Vai trò của kiểm soát trong quản trị thương mại điên tử logistics - Pdf 18

Môn: Quản trị hậu cần trong thương mại điện tử.
Đề tài:
Kiểm soát đóng vai trò gì trong quản trị logistics? Cho biết một số chỉ
tiêu căn bản sử dụng trong kiểm soát logistics? Đây là những chỉ tiêu có thể sử
dụng thuận lợi nhất ở các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay? Hệ thống thông
tin logistics có hỗ trợ như thế nào trong hoạt động kiểm soát logistics tại
doanh nghiệp thương mại điện tử?
1
Mục lục
1. Lời mở đầu.
2. Nội dung.
I. Kiểm soát hoạt động logistics.
II. Các chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt động Logistics.
III. Thực tế áp dụng các chỉ tiêu đo lường kết quả kiểm soát logistics
tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
IV. Vai trò của logistics đối với các doanh nghiệp thương mại điện tử:
2
Lời mở đầu
Các nguồn tài nguyên trên trái đất là hữu hạn, nhưng ước muốn của con
người lại vô cùng. Chính vì vậy, Logistics đã ra đời để giúp con người sử dụng các
nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) một cách tối ưu, để có thể đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của bản thân và xã hội một cách tốt nhất. Thời kỳ trước đây, do bị
ngăn trở bởi khoảng cách địa lý và điều kiện truyền thông chưa cho phép, nên
người ta chỉ có thể áp dụng logistics trong phạm vi hẹp: công ty, ngành, địa
phương, quốc gia. Còn giờ đây, nhân loại đang bước vào nền kinh tế tri thức,
không bao lâu nữa, mạng điện tử sẽ cho phép con người vượt qua các trở ngại về
thời gian và không gian, tạo điều kiện cho logistics toàn cầu ra đời và phát triển.

3
Nội dung
I.Kiểm soát hoạt động logistics

Đầu ra của quá trình là cái mà chúng ta thường gọi là kết quả. Kết quả là tình
trạng của quá trình ở bất kỳ một thời điểm nào. Kết quả có thể được đo lường theo
chi phí trực tiếp như cước phí vận chuyển. . . , chi phí gián tiếp như hao hụt và tổn
thất do tai hoạ, hoặc kết quả cung ứng.
Các quá trình với các kế hoạch đầu vào và kết quả thực hiện là đối tượng của
quá trình kiểm soát. Các nhân tố này là kết quả của quá trình kế hoạch hoá và thực
thi.
• Các tiêu chuẩn và mục đích.
Chức năng kiểm soát yêu cầu cần phải có các tiêu chuẩn để so sánh với kết
quả hoạt động. Các nhà quản trị cố gắng làm cho kết quả hoạt động phù hợp với
tiêu chuẩn. Có rất nhiều loại tiêu chuẩn khác nhau như: ngân sách chi tiêu, trình độ
dịch vụ khách hàng, đóng góp lợi nhuận.
• Kiểm tra.
Kiểm tra là trung tâm đầu não của hệ thống kiểm soát. Nó nhận thông tin về
kết quả của quá trình, so sánh với các mục tiêu, tiêu chuẩn, và thiết lập các hoạt
động điều chỉnh. Đa số những thông tin nhận được từ các báo cáo định kỳ và các
tài liệu hạch toán như: báo cáo tình trạng dự trữ, tình trạng sử dụng nguồn lực, chi
phí hoạt động, trình độ dịch vụ khách hàng v.v. Những người kiểm tra là các nhà
quản trị, cố vấn hoặc máy điện toán.
5
1. Các hệ thống kiểm soát
• Hệ thống mở.
Đặc điểm quan trọng của hệ thống này là sự can thiệp của con người giữa
hoạt động so sánh kết quả hiện hữu và mong muốn với hành động giảm sai sót của
quá trình. Nhà quản trị phải can thiệp tích cực trước bất kỳ hành động điều chỉnh
nào có thể diễn ra và do đó gọi là hệ thống mở.
Lợi ích của hệ thống kiểm soát khung mở là tính linh hoạt và chi phí ban đầu
thấp. Các nhà quản trị theo ý mình, yêu cầu loại thông tin cần để kiểm soát, chấp
nhận sai lầm ở thời điểm nhất định và thiết lập hành động điều chỉnh. Tính linh
hoạt là lợi ích chủ yếu ở thời điểm nhất định và thiết lập hành động điều chỉnh.

giúp hạn chế và triệt tiêu các sai lêch này với một quy trình kiểm soát thống nhất.
Doanh nghiệp có thể sử dụng các hệ thống kiểm soát đóng, mở hoặc phối hợp cả
hai, tất cả đều được áp dụng.
Quá trình kiểm soát logistics bao gồm các hoạt động kiểm soát về việc thực hiện
các mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra và kiểm soát các chỉ tiêu của logistics.
II. Các chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt động Logistics
Để kiểm soát logistics, cần phải đo lường các kết quả logistics. Các chỉ tiêu
đo lường Logistics bao gồm 4 nhóm: Đo lường quản lý chi phí, đo lường chất
lượng dịch vụ khách hàng, đo lường năng suất lao động và thiết bị, đo lường quản
lý tài sản.
Đo lường kết quả tập trung vào các hoạt động và quá trình so sánh đối với
các hoạt động và mục đích đặt ra trước đây.
7
Hình 1: Ví dụ về hệ thống kiểm soát hỗn hợp trong quản trị dự trữ
• Đo lường quản lý chi phí:
8
T.chuẩn dự trữ: Q,
D
đ
, dịch vụ & chi
phí
Báo cáo
máy tính về D
k
Qui tắc ra q.định:
Khi D
k


D

Các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ hậu cần cần được cụ thể hóa bằng các
thước đo chi tiết thì mới có thể đánh giá và so sánh được.
− Tổng thời gian đáp ứng một đơn hàng: tình huống thông
thường, lúc cao điểm…
− Tỷ lệ các đơn hàng hoàn hảo (đúng về số lượng, cơ cấu, thời
gian, địa điểm)
− Tỷ lệ các đơn hàng đúng về hàng hóa (số lượng/cơ cấu)
− Tỷ lệ các đơn hàng đúng về dịch vụ (thời gian, địa điểm)
− Số lần khách hàng trả lại hàng
− Số lần khiếu nại/than phiền từ phía khách hàng và lực lượng
bán hàng
− Số lần làm sai về chứng từ, hóa đơn, vận đơn
− Tổng giá trị hàng hóa bị hư hỏng do dịch vụ hậu cần
− Mức độ tự thỏa mãn của khách hàng
− Số lượng khách hàng trung thành
− Số lượng khách hàng mới, v.v.v
9
• Đo lường năng suất lao động và thiết bị:
− Khối lượng hàng nhập, hàng xuất trên một nhân viên hậu cần
(có thể phân loại cho từng bộ phận: lao động kho/lái xe/.v.v)
− Khối lượng hàng nhập khẩu, hàng xuất khẩu trên tổng tiền
lương của bộ phận hậu cần
− Năng suất của thiết bị trong ngày/theo tháng/theo quý.v.v
Về mặt lý luận, có 3 loại chỉ tiêu đo lường năng suất cơ bản: thống kê, động
thái, và đại diện.
Nếu mọi đầu vào và đầu ra của hệ thống bao gồm trong biểu thức năng suất,
thì nó sẽ là tổng tỷ số năng suất thống kê nhân tố. Tỷ số là thống kê do nó chỉ dựa
vào một số đo.
Mặt khác, chỉ tiêu động thái được tổng hợp theo thời gian. Nếu các đầu vào và
đầu ra trong hệ thống so sánh các tỷ lệ năng suất thống kê của một thời kỳ naỳ với

thức kinh doanh mới đem lại hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, vấn đề E-logistics (hậu
cần) lại đang là bài toán khó cho các DN có ứng dụng TMĐT tại Việt Nam.
Theo thống kế mới nhất của Google Ad planner, chỉ riêng tháng 7/2010 số
lượng người dùng internet tại Việt Nam đã tăng thêm 3 triệu, nâng tổng số người
dùng internet ở nước ta lên con số 31 triệu. Điều này cho thấy sức hấp dẫn của một
thị trường giàu tiềm năng phát triển như Việt Nam.
Hơn nữa, người tiêu dùng có thể dễ dàng tìm kiếm được sản phẩm mong
muốn chỉ với một chiếc máy tính hoặc điện thoại có kết nối mạng internet. Tuy
nhiên, điều đáng lưu ý ở đây là hầu hết các website cung cấp dịch vụ mua bán trực
11
tuyến hiện nay như Enbac.com, 5giay.vn… mới chỉ đóng vai trò cầu nối để người
tiêu dùng lên mạng tìm thông tin rồi thực hiện giao dịch thỏa thuận miệng giữa
người mua và người bán. Những giao dịch kiểu này không đủ ràng buộc về mặt
pháp lý và có nhiều kẽ hở dễ tạo điều kiện cho nạn gian lận tung hoành.
Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng người bán thường xuyên
bán sản phẩm không đúng như mô tả, sản phẩm báo còn hàng trong khi thực tế đã
hết hàng, hay đăng giá rẻ nhưng lại bán với giá cao hơn… đang diễn ra rất phổ
biến. Do vậy, khách hàng cần phải tìm hiểu kỹ thông tin của các DN đăng bán sản
phẩm trước khi đưa ra quyết định mua hàng.

Cần ý thức từ phía người bán:
Giải thích về tình trạng trên, một số doanh nghiệp cho rằng, họ làm như vậy
chủ yếu để thu hút khách hàng quan tâm và biết đến doanh nghiệp. Trong khi, trên
thực tế các doanh nghiệp không lường hết được hậu quả là khách hàng sẽ coi đây
là một hình thức lừa đảo và sẽ tẩy chay doanh nghiệp bán đó.
Ngoài ra, do đa số các doanh nghiệp hiện nay cùng một lúc phát triển cả 2
kênh là truyền thống và thương mại điện tử, nên họ chưa có kinh nghiệm hoặc
chưa thực sự đầu tư vào việc kinh doanh trên mạng. Vì vậy, có những sản phẩm đã
bán rồi nhưng trên website sản phẩm đó vẫn báo là còn hàng, gây khó chịu cho
khách hàng.

nhằm không những cắt giảm chi phí mà còn tạo ra các ưu thế cạnh tranh rõ rệt trên
thị trường.
Nếu không có kiến thức cơ bản về quản lý chi phí, thì bạn không thể nào
nhận biết được tình hình thực tế của những dự án đầu tư, các kế hoạch kinh doanh
cũng như thực trạng hoạt động của công ty.
Việc tìm giải pháp tài chính tối ưu cho chiến lược phát triển bền vững trong
thời kỳ hậu hội nhập luôn là vấn đề nan giải nhất đối với các DN nhỏ và vừa hiện
nay. Vì vậy, theo các chuyên gia, một trong những “nước cờ” mà DN nào cũng
phải tính đến là việc quản lý và tiết kiệm chi phí ngày một hiệu quả hơn để sản
13
phẩm, dịch vụ của mình ngày càng có chất lượng, giá cả phù hợp hơn với khách
hàng.
 Xác định chi phí trong doanh nghiệp
• Tổng chi phí trong doanh nghiệp bao gồm chi phí lao động trực tiếp, chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí chung.
• Chi phí lao động trực tiếp:
Là tiền lương và các khoản liên quan trả cho công nhân lao động trực tiếp
mà chúng có thể được phân bổ toàn bộ theo lượng thời gian đã sử dụng để
tạo ra một đơn vị sản phẩm hoặc để cung cấp một dịch vụ cụ thể.
• Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm:
− Giá mua nguyên vật liệu.
− Chi phí tồn trữ.
− Chi phí đặt hàng.
− Tổn thất do thiếu nguyên vật liệu tồn trữ.
• Chi phí chung bao gồm:
Chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
 Kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp
Người quản lý doanh nghiệp cần phải nắm các thông tin về chi phí để ra
quyết định. Tính toán, kiểm soát chi phí giúp doanh nghiệp kiểm soát ngân quỹ và
tính giá thành sản phẩm hoặc dịch vụ. Việc kiểm soát chi phí của DN không chỉ là

các chế độ thưởng phạt hợp lý.
 Xây dựng ý thức tiết kiệm chi phí
Làm cách nào để đội ngũ nhân viên ý thức về chi phí và trở nên quan tâm
đến việc giảm chi phí? Các cách thức như khuyến khích nhân viên tham gia quản
lý chi phí hay tham gia và trao đổi với nhân viên nhằm nâng cao ý thức của nhân
viên về tầm quan trọng của chi phí và kiểm soát chi phí tại doanh nghiệp.
Khuyến khích nhân viên tham gia quản lý chi phí
• Sử dụng đo lường tài sản.
 Nhiều cơ hội phát triển
Ngay từ đầu những năm 2000, một số ngân hàng đã thành lập công ty QLTS
(AMC) nhằm xử lý tài sản thế chấp liên quan đến nợ xấu. Từ cuối năm 2006, cùng
với sự phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính, một loạt các công ty quản lý
15
quĩ, AMC trong nước và liên doanh với nước ngoài ra đời, hoạt động chủ yếu tại
hai trung tâm lớn Hà Nội và TP.HCM. Một số đại gia như Prudential, Mirae Asset
cũng đã nhảy vào thị trường dịch vụ QLTS ở Việt Nam.
Năm 2008, thị trường chứng khoán Việt Nam liên tục chứng kiến những đợt
"phá đáy", giá cổ phiếu niêm yết đồng loạt sụt giảm, có khi mất tới 50% giá trị.
Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều chuyên gia, qua đợt điều chỉnh sâu này, hoạt
động đầu tư tài chính sẽ từng bước chuyên nghiệp hóa. Các nhà đầu tư sẽ cần tới
những tổ chức chuyên nghiệp giúp họ nâng cao lợi nhuận của những khoản đầu tư.
Bên cạnh đó, nhiều AMC thuộc các ngân hàng sau khi hoàn thành nhiệm vụ cơ bản
của mình cũng chuyển đổi chức năng hoạt động. Điều này hứa hẹn sự phát triển sôi
động của hoạt động QLTS trong tương lai không xa.
 Nhân lực:
Ngành tài chính ngân hàng đang thiếu nhân lực trầm trọng. Đối với QLTS, sự
thiếu hụt này càng được thể hiện rõ do đây là một lĩnh vực hết sức mới mẻ tại VN.
Do chưa trường lớp nào tại Việt Nam đào tạo về QLTS nên nhân lực cho lĩnh vực
này hiện chủ yếu là những người đã từng du học tại những nước có ngành tài chính
ngân hàng phát triển. Số này không lớn trong lực lượng nhân sự ngành tài chính

cần xây dựng cho mình phương pháp thích hợp
Ở Việt Nam, nhiều người vẫn hiểu năng suất đồng nghĩa với năng suất lao
động nhưng thực tế ý nghĩa của năng suất mang tính toàn diện hơn nhiều. Một dự
án nghiên cứu về các khái niệm năng suất do các nước thành viên Tổ chức Năng
suất Châu Á thực hiện năm 1995 đã nêu rõ cách hiểu năng suất theo cách tiếp cận
mới một cách chung nhất và cơ bản nhất như sau:
● Nhấn mạnh vào giảm lãng phí trong mọi hình thức
● Năng suất là làm việc thông minh hơn chứ không phải nhiều hơn
17
● Nguồn nhân lực và khả năng tư duy của con người đóng vai trò quan trọng
nhất trong việc đạt được năng suất cao hơn và hành động là kết quả của quá
trình tư duy.
● Tăng năng suất đồng nghĩa với sự đổi mới và cải tiến liên tục.
● Năng suất được coi là biểu hiện của cả hiệu quả và hiệu lực trong việc sử
dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu.
● Năng suất theo cách tiếp cận mới là năng suất gắn với bảo vệ môi trường, vì
thế xuất hiện khái niệm năng suất xanh, năng suất sạch.
Năng suất có những ý nghĩa quan trọng để đánh giá sự phát triển hay suy
thoái của một tổ chức cũng như của nền kinh tế. Mục tiêu của đo lường năng suất
là để cải tiến, hướng tới việc nâng cao hiệu quả hoạt động và tối ưu hóa nguồn lực
sẵn có.
Việc đo lường năng suất là cần thiết vì:
● Đo lường năng suất cung cấp một cơ sở dữ liệu cho tổ chức để lập mục tiêu
và giám sát việc thực hiện;
● Giúp cho việc bộc lộ những khu vực có vấn đề;
● Đánh giá hiệu quả việc thực hiện các công việc và các hoạt động kinh tế, có
thể so sánh hiệu quả thực hiện của tổ chức với các đối thủ cạnh tranh và tiêu
chuẩn ngành;
● Cung cấp cơ hội để học hỏi và lôi kéo sự tham gia của mọi người. Giúp cho
việc huy động nguồn nhân lực trong tổ chức thông qua việc chia sẻ các

điện tử :
Chức năng tác nghiệp :
Khởi xướng và ghi lại các hoạt động , chức năng riêng biệt của logistic như :
Nhận đơn hàng , xử lý đơn hàng , giải quyết yêu cầu , khiếu nại và phải dựa trên
một loạt các thông tin tác nghiệp . Triển khai hệ thống sẽ đảm bảo cải tiến hiệu
suất hệ thống tác nghiệp cơ sở lợi thế cạnh tranh , giảm chi phí tác nghiệp => giảm
giá . Hiệu suất tác nghiệp tăng nhanh , giảm chi phí hoạt động tương đối cho doanh
nghiệp.
Chức năng kiểm soát :
Giúp phát hiện các vướng mắc về chất lượng và dịch vụ trong mối tương
quan các nguồn lực hiện có để phục vụ khách hàng => có các giải pháp điều chỉnh
phù hợp . Điều chỉnh ngược giúp ích trong việc tiết kiệm các nguồn lực hữu ích .
Chức năng phân tích và ra quyết định :
Các công cụ phần mềm giúp các nhà quản trị nhận ra đánh giá , so sánh các
phương pháp chiến lược , chiến thuật có khả năng thay thế , có khả năng gia tăng
hiệu quả hoạt động . Cùng với các thông tin tổng hợp mang tính dài hạn , dự báo
về thị trường và nguồn cung ứng , hỗ trợ trong việc ra các quyết định quan trọng
như quy hoạch mạng lưới Logistic hay lựa chọn hệ thống quản trị dự trữ hàng hoá .
Chức năng hoạch định chiến lược :
Rà soát cơ hội thách thức của môi trường kinh doanh từ đó doanh nghiệp chuẩn
bị các nguồn lực để khai thác các tiềm năng thị trường vượt qua khó khăn dựa trên
các thế mạnh sẵn có của mình .
 Ngoài ra hệ thống thông tin Logistic còn hỗ trợ đặc biệt cho kiểm soát các
hoạt động thuộc về thông tin nghiệp vụ thương mại điện tử :
Quản lý đơn hàng và thực hiện đơn hàng :
20
Kiểm soát việc chuyển thông tin về nhu cầu giữa các thành viên tham gia
phân phối hàng hoá đảm bảo tiếp nhận chính xác đáp ứng yêu cầu của khách hàng .
Sử dụng các công cụ chuyển tin như điện thoại để thực hiện đơn hang của khách
hàng . Trên cơ sở nhu cầu và dự báo bán quyết định về trình độ dịch vụ khách hàng

Là sự kết hợp giữa con người , công nghệ , các quy trình cung cấp thông tin thích
hợp cho các nhà quản trị đặc biệt là về chức năng đánh giá , kiểm tra , kiểm soát
logistic của các doanh nghiệp thương mại điện tử .
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status