cao sẽ gây ra một số rối loạn nh đau đầu, giảm hô hấp, toan huyết
c/ Cách dùng:
Tác dụng chính là để dùng cho các bệnh nhân đái đường thuộc nhóm II
mà chế độ ăn giảm calo không thể giải quyết được. Dùng trong những trường
hợp đã kháng lại các thuốc thuộc nhóm sulffonylurea. Không dùng khi có
ceton niệu, khi có bệnh gan, thận hoặc người bệnh đang ở trong tình trạng
thiếu oxy máu cấp như : nhồi máu cơ tim v v
Metformin hiện nay được coi là thuốc hàng đầu trong điều trị đái tháo
đường type II thể béo, với các chế phẩm nh: Metforal, Glucophage, Stagid,
Glucinan.
1.2.2.2. Các thuốc nhóm dẫn xuất sulfamid
a/ Đại cương:
Khái niệm sulfamid chống đái tháo đường xuất hiện từ năm 1942, sau
khi Laubatiere thử nghiệm một loại sulfamid kháng khuẩn trên bệnh nhân
thương hàn thấy có dấu hiệu hạ đường huyết. Nhưng mãi tới năm 1995 người
ta mới thực sự tìm ra những chất có tác dụng điều trị thuộc nhóm dẫn xuất
benzen sulfonylurea với các gốc ankyl có công thức chung là:
SO
2
NHCONHRR
1
Chất đầu tiên được đưa vào điều trị là Carbutamid (R
1
= −NH
2
, R =
n−C
4
+
trong tế bào tăng đột ngột sẽ kích thích hoạt động
của kênh Ca
++
dưới tác động của AMP vòng, Ca
++
vào tế bào tăng. Kích thích
quá trình phosphoryl hoá và giải phóng insulin từ nang tiết vào máu.
Sulfonylurea có tác dụng như một cái khoá hoạt động trên kênh K
+
−ATP và
vì vậy có tác dụng kích thích bài tiết insulin.
c/ Phân loại các sulfamid hạ đường huyết: [11]
Cho đến nay có rất nhiều sulfamid hạ đường huyết đã được khám phá và
đưa vào điều trị. Dựa vào thời gian duy trì tác dụng (nhanh hoặc kéo dài) và
liều dùng mà người ta chia sulfamid hạ đường huyết thành hai thế hệ, thế hệ
một và thế hệ hai.
Các sulfamid hạ đường huyết thế hệ một gồm có: carbutamid,
tolbutamid, phenbutamid, metabutamid, chlorpropamide, tolcyclamid,
acetohexamid, metahexamid, tolazamid. Các sulfamid này là dẫn xuất của
sulfonylurea và có công thức nh trong bảng 1.4
17
Các sulfamid hạ đường huyết thế hệ hai cũng là các dẫn xuất của
sulfonylurea có công thức tổng quát giống như sulfamid hạ đường huyết thế
hệ thứ nhất nhưng được tìm ra trong thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80, nã bao
gồm các phân tử có cấu trúc nhóm thế phức tạp hơn, có mạch cacbon dài
hơn, có hiệu lực tác dụng mạnh hơn và tác dụng kéo dài hơn nên thường mỗi
ngày chỉ phải uống một lần. Các sulfamid hạ đường huyết thế hệ hai gồm có
glypinamid, gliclazid, glibonurid, glyburid, glipizid, glisoxepid, gliquidon. có
công thức nh trong bảng 1.5
4
9
Phanbutamid H H
C H
4
9
Metabutamid H
NH
2
C H
4
9
Chlorpropamide Cl H
C H
3 7
Tolcyclamid
CH
3
H
Acetohexamid
CH CO
3
H
Metahexamid
CH
3
NH
2
Tolazamid
CH
3
HO
H
3
C
CH
3
H
3
C
Gliburid
( glibenclamid, aonil )
OCH
3
CONH
( CH )
2
2
Cl
Glipizid ( glipid )
N
N
H C
3
CONH(CH )
2
2
Glixepid
N
O
Bảng 1.6. Sự hấp thụ và đạo thải của các sulfamid [2]
Stt Tên hoạt chất Biệt dược
Gắn với
protein [%]
Bán hủy
[giê]
Đào thải
1 Acetohexamid Dymelor 6 - 8 Thận
2 Carbutamid Glucidoral 50 – 75 44 thận
40-70%
3 Chlorpropamide Diabines 90 – 95 25 - 40 Thận
4 Glibenclamid Daonil
Maninil
99 7 - 15 thận 60%
mật 30%
5 Glibornurid Glutril 95 8 thận 70%
mật 40%
6 Gliclazid Diamicron 93 12 thận 70%
mật 30%
7 Glipizid Glibenes
Minidiab
92 – 96 3 - 7 thận 90%
mật 10%
8 Glisoxepid pro-
Diaban
17 - 20 thận
mật 55%
9 Tolazamid Tolinase 7 thận 100%
10 Tolbutamid Dolipol 95 4 - 8 thận 70%
mật 30%
125−500
15
Glibenclamid Daonil 5 99 7-15
2,5−15
15
Tolbutamid: được hấp thu nhanh, sau khoảng 3 giờ đạt nồng độ tối đa
trong máu, chuyển hoá nhanh ở gan thành hydroxy và cacboxy tolbutamid;
thải trừ nhanh qua thận nên tác dụng ngắn, cần uống 2-3 lần trong ngày.
Liều dùng bắt đầu: 3g/ngày. Liều các ngày sau 2g/ngày. Khi đường
huyết trở lại bình thường (dưới 1,3g/l máu) thì duy trì ở mức 0,5-1,5g/ngày.
Chlorpropamide: Hấp thu chậm, tác dụng tối đa đạt sau 10 giờ không bị
chuyển hoá, thải trừ nguyên vẹn qua thận, tác dụng kéo dài vài ngày.
Liều bắt đầu: 0,5g/ngày. Liều duy trì 0,1g/ngày.
Glybenclamid: nồng độ tối đa đạt sau 2 giờ, tác dụng kéo dài khoảng 15
giờ. Tốc độ chuyển hoá tăng dần theo thời gian dùng thuốc, vì vậy điều trị
lâu dài tác dụng của nó bị giảm dần. Khi rối loạn chức năng gan và thận tốc
độ chuyển hoá và thải trừ giảm đi.
Liều bắt đầu: 1,25-7,5 mg/ngày, chia vài lần.
e/ Chỉ định và chống chỉ định của các sulfamid hạ đường huyết
Chỉ định : ĐTĐ type II khi áp dụng chế độ ăn đơn thuần không kiểm
soát được đường huyết.
Chống chỉ định :
- ĐTĐ type I
21
- ĐTĐ type II có các biến chứng nặng kèm theo : suy gan suy thận ,
nhiễm trùng, hôn mê do rối loạn chuyển hóa năng ( Nhiễm toạn )
- Có thai
- Dị ứng thuốc
- Đối với các trường hợp cần phấu thuật, giai đoạn phẫu thuật nên dùng
insulin điều trị
− Có kèm theo một số biến chứng nh nhiễm trùng, suy tụy, cường
adrenalin.
Khi dùng thuốc không được dừng đột ngột mà phải giảm dần liều.
h / Một số nghiên cứu khác liên quan đến chlorpropamide và dẫn xuất
sulfamid hạ đường huyết:
Mặc dù các sulfamid hạ đường huyết đã được đưa vào sử dụng trong
điều trị bệnh tiểu đường gần nửa thế kỷ nay nhưng những khám phá về nó
không ngừng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Chỉ tính riêng
chlorpropamide từ năm 1987 đến nay qua hệ thống Medline đã có trên 160
bài báo nghiên cứu liên quan tới nó về cơ chế tác dụng [14] [15], về tương
tác của chlorpropamide với các thuốc khác [16] [17], về dược động học [18],
về độc tính [19], về ảnh hưởng khác nhau của thuốc đến lứa tuổi [20], về ảnh
hưởng của thuốc tới HbA
1
trong quá trình sử dụng [21], về so sánh hiệu lực
tác dụng của một số thuốc thuộc dẫn xuất sulfonylurea [22], về tác dụng của
sulfamid hạ đường huyết đến sự dung nạp rượu [23], về mét số sinh khả dụng
và sinh dược học [24].
1.2.2.3. Các thuốc nhóm ức chế men
α
- glucosidase [4]
23
Các thuốc loại này có tác dụng ngăn không cho hấp thu glucose vaò
máu. Vì thế có ưu điểm là không có nguy cơ gây hạ đường máu, không gây
tăng cân ( nh : insulin và các sulfamid hạ đường huyết khác ).
Ngày nay trên thị trường xuất hiện một số thuốc ức chế men
α
-
Glucosidase có tác dụng gây hạ đường huyết sau đây:
a/ Acarbose (glucobay):
đường bằng cánh ức chế cạnh tranh men
α
-Glucosidase ruột và các yếu tố
enzym ở ruột non có nhiệm vụ tách các đường phức thành các đường đơn.
Kết quả là kéo dài thời gian giáng hóa đa phân tử các đường đôi dẫn đến việc
tiêu hóa các đường này bị chậm lại.
Thuốc có tác dụng ức chế glucosidase ở rìa bàn chải niêm mạc ruột
non.
Ngoài ra còn ức chế các enzym thuỷ phân đường đa ở ruột, do vậy làm
giảm hấp thu glucose gây hạ đường huyết.
-Chỉ định : - Dùng kết hợp với chế độ ăn kiêng trên bệnh nhân đái tháo
đường type I và type II.
24
-Chống chỉ định : - Nhạy cảm với Acarbose hoặc các thành phần khác
- Bệnh nhân dưới 18 tuổi
- Các bệnh lý ruột mạn tính có giảm tiêu hóa và giảm hập thụ nặng
-Tác dụng phụ : - đau bụng ỉa chảy v v
b / Voglibose (Bazen)
Công thức cấu tạo của voglibose [25]
OH
OH
HO
HO
OH
HN
OH
OH
Ức chế
α