ĐỀ TÀI: GIÚP HỌC SINH TIẾP CẬN TÁC GIẢ NGUYỄN DU
BẰNG PHƯƠNG PHÁP TỰ NGHIÊN CỨU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Không có tác giả văn học sẽ không có nền văn học với những đỉnh
cao. Sự xuất hiện của tác giả văn học và nghiên cứu về tác giả văn học
góp phần làm sáng tỏ những quy luật vận động, hình thành và phát triển
của một nền văn học. Muốn trở thành tác giả văn học, nhà văn phải dành
được vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nền văn
học dân tộc. thành tựu của tác giả văn học không chỉ là số lượng tác
phẩm và sự phong phú về thể loại mà còn là chất lượng tác phẩm, trong
đó những tác phẩm tốt góp phần khẳng định một khuyng hướng, trào lưu
định mốc cho sự hình thành và phát triển của nền văn học.
Nhà văn, nhà thơ là nghệ sĩ sáng tác văn học. Nghệ sĩ viết văn chân
chính là những người có tâm hồn giàu xúc cảm; có tình yêu tha thiết, sâu
nặng đối với cuộc sống con người ; có trí tưởng tượng sáng tạo mãnh
liệt; có năng lực trí tuệ sắc bén; một khả năng quan sát và tự quan sát tinh
tế, … Trên cơ sở những phẩm chất ấy, nghệ sĩ viết văn không ngừng tu
dưỡng để tạo cho mình một tài năng nghệ thuật cao. Trong sáng tác văn
học, tài năng nghệ thuật là kết quả tổng hợp kết tinh từ nhiều yếu tố: thế
giới quan lành mạnh, tích cực, vốn sống phong phú, vốn văn hóa uyên
bác và chủ động, thành thạo trong sử dụng ngôn ngữ và tổ chức tác phẩm
nghệ thuật ngôn từ.
Nhận thấy tầm quan trọng lớn lao của nhà văn, nhà thơ trong tiến
trình phát triển của văn học nước nhà, hơn nữa Nguyễn Du lại là một đại
thi hào của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới nên tôi quyết định
tìm hiểu, lựa chọn những phương pháp phù hợp nhất, đạt hiệu quả cao
nhất để giúp học sinh tiếp cận với tác giả một cách hứng thú, hiệu quả và
sáng tạo. Những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học là yêu
cầu quan trọng nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, phát huy
tính chủ động sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên, đổi mới phải phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả
học. Mà tác giả văn học lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống
văn hóa, văn học của mỗi quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên việc giảng dạy
phần tác giả lại khô khan và dễ gây nhàm chán cho người học.
2
Từ những vấn đề trên mà tôi đã mạnh dạn áp dụng phương pháp tự
nghiên cứu vào giảng dạy bài tác giả NGUYỄN DU để giúp học sinh tiếp
cận một cách tốt nhất với tác giả Nguyễn Du - một đại thi hào dân tộc,
một danh nhân văn hóa của thế giới. Đồng thời để phát huy tính tự học và
tư duy sáng tạo của học sinh. Tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích tìm
ra những phương pháp tối ưu nhất cho bài học nhằm đạt được mục đích
cao và nâng cao chất lượng giờ dạy, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho
giáo viên. Làm tốt công tác này sẽ kích thích tinh thần tự học của học
sinh, tạo không khí sôi nổi cho giờ dạy.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận của vấn đề
1.1. Khái niệm phương pháp
Phương pháp dạy học là cách thức hành động có trình tự, phối
hợp tương tác với nhau của giáo viên và của học sinh nhằm đạt được
mục đích dạy học.
Nói cách khác phương pháp dạy học là hệ thống những hành động
có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên nhằm tổ chức hoạt
động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh nhằm đảm bảo cho
họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính như vậy mà đạt được mục đích dạy
học.
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp
học với sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy đóng vai trò
chủ đạo, còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi
phối của phương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp
dạy.
1.2. Khái quát về phương pháp tự nghiên cứu
Bài dạy tác giả văn học là kiểu bài có thể vận dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu văn học và giảng dạy văn học một cách rộng
rãi. Trước hết đó là những phương pháp kết hợp tri thức khái quát (nhận
định, quan điểm…) với tri thức cụ thể (tư liệu về đời sống và sáng tác tác
phẩm ) để hình thành tri thức lí luận văn học (những quy luật văn học sử,
quy luật sáng tác và quy luật tiếp nhận văn học).
Dù cho thức kiến thức đưa vào sách giáo khoa đã được cân nhắc
đến từng câu, từng chữ, nhưng người giáo viên có trình độ vẫn không bao
4
giờ “bê nguyên si” tri thức ấy truyền lại cho học sinh, mà thường làm
“sinh động hóa” những tri thức ấy bằng những dẫn chứng minh họa văn
chương, bằng những hiện tượng, sự kiện văn học cụ thể.
Phương pháp tự nghiên cứu là phương pháp học sinh làm việc một
mình với sách giáo khoa dưới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên theo
nhiệm vụ học tập do giáo viên đề ra.
*. Nghiên cứu sách giáo khoa
Sách là nguồn tri thức vô tận và đa dạng, là phương tiện quan trọng
để nhận thức thế giới xung quanh, vì nó phản ánh những kinh nghiệm đã
được loài người khái quát hoá, hệ thống hoá trong suốt quá trình phát
triển lịch sử của mình. René Descartes, nhà triết học, nhà khoa học tự
nhiên người Pháp đã nói: “Đọc một cuốn sách tốt, khác nào như trao đổi
ý kiến với các nhân vật ưu tú của các thế kỷ đã qua, và hơn nữa, cuộc
trao đổi này hoàn toàn bổ ích vì những con người ưu tú này chỉ thông
báo cho chúng ta những tư tưởng cao quý của mình”.
Vì vậy, phương pháp tự nghiên cứu sách giáo khoa có một vị trí
quan trọng không chỉ trong việc lĩnh hội tri thức mà còn làm cho học sinh
hình thành cách đọc sách. Nhờ đó mà học sinh có thể tiến hành học tập
liên tục, học tập suốt đời – một yêu cầu cấp bách trước sự bùng nổ thông
tin như hiện nay.
Bản chất của phương pháp này là sử dụng sách giáo khoa trong quá trình
+ Kỹ năng, kỹ xảo trích ghi.
+ Kỹ năng, kỹ xảo ghi tóm tắt.
Những kỹ năng, kỹ xảo này được hình thành và hoàn thiện dần
trong quá trình sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác tại lớp
và ở nhà với điều kiện ở lớp giáo viên đề ra những yêu cầu phải thực hiện
nghiêm túc, có sự kiểm tra chặt chẽ với những chỉ dẫn rõ ràng, tỉ mỉ, có
hệ thống và học sinh tích cực, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập
đề ra.
2. Thực trạng vấn đề
Thực tế chung những năm gần đây, việc học sinh không tha thiết,
thậm chí còn quay lưng lại đối với môn Ngữ văn trong nhà trường THPT
là một thực trạng đáng báo động. Thực tế dạy học cho thấy: việc đổi mới
phương pháp dạy học chỉ mới dừng lại ở chủ trương, ở khẩu hiệu hô hào
chứ chưa thực sự đi vào thực tiễn một cách sâu sát. Thỉnh thoảng vẫn có
6
những giáo viên nỗ lực tìm con đường đi sao cho tiết dạy của mình đạt
hiệu quả cao nhất. Nhưng số đó không phải là nhiều. Đa phần họ đều
giảng dạy theo phương pháp cũ lâu nay đã làm, từ đó dẫn đến tình trạng
chán học, ngại học ở học sinh. Các em luôn nghĩ văn là đọc chép, văn là
nhiều chữ, dài dòng mà không biết rằng văn học vốn rất gần gũi với cuộc
sống, cuộc sống thì bao giờ cũng bề bộn và vô cùng phong phú. Mỗi tác
phẩm văn chương là một mảng cuộc sống đã được nhà văn chọn lọc phản
ánh. Vì vậy môn văn trong nhà trường có một vị trí rất quan trọng: nó là
vũ khí thanh tao đắc lực có tác dụng sâu sắc đến tâm hồn tình cảm của
con người, nó bồi đắp cho con người trở nên trong sáng, phong phú và
sâu sắc hơn.
Thực tế bài dạy: đây là một bài nghiên cứu về tác giả văn học,
được viết theo phong cách ngôn ngữ khoa học. Trong bài nghiên cứu này,
tác giả đã giới thiệu thân thế và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du,
một nhà thơ nhân đạo tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối
trình bày trước sự nghiệp văn học. Lịch sử văn hóa nhân loại luôn luôn
gắn chặt với sự sáng tạo của con người. Việc trình bày trước sau như vậy
hàm chứa tính hợp lý tự nhiên, đồng thời thể hiện mối quan hệ đúng đắn
giữa con người với sản phấm sáng tạo. Sản phẩm dù có tinh xảo như
người máy thì vẫn thấp hơn người sáng tạo ra nó. Tác giả văn học đâu
phải chỉ là người sản xuất ra sản phẩm cho xã hội. Đó là một nghệ sỹ,
một nhân cách có những nét riêng. Vì vậy, cần thiết phải tìm hiểu cuộc
đời tác giả Nguyễn Du với tư cách “Tổng hòa các mối quan hệ xã hội”
(Mác) trong khi giảng dạy.
Trong cuộc đời tác giả Nguyễn Du, chúng ta cần thiết phải cho học
sinh tìm hiểu về các yếu tố gia đình, quê hương, thời đại xã hội và cuộc
đời riêng đã góp phần hình thành nên thiên tài Nguyễn Du.
- Sự nghiệp văn học
Yếu tố đầu tiên làm nên vị trí, vai trò của một tác giả trong lịch sử
văn học chính là sự nghiệp văn học. Phần sự nghiệp văn học giữ vai trò
quan trọng trong phần bài dạy. Xét tác gia văn học như một chỉnh thể văn
học sử thì phải chú ý đầy đủ mối quan hệ cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
với tuổi thọ của những trang sách và hoạt động nhà văn để lại. Như vậy,
chúng ta đều thấy Nguyễn Du và Truyện Kiều đều đã trở thành bất hủ
trong lòng độc giả xưa và nay.
8
Trong khi trình bày về thành tựu văn học, tôi không chỉ dừng lại ở
liệt kê tác phẩm mà có thể phân tích một số tác phẩm chính như Truyện
Kiều, Văn chiêu hồn, … để soi sáng những nhận định văn học sử và lý
luận văn học có liên quan.
Cống hiến quan trọng của Nguyễn Du là tác phẩm Truyện Kiều, một tác
phẩm đủ sức làm rõ nét một phong cách nghệ thuật đã được định hình và
đem đến cho nền văn học dân tộc một cá tính sáng tạo độc đáo, một tiếng
nói riêng không ai thay thế được.
Bài học tác gia văn học nói chung và Nguyễn Du nói riêng tạo nên
dưới sự giám sát trực tiếp của mình. Sau khi học sinh tự nghiên cứu và
tóm tắt những nội dung chính vào vở, giáo viên tiến hành kiểm tra dưới
hình thức vấn đáp (đàm thoại) Tương ứng với mỗi phần, giáo viên có thể
đưa ra các câu hỏi để kiểm tra và kích thích học sinh trả lời nhằm biết
được mức độ lĩnh hội nội dung và qua đó có biện pháp mở rộng hoặc đào
sâu những kiến thức hoặc sửa chữa những điều mà học sinh chưa hiểu
đúng.
3.2.2. Đề xuất hướng triển khai bài giảng TRUYỆN KIỀU – tiết
80: Phần một tác giả NGUYỄN DU
- Ổn định lớp
- Kiểm tra bài cũ
- Dạy bài mới:
Hoạt động của Giáo viên
và Học sinh
Yêu cầu cần đạt
Giáo viên yêu cầu
học sinh đọc, tóm tắt nội
dung chính của bài học
trong sách giáo khoa.
Giáo viên gợi ý cách đọc và
trình tự bài học
- GV: Hãy lý giải sự hình
thành thiên tài văn học
Nguyễn Du từ sự tác động
của ba yếu tố: quê hương,
gia đình; thời đại – xã hội;
cuộc đời riêng ?
- GV phát vấn :
I. CUỘC ĐỜI
Nguyễn Du (1765- 1820), tên chữ là Tố
đưa cuộc đời Nguyễn Du về
đâu.
Giáo viên: 1802 Nguyễn
Ánh lật đổ nhà Tây Sơn để
lập triều Nguyễn
- HS : đọc kĩ SGK, nắm
vững lượng thông tin đã
được cung cấp để hiểu rõ
ảnh hưởng của hoàn cảnh
lịch sử - xã hội, các yếu tố
thuộc gia đình, đời sống
riêng đối với sự nghiệp sáng
tác của Nguyễn Du?
- HS lần lượt trả lời
Sông Rum (Lam) hết nước, họ này hết
quan”.
Nguyễn Du có điều kiện tiếp nhận
truyền thống văn hóa quý báu của gia
đình và nhiều vùng quê khác nhau. Đó
là tiền đề cho sự phát triển tài năng của
thơ ông sau này.
- Dòng họ Nguyễn Tiên Điền của
Nguyễn Du ở Hà Tĩnh nổi tiếng là dòng
họ “tấu thư” (đội sách), học hành giỏi
giang, đời đời đỗ đạt, làm quan và có
truyền thống trước tác.
- Vợ Nguyễn Du là con gái Đoàn
Nguyễn Thục – Đốc trấn Nghệ An.
Dòng họ Đoàn Nguyễn ở Quỳnh Côi,
trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Thái
gửi lại hậu thế. Điều đáng
khâm phục ở ông là từ một
quý tộc thất thế đã vươn lên
thành một nhà văn thiên tài.
được sống trong không khí một gia
đình phong kiến quý tộc bậc nhất ở
Kinh đô Thăng Long. Đây là quãng
thời gian có nhiều điều kiện thuận lợi
nhất để cậu ấm Nguyễn Du dùi mài
kinh sử, tích lũy vốn văn hóa, văn học,
làm nền tảng cho sáng tác văn chương
sau này. Đồng thời, đó cũng là dịp để
Nguyễn Du hiểu rõ bản chất hàng quan
lại đương thời cùng với cuộc sống
phong lưu của giới quý tộc phong kiến.
Tất cả những điều đó đã để lại dấu ấn
đậm nét trong các sáng tác của Nguyễn
Du.
- Mười năm gió bụi lang thang ở quê
vợ, rồi quê hương trong nghèo túng.
- Từng mưu đồ chống Tây Sơn thất bại,
bị bắt rồi được tha, về ẩn dật ở quê nội.
Quãng đời mười tám năm ra làm quan
cho nhà Nguyễn cũng ảnh hưởng lớn
đến sáng tác của ông. Làm quan lần
lượt qua nhiều địa phương, từ Hưng
Yên đến Thường Tín, Hà Tây, vào
Quảng Bình, Huế, ông có dịp hiểu rõ
hơn cuộc sống của nhân dân trên nhiều
địa bàn rộng lớn. Làm Chánh sứ đi
HS: nhớ và nhắc lại kiến
thức đã học ở bậc THCS
xem chân tay mình đã lạnh cả chưa, khi
người nhà trả lời đã lạnh cả rồi, ông chỉ
nói “được” rồi mất, không trối lại một
điều gì.
Kết luận:
Nguyễn Du đã sống cuộc đời đầy
bi kịch của một người tài hoa bất đắc
chí, phải nếm trải bao đắng cay thăng
trầm, một trái tim nghệ sĩ bẩm sinh và
thiên tài, …Tất cả đã ảnh hưởng sâu
sắc đến sự nghiệp văn học của ông, tạo
ra những nét riêng độc đáo trong thơ
văn Tố Như.
II. SỰ NGHIỆP VĂN HỌC
1. Các sáng tác chính.
a. Sáng tác bằng chữ Hán
- Sưu tầm được 249 bài.
- Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của
Thanh Hiên): 78 bài, viết chủ yếu trong
những năm tháng ở quê vợ Thái Bình.
- Nam trung tạp ngâm ( Những bài thơ
ngâm ở phương Nam): 40 bài, viết lúc
làm quan cho nhà Nguyễn ở Huế,
Quảng Bình.
- Bắc hành tạp lục ( Ghi chép trong
chuyến đi sứ): 131 bài, sáng tác trong
chuyến đi sứ Trung Quốc.
=> Thơ chữ Hán của Nguyễn Du thể
thuyết chương hồi Trung Quốc “ Kim
Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài
Nhân, với tài năng nghệ thuật bậc thầy,
nhất là tấm lòng nhân đạo bao la,
Nguyễn Du đã sáng tạo ra một kiệt tác
tự sự trữ tình độc nhất vô nhị trong văn
học trung đại Việt Nam.
- Sáng tạo của Nguyễn Du:
+ Về nội dung: Từ câu chuyện tình của
Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã
Tạo nên một “ Khúc ca mới đứt ruột”
(Đoạn trường tân thanh), nhấn vào nỗi
đau bạc mệnh và gửi gắm những xúc
cảm về nhân sinh của nhà thơ trước
“những điều trông thấy”.
+ Về nghệ thuật: Lược bỏ các tình tiết
về mưu mẹo, về báo oán, ( trong tác
phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân), bằng
thể lục bát truyền thống, với một ngôn
ngữ trau chuốt tinh vi, chính xác đến
trình độ cổ điển, trong một truyện thơ
Nôm, Nguyễn Du thể hiện nội tâm
nhân vật một cách tài tình.
=> Truyện Kiều là kiệt tác số một của
văn học trung đại Việt Nam, di sản văn
học của nhân loại, là một “ tập đại
thành” của truyền thống nghệ thuật văn
hoá Việt Nam, tiêu biểu cho cảm hứng
nhân đạo chủ nghĩa, vừa là niềm
thương cảm sâu sắc, là tấm lòng nghĩ
nữ trong xã hội cũ, đề cập đến vấn đề
thân phận người phụ nữ tài hoa bạc
mệnh.
“ Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.
+ Khái quát bản chất tàn bạo của chế
độ phong kiến chà đạp quyền sống của
con người.
- Đề cao quyền sống của con người,
đồng cảm và ca ngợi tình yêu tự do,
khát vọng hạnh phúc ( mối tình Kim-
Kiều, nhân vật Từ Hải).
=> Chứng minh: Truyện Kiều.
+ Bài ca tình yêu tự do và ước mơ công
lí.
+ Tiếng khóc cho số phận con người:
khóc cho tình yêu trong trắng, chân
thành bị tan vỡ; khoc cho tình cốt nhục
bị lìa tan; khóc cho nhân phẩm bị chà
15
- Củng cố:
- Học sinh đọc Ghi nhớ
SGK.
- Dặn dò:
- Nắm vững nội dung bài
học.
- Hoàn thành bài tập vào vở.
- Chuẩn bị “Phong cách
ngôn ngưc nghệ thuật”
theo hướng dẫn SGK.
ngôn ngữ văn học dân gian, làm giàu
cho tiếng Việt.
III. TỔNG KẾT
Nguyễn Du là một tập đại thành của
nền văn học dân tộc với những đóng
góp to lớn cả về nội dung và nghệ
thuật. Tinh hoa ngôn ngữ bác học và
bình dân kết tụ nơi thiên tài Nguyễn Du
đã khiến ông trở thành nhà phân tích
tâm lí bậc thầy, xứng đáng với danh
hiệu Đại thi hào dân tộc và Danh nhân
16
văn hóa thế giới.
Ghi nhớ (SGK)
IV. LUYỆN TẬP
Đề bài: Vì sao Nguyễn Du được gọi là
Đại thi hào dân tộc, thiên tài dân tộc,
được vinh phong danh nhân văn hóa
thế giới?
4. Kiểm nghiệm
Trước đây, tôi thường dùng phương pháp thuyết trình, thảo luận, đối
thoại để giảng dạy bài này. Làm như vậy sẽ khắc phục được không khí
nặng nề, buồn tẻ thường có trong các bài văn học sử. Tuy nhiên, chỉ có
một số học sinh có năng lực đại diện ra làm cho nhóm khi thảo luận hoặc
đứng lại thuyết trình, còn một bộ phận học sinh dựa dẫm, lười tư duy. Số
học sinh nắm được nội dung bài học còn hạn chế.
Sau khi áp dụng phương pháp tự nghiên cứu tại lớp 10A2 và
10A10 so sánh với lớp 10A4 không sử dụng phương pháp này thì kết quả
như sau: Khi sử dụng phương pháp tự nghiên cứu đã nâng cao được ý
thức tự học, tích cực của học sinh. Học sinh là trung tâm của bài học, các
1 10A4 46 2 4.3 15 32.6 23 50.0 6 13.1 0 0.0
2 10A2 48 20 41.7 26 54.2 2 4.1 0 0.0 0 0.0
3 10A10 43 10 23.3 19 44.2 14 32.5 0 0.0 0 0.0
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão, con người dễ dàng
tiếp nhận tri thức qua công nghệ thông tin. Nếu người dạy có thể hình
thành kĩ năng tự đọc, tự học, tự nghiên cứu cho học sinh thì đó là một
thành công vì làm như vậy nghĩa là chúng ta đã trang bị cho học sinh
những công cụ, những phương pháp tối ưu nhất để nâng cao tầm hiểu biết
cho mình, tạo hành trang vững vàng cho các em bước vào tương lai.
Nguyễn Du là một trong những đỉnh cao của nền văn học Việt Nam,
cuộc đời và sự nghiệp của ông mang nhiều tâm tư sâu sắc, quy tụ được
những vấn đề xã hội và dự báo nhiều điều cho mai sau. Việc nghiên cứu
về Nguyễn Du không bao giờ kết thúc. Truyện Kiều - tác phẩm bất hủ
của ông, "tập đại thành" của văn học Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời đã
là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và từ đó đến nay việc
nghiên cứu Nguyễn Du và Truyện Kiều không bao giờ đứt đoạn, nó luôn
phát triển cùng ngành văn bản học và ngữ văn học. Hơn nữa Nguyễn Du
và Truyện Kiều chiếm vị trí không thể thiếu trong chương trình văn học ở
trường phổ thông.
Tôi chỉ có một đề xuất nhỏ với nhà trường đó là: hãy dành sự quan tâm
hơn nữa đối với môn Ngữ văn trong nhà trường. Không nên quá chú
trọng đến các môn tự nhiên mà làm mờ nhạt đi giá trị của môn Ngữ văn
đối với học sinh.
Trên đây là những suy nghĩ, cảm nhận của tôi sau nhiều trăn trở, băn
khoăn khi giảng dạy tác giả Nguyễn Du, nhưng văn chương là giếng
18
không đáy, thiết nghĩ những trình bày của tôi ở đây cũng chỉ là những tìm
tòi bước đầu cho nên không tránh khỏi những bất cập, thiếu sót hy vọng
nhận được sự bổ sung, góp ý của các đồng nghiệp để bài viết tốt hơn, khả
I. Đặt vấn đề 1
II. Giải quyết vấn đề 3
1. Cơ sở lý luận 3
1.1 Khái niệm phương pháp 3
1.2 Khái quát về phương pháp tự nghiên cứu 3
2. Thực trạng vấn đề 6
3. Giải pháp và tổ chức thực hiện 7
3.1 Cấu tạo bài học tác giả Nguyễn Du và những giải pháp 7
3.2. Tổ chức thực hiện 9
3.2.1 Cách thức tổ chức 9
3.2.2 Đề xuất hướng triển khai bài giảng 10
4. Kiểm nghiệm 17
III. Kết luận và đề xuất 18
Tài liệu tham khảo 19
21
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH II
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
GIÚP HỌC SINH TIẾP CẬN TÁC GIẢ NGUYỄN DU BẰNG
PHƯƠNG PHÁP TỰ NGHIÊN CỨU
Người thực hiện: Lê Thị Luyến
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn
THANH HOÁ, NĂM 2013