1. HỌC PHẦN: TRIẾT HỌC DUY
VẬT BIỆN CHỨNG.
Bằng lý luận triết học duy vật biện
chứng và thực tiễn cách mạng
Việt Nam, đồng chí hãy phân tích
luận điểm sau đây của Đảng ta:
“Tiến hành đổi mới xuất phát từ
thực tiễn và cuộc sống xã hội Việt
Nam, tham khảo kinh nghiệm tốt
của thế giới, không sao chép bất
cứ một mô hình có sẵn nào…”.
(VK ĐH ĐCS VN lần thứ IX, Nxb
CTQG, HN-2001, tr 81).
Bài làm
Sự gắn kết giữa nhận thức lý luận
và hoạt động thực tiễn luôn là một
đòi hỏi cấp bách và là một phương
thức để mang đến thành công cho
hoạt động của mỗi cá nhân, của tổ
chức và của một chính đảng.
Nhận thức đúng và giải quyết hợp
lý mối quan hệ biện chứng tác
động qua lại của lý luận và thực
tiễn, dùng lý luận làm kim chỉ nam
cho hoạt động thực tiễn, tổng kết
thực tiễn để phát triển lý luận, thực
tiễn phải là cơ sở, động lực của
nhận thức và tiêu chuẩn của chân
lý là chìa khóa để giải quyết
mọi vướng mắc trên con đường đi
đến mục tiêu đã định. Ngược lại,
động biến đổi chính trị xã hội và
hoạt động thực nghiệm khoa học.
Trong đó, hoạt động SX vật chất là
hoạt động có ý nghĩa quyết định
các hình thức khác, hoạt động
biến đổi chính trị xã hội là hình
thức cao nhất và hoạt động thực
nghiệm khoa học là hình thức đặc
biệt nhằm thu nhận những tri thức
về hiện thực khách quan.
Lý luận xuất phát từ hoạt động
nhận thức của con người, nó là
sản phẩm của sự phát triển cao
của nhận thức đồng thời thể hiện
trình độ cao của nhận thức. Xét về
mặt bản chất, lý luận là một hệ
thống tri thức chặt chẻ mang tính
trừu tượng, khái quát , đúc kết từ
thực tiễn thông qua các khái niệm,
phạm trù, nguyên lý, quy luật
phản ánh bản chất và xu hướng
vận động phát triển của sự vật,
hiện tượng trong thết giới khách.
Quan. Vì vậy, bản chất của lý luận
là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan. Theo Hồ Chí Minh
“Lý luận là sự tổng kết kinh
nghiệm của loài người, sự tổng
hợp những tri thức về tự nhiên, xã
hội đã được tích lũy lại trong quá
mới có sức mạnh cải tạo hiện
thực. Thiếu thực tiễn thì sẽ không
có lý luận hoặc sẽ không có lý
luận hoặc lý luận sẽ khô cằn, cứng
nhắc, không được bổ sung, phát
triển, không được kiểm nghiệm
tính đúng sai, đó sẽ là lời nói
suông không có ý nghĩa. V.I Lênin
đã viết “Thực tiễn cao hơn nhận
thức, lý luận. Vì nó có ưu điểm
không những của tính phổ biến
mà còn của tính hiện thức trực
tiếp” .
Lý luận mặc dù được hình
thành từ thực tiễn nhưng nó có vai
trò tác động trở lại đối với thực
tiễn. Sự tác động của lý luận thể
hiện qua vai trò hướng dẫn, chỉ
đạo, soi sáng cho thực tiễn, vạch
ra mục tiêu, khuynh hướng cho
hoạt động thực tiễn, dự báo dự
đoán tình hình và phương hướng
hoạt động thực tiễn trong tương
lai, giúp hoạt động thực tiễn đi đến
thành công. Những tri thức về bản
chất và quy luật của khách thể do
lý luận đem lại có ý nghĩa to lớn
trong hoạt động thực tiễn vì hoạt
động thực tiễn chỉ có hiệu quả khi
nó tuân theo các quy luật khách
sự vật hiện tượng phải gắn với
thực tiễn, phải theo sát sự phát
triển của thực tiễn để điều chỉnh
nhận thức cho sự phù hợp với sự
phát triển của thực tiễn, hiệu quả
của thực tiễn để kiểm tra những
kết luận của nhận thức, kiểm tra
những luận điểm của lý luận.
Quan điểm thực tiễn cũng đòi hỏi
những khái niệm của chúng ta về
sự vật phải được hình thành, bổ
sung và phát triển bằng con
đường thực tiễn, trên cơ sở thực
tiễn chứ không phải bằng con
đường suy diễn thuần túy, không
phải bằng con đường tự biện.
Lý luận phải được phát huy vai trò
trong mọi hoạt động thực tiễn. Do
thực tiễn luôn vận động và phát
triển nên phải thường xuyên, tổng
kết quá trình vận dụng lý luận vào
thực tiễn, xem nó thừa thiếu nhằm
bổ sung phát triển nó cho phù
hợp.
Nắm vững quan điểm thực tiễn
và lý luận có ý nghĩa quan trọng
trong việc góp phần xây dựng một
đường lối chính sách đúng đắn,
tránh được bệnh kinh nghiệm và
bệnh giáo điều trong tư duy và
bộ phận, từng mặt mà thôi và
người chỉ ra rằng ''Có kinh nghiệm
mà không có lý luận cũng như một
mắt sáng, một mắt mờ''.
Mặt khác, thái độ thực sự coi
trọng lý luận đòi hỏi phải ngăn
ngừa bệnh giáo điều chủ nghĩa.
Bệnh giáo điều chủ nghĩa là tuyệt
đối hóa lý luận, coi thường kinh
nghiệm thực tiễn, xem lý luận là
bất di bất dịch, việc nắm lý luận
chỉ dừng lại ở những nguyên lý
chung trừu tượng, không chú ý
đến những hoàn cảnh lịch sử cụ
thể của sự vận dụng lý luận. Bệnh
giáo điều có 2 dạng : giáo điều lý
luận và giáo điều kinh nghiệm.
Bệnh giáo điều lý luận là việc
thuộc lòng lý luận, cho rằng áp
dụng lý luận áp dụng vào đâu
cũng được, không xem xét điều
kiện cụ thể của mình. Bệnh giáo
điều kinh nghiệm là việc áp dụng
nguyên si rập khuôn mô hình của
nước khác, của địa phương khác
vào địa phương mình mà không
sáng tạo, chọn lựa …
Ở Việt Nam chúng ta, một trong
những nguyên nhân dẫn đến tình
trạng trì trệ, khủng hoảng của
thường chỉ xuất phát từ lòng mong
muốn đi nhanh, không tính đến
điều kiện khả năng thực tế.
Sự nhận thức giản đơn, yếu kém
trong việc vận dụng xơ cứng lý
luận vào trong còn thể hiện ở việc
hiểu và vận dụng chưa đúng các
quy luật khách quan đang tác
động trong thời kỳ quá độ ở nước
ta (quy luật quan hệ sản xuất phải
phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất,
các quy luật sản xuất hàng hoá,
quy luật thị trường ), quá nhấn
mạnh một chiều vai trò của quan
hệ sản xuất, của chế độ công hữu,
chế độ phân phối bình quân,
không thấy đầy đủ yêu cầu phát
triển lực lượng sản xuất trong thời
kỳ quá độ.
Mặt khác, duy trì quá lâu cơ chế
kế hoạch hóa tập trung bao cấp,
quá tập trung quyền lực nhà nước,
dùng kế hoạch pháp lệnh để chỉ
huy toàn bộ nền kinh tế đất nước,
bao cấp trong phân phối làm
cản trở sự sáng tạo, tạo nên sự
bảo thủ trì trệ của đời sống xã hội.
Cũng trong thời kỳ này chúng ta
đồng nhất kinh tế thị trường với
động và kém hiệu quả. Những mất
cân đối và nguy cơ bất ổn định
tiềm tàng trong đời sống kinh tế -
xã hội bị tích nén lại Tình trạng
thiếu hụt kinh niên làm gia tăng
các căng thẳng trong đời sống xã
hội. Lòng tin của quần chúng đối
với sự lãnh đạo của Đảng và sự
điều hành của Nhà nước giảm sút.
Trên thực tế, đến cuối những năm
70, đất nước đã thực sự lâm vào
cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Vấn đề cấp bách đặt ra cho Đảng
cộng sản và Nhà nước Việt Nam
lúc này là tìm kiếm cách thức phát
triển mới có khả năng đáp ứng
các mục tiêu của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó
quan trọng nhất là phải tháo gỡ
các ràng buộc về cơ chế và thể
chế để giải phóng các nguồn lực
phát triển của đất nước.
Nhận thức được những sai lầm
trên, từ ĐH Đảng lần VI (1986)
Đảng đã khởi xướng công cuộc
đổi mới toàn diện tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội, trong đó
có mọi phương hướng đổi mới
phải xuất phát từ thực tiễn như
Văn kiện Đại hội VI của Đảng đã
những tìm kiếm, phát triển lý luận
về CNXH, con đường và các giải
pháp xây dựng CNXH ở mỗi nước
có thể là kinh nghiệm tham khảo
chứ không thể áp dụng máy móc,
rập khuôn. Hồ Chí Minh cũng
nhấn mạnh rằng “phải có sự kết
hợp biện chứng giữa việc chú
trọng đặc điểm riêng của dân tộc
với giá trị phổ biến trong kinh
nghiệm các nước”. Người chỉ rõ
“đặc điểm to nhất của ta trong thời
kỳ quá độ là từ một nước nông
nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên
CNXH, không phải kinh qua giai
đoạn phát triển TBCN”, vì vậy
Người nhắc nhở rằng “đứng về
mặt xây dựng CNXH, tuy chúng ta
đã có những kinh nghiệm dồi dào
của các nước anh em, nhưng
chúng ta cũng không thể áp dụng
những kinh nghiệm ấy một cách
máy móc, bởi vì nước ta có những
đặc điểm riêng của ta”. Xuất phát
từ thực tế nước ta và quy luật về
quan hệ sản xuất - lực lượng sản
xuất, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong
giai đoạn quá độ đi lên CNXH, sự
tồn tại của nhiều thành phần kinh
tế với nhiều hình thức sở hữu
sản xuất hiện đại và chế độ công
hữu về các tư liệu sản xuất chủ
yếu, có nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, con người
được giải phóng khỏi áp bức, bóc
lột, bất công, làm theo năng lực,
hưởng theo lao động, có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có
điều kiện phát triển toàn diện cá
nhân, các dân tộc trong nước bình
đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn
nhau cùng tiến bộ, có quan hệ
hữu nghị và hợp tác với nhân dân
tất cả các nước trên thế giới. Sáu
đặc trưng nêu trên thể hiện bản
chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ
nghĩa mà nhân dân ta sẽ xây
dựng
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo
những nguyên lý của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tổng kết kinh nghiệm
thành công và cả kinh nghiệm
chưa thành công trong thực tiễn
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta và các nước khác, đặc biệt là
những kinh nghiệm của những
năm đổi mới, Đảng ta đã nêu ra
những phương hướng cơ bản xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta,
gồm:
cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước. Kinh tế quốc
doanh và kinh tế tập thể ngày
càng trở thành nền tảng của nền
kinh tế quốc dân. Thực hiện nhiều
hình thức phân phối, lấy phân phối
theo kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế là chủ yếu".
Bốn là, "tiến hành cách mạng
xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư
tưởng và văn hóa làm cho thế giới
quan Mác - Lênin và tư tưởng,
đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ
đạo trong đời sống tinh thần xã
hội. Kế thừa và phát huy những
truyền thống văn hóa tốt đẹp của
tất cả các dân tộc trong nước, tiếp
thu những tinh hoa văn hóa nhân
loại, xây dựng một xã hội dân chủ,
văn minh, vì lợi ích chân chính và
phẩm giá con người, với trình độ
tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm
mỹ ngày càng cao. Chống tư
tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái
với những truyền thống tốt đẹp
của dân tộc và những giá trị cao
quý của loài người, trái với
phương hướng đi lên chủ nghĩa
xã hội".
Năm là, "thực hiện chính sách
nghĩa ở nước ta"
Sau gần 20 năm thực hiện công
cuộc đổi mới đó, có thể nói rằng
mỗi Đại hội Đảng là một dịp để
Đảng và Nhà nước ta tổng kết
thực tiễn, nâng tầm lý luận, làm
căn cứ cho việc hoạch định đường
lối, chính sách phù hợp cho từng
giai đoạn. Những thành tựu tổng
kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận
đã cung cấp nhiều luận cứ khoa
học cho việc hoạch định đường
lối, chính sách của Đảng; góp
phần vào những thành công rất to
lớn của Đảng và nhân dân ta trong
công cuộc đổi mới, tạo thế và lực
mới cho đất nước. Tổng Bí thư
Nông Đức Mạnh khi phát biểu bế
mạc Hội nghị lần thứ 11 Ban chấp
hành Trung ương khóa IX đã
nhấn mạnh : “Nhìn lại 20 năm đổi
mới, chúng ta nhất trí rằng, thành
tựu đạt được là to lớn, toàn diện
và có ý nghĩa lịch sử, trên cả hai
mặt thực tiễn và lý luận. So với 20
năm về trước, đất nước ta đã có
sự thay đổi cơ bản và toàn diện :
đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế -
xã hội, kinh tế tăng trưởng tương
đối nhanh, bước đầu hình thành
những biến đổi trên thế giới
nhanh chóng, phức tạp, khó lường
thì những vấn đề mới đặt ra ngày
càng nhiều, trong đó có những
vấn đề liên quan đến nhận thức về
CNXH và con đường xây dựng
CNXH. Không ít vấn đề về nhận
thức lý luận còn chưa đủ rõ; không
ít vấn đề về thực tiễn, nhất là
những vấn đề bức xúc nảy sinh từ
cuộc sống, chưa được giải quyết
kịp thời và tốt nhất. Do vậy, “chỉ có
tăng cường tổng kết thực tiễn phát
triển lý luận thì công cuộc đổi mới
mới trở thành hoạt động chủ động
và sáng tạo, bớt được những sai
lầm và những bước đi quanh co
phức tạp”_Văn kiện Đại hội Đảng
lần thứ VII.
Trên cơ sở đó Văn kiện Đại hội IX
tiếp tục chỉ rõ : “Đẩy mạnh tổng
kết thực tiễn và nghiên cứu lý
luận, thảo luận dân chủ, sớm làm
rõ và kết luận những vấn đề mới,
bức xúc nảy sinh từ thực tiễn;
từng bước cụ thể hóa, bổ sung
phát triển đường lối, chính sách
của Đảng, đấu tranh với khuynh
hướng, tư tưởng sai trái” ”(Văn
kiện Đại hội IX, trang 141). Chỉ có
bớt công gai, gập ghềnh.