bảo hiểm y tế khu vực kinh tế phi chính thức ở hà nội - Pdf 18

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm y tế là một bộ phận trong hệ thống an sinh xã hội. Bảo hiểm y tế là
một trong những nội dung của Bảo hiểm xã hội được quy định tại công ước 102
ngày 28.06.1952 của tổ chức lao động quốc tế (ILO). Nước ta bảo hiểm y tế được
coi là một chính sách quan trọng để thực hiện mục tiêu xây dựng nền y tế theo định
hướng công bằng, hiệu quả và phát triển; là một chính sách xã hội quan trọng được
Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, Đảng và Nhà nước ta, một mặt nỗ lực
hướng vào và phát huy mọi nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực cho tăng trưởng kinh
tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, tạo ra bước phát triển bền vững và
ngày càng phồn vinh cho đất nước; mặt khác, không ngừng hoàn thiện hệ thống an
sinh xã hội để giúp cho người lao động có khả năng chống đỡ với các rủi ro trong
nền kinh tế thị trường. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và coi trọng thực hiện các
chính sách xã hội đối với người lao động. Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài
chính sách Bảo hiểm y tế mới chỉ nhắm tới đối tượng người lao động ở khu vực
chính thức (cơ quan và doanh nghiệp nhà nước).
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước hội nhập sâu
vào nền kinh tế thế giới, thì hệ thống an sinh xã hội nói chung và Bảo hiểm y tế nói
riêng phải được phát triển và hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu của người lao động, của
nhân dân, là một trong những nhu cầu rất cơ bản của con người. Bảo đảm nhu cầu
về an sinh xã hội, trước hết là nhu cầu về Bảo hiểm y tế là một trong những mục
tiêu rất quan trọng, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời
cũng phù hợp với xu thế chung của cộng đồng quốc tế hướng tới một xã hội phồn
vinh, công bằng và an toàn. Sự phát triển kinh tế thị trường đã mang lại cho đất
nước những biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội. Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu
1
kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, thu nhập bình quân của người lao động
ngày càng cao, đời sống kinh tế và xã hội của nhân dân có sự cải thiện rõ rệt. Vấn
đề cải thiện và nâng cao mức sống của người lao động luôn là mục tiêu trước mắt,
cũng như lâu dài của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh việc ban hành các chính sách

nhiều hình thức khác nhau (sách tham khảo, đề tài, luận văn, tạp chí, …). Trong đó
có thể kể đến:
- “Các giải pháp cơ bản nhằm tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân” –
Đề tài nghiên cứu khoa học của TS. Phạm Đình Thành - Trung tâm nghiên cứu
khoa học Bảo hiểm xã hội. Trong đề tài tác giả đề cập một số vấn đề lý luận cơ bản
về Bảo hiểm y tế. Tác giả cũng đã đưa đến mô hình Bảo hiểm y tế của nhiều nước
trên thế giới và các giải pháp cơ bản nhằm tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân.
- “Báo cáo đánh giá chính sách và thực hiện chính sách bảo hiểm y tế” -
Viện chiến lược chính sách y tế. Trong báo cáo đã làm rõ kết quả thực hiện chính
sách bảo hiểm y tế, những khó khắn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính
sách bảo hiểm y tế; khả năng đáp ứng của chính sách bảo hiểm y tế đối với định
hướng phát triển một nền y tế công bằng hiệu quả và phát triển; Phân tích, dự báo
khả năng phát triển bảo hiểm y tế ở các khía cạnh kinh tế, xã hội và luật pháp.
- “Báo cáo chuyên đề tài chính và cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam” của
Ngân Hàng Thế Giới. Báo cáo đã chỉ ra những thách thức của bảo hiểm Y tế ở Việt
Nam: khả năng mở rộng phạm vi bao phủ, phát triển chiều sâu dịch vụ để người
bệnh giảm bớt chi phí.
- “Hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo an sinh xã hội” – Bài tham luận
Nguyễn Tiến Hùng tại hội thảo tổ chức tại Học viện Tài chính – Phân viện Hồ Chí
Minh.
- “Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế ở nước ta: thành tựu, thách thức và
giải pháp” của PGS.TS Đào Văn Dũng (Tạp chí Tuyên giáo số 8 – 2009).
3
- “Bảo hiểm y tế cho người nghèo” – Luận văn Nguyễn Thanh Bình.
- “Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
của PGS.TS Đinh Công Tuấn – Nhà xuất bản khoa học Xã hội 2008.
- Đề tài nghiên cứu khoa học: “Khu vực kinh tế phi chính thức – thực trạng
và những vấn đề đặt ra với công tác quản lý” chủ nhiệm đề tài TS. Phạm Văn
Dũng.
Nhìn chung các công trình khoa học nói trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác

Phân tích các văn bản quy phạm pháp luật về chính sách bảo hiểm y tế, các thông
tin báo cáo sẵn có từ các nguồn khác nhau.
6. Dự kiến đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa được các vấn đề lý luận và thực tiễn về Bảo hiểm y tế khu
vực phi chính thức ở Hà Nội.
- Phân tích được thực trạng bảo hiểm y tế khu vực phi chính thức ở nước ta,
những thành công và hạn chế.
- Đề xuất một số giải pháp để phát triển, mở rộng đối tượng tham gia Bảo
hiểm y tế khu vực phi chính thức.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Bảo hiểm y tế ở khu vực phi chính thức – những vấn đề lý
luận và thực tiễn.
Chương 2: Thực trạng bảo hiểm y tế khu vực phi chính thức ở Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản thúc đẩy phát triển bảo
hiểm y tế khu vực phi chính thức ở Việt Nam thời gian tới.
5
Chương 1: Bảo hiểm y tế ở khu vực kinh tế phi chính thức – những vấn
đề lý luận và thực tiễn.
1.1 Khu vực kinh tế phi chính thức
1.1.1 Khái niệm khu vực kinh tế phi chính thức
Khái niệm khu vực kinh tế phi chính thức (Informal sector) xuất hiện từ cuối
những năm 60. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một tên gọi, chưa có một khái
niệm thống nhất về khu vực kinh tế này. Do đây là khu vực kinh tế rất phức tạp; ở
mỗi quốc gia, khu vực này có những đặc điểm rất khác biệt; khu vực này có thể
được nghiên cứu, xem xét dưới những góc độ khác nhau. Do đó, khó có thể đưa ra
một định nghĩa ngắn gọn bao quát được đầy đủ tính chất, đặc điểm của khu vực
này. Định nghĩa về khu vực kinh tế phi chính thức của Liên hợp quốc, Tổ chức lao
động quốc tế (ILO) có nhiều điểm hợp lý và phù hợp với điều kiện của các nước

Khu vực kinh tế phi chính thức là khu vực gồm những người, các hộ gia đình
có hoạt động kinh doanh nhưng chưa hay không cần đăng ký kinh doanh với nhà
chức trách. Họ gồm những người hành nghề tự do, các hộ kinh doanh cá thể, từ trẻ
đánh giày, bán báo, người bán hàng rong, lái xe ôm đến những người làm nghề xây
dựng, dịch vụ hay các hộ sản xuất cá thể khác. Phần lớn họ tự doanh, một số có thuê
người làm. Khu vực kinh tế phi chính thức được hiểu là bộ phận không có đăng ký
kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân.
Nghiên cứu về hình thức hoạt động và tổ chức lao động trong khu vực kinh
tế phi chính thức nói chung, ở thành thị nói riêng, một số công trình nghiên cứu của
Bộ Lao động – Thương Binh và Xã Hội đã phân chia hoạt động trong khu vực kinh
tế phi chính thức thành các loại hình chủ yếu:
7
- Loại thứ nhất: hoạt động đơn lẻ một mình, bao gồm các cá nhân làm nghề
tự do như: bán hàng vặt, hàng rong, cắt tóc, may vá, xích lô, xe ôm, cửu vạn, giúp
việc gia đình, gia sư, bán vé số, bán báo, đánh giầy Chủ thể này phần lớn hoạt
động ở đô thị và đa dạng hơn so với ở nông thôn.
- Loại thứ hai: hoạt động đã mang tính tập thể tổ chức theo từng nhóm
người, nhưng vốn đầu tư ít, phương tiện trang bị sơ sài. Loại này quy mô thường bó
hẹp trong phạm vi nhỏ hộ gia đình hoặc một số ít người góp vốn tổ chức cùng làm
ăn với nhau.
Ở thành thị, khu vực kinh tế phi chính thức bao gồm các hoạt động kinh tế đa
dạng trong mọi lĩnh vực ngành nghề với quy mô nhỏ, mang tính cá thể, dùng sức
lao động của bản thân và gia đình là chính hoặc có thuê mướn một số ít lao động.
Đó là các tổ hợp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ (dưới 10 lao động); các
hộ kinh doanh cá thể và các cá nhân làm nghề tự do với địa điểm sản xuất - kinh
doanh thường không ổn định và không quy định cụ thể thời gian làm việc, phần lớn
hoạt động ở nhà, ngõ chợ, bến bãi tàu xe, vỉa hè lòng đường
1.1.2 Vai trò khu vực kinh tế phi chính thức ở Việt Nam
Khu vực kinh tế không chính thức tồn tại như một tất yếu khách quan, luôn
luôn chịu sự tác động của các qui luật kinh tế, của chính sách phát triển kinh tế - xã

phi chính thức đang tăng và có xu hướng thu hút nhiều lao động. Ngược lại, nhiều
người lao động cũng có xu hướng dịch chuyển sang khối này để cải thiện đời sống.
Hiện nay, trong khi tỷ lệ thất nghiệp tăng, khu vực này lại cung cấp một nguồn việc
làm rất lớn. Theo công bố mới nhất của Trung tâm Phân tích và dự báo, thu nhập
hàng tháng của lao động khu vực phi chính thức đang tăng cao. Khảo sát cho thấy,
9
ngoài nuôi sống bản thân, tiền gửi về cho gia đình không giảm, ở một số ngành
nghề như xây dựng dân dụng, dịch vụ còn tăng cao hơn năm trước khoảng 500.000
đồng/tháng. Ngay công việc giúp việc gia đình, mức lương năm 2010 phổ biến ở
mức 1,5 - 2 triệu đồng/người/tháng, năm 2011 đã tăng lên 2,2 - 2,5 triệu đồng/người
[9, tr.2].
Sự tăng trưởng kinh tế khá cao của Việt Nam trong những năm qua đã ghi
nhận sự phát triển đáng kể của hoạt động kinh tế phi chính thức. Năm 2010, lực
lượng lao động của nước ta vào khoảng 48 triệu người, trong đó lao động khu vực
chính thức chiếm 13 triệu người, lao động khu vực không chính chức chiếm 11 triệu
người [ 14, tr.3], còn lại có gần 24 triệu người làm việc trong khu vực nông, lâm,
ngư nghiệp-chiếm 49% tổng việc làm trong nền kinh tế. Cả nước có 8,4 triệu hộ sản
xuất, kinh doanh phi chính thức, trong đó 7,4 triệu hộ xem hoạt động trong khu vực
này của mình là việc làm chính và 1 triệu hộ xem đó là việc làm thứ hai. Thu nhập
từ khu vực việc làm phi chính thức chiếm khoảng 30 – 60% tổng thu nhập quốc gia,
đóng góp 20% tổng GDP của cả nước [ 3, tr.8]. Nếu nghề nông và việc làm nông
nghiệp được tính vào thì khoảng 73% số việc làm là do kinh tế hộ gia đình cung
cấp. Nền kinh tế phi chính thức đã thực hiện được chức năng thiết yếu là tạo ra việc
làm và tăng phúc lợi cho cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng.
Nhìn chung, khu vực kinh tế phi chính thức đóng một vai trò quan trọng
trong nền kinh tế xã hội, chiếm một lực lượng lao động đông, năng động, dễ chuyển
đổi. Tuy nhiên, đây là một khu vực dễ bị tổn thương.
1.2 Bảo hiểm y tế ở khu vực phi chính thức
1.2.1 Bảo hiểm y tế và chính sách Bảo hiểm y tế tự nguyện
* Bảo hiểm y tế

11
trưởng đã ban hành Nghị định số 299/HĐBT ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế, khai
sinh ra chính sách bảo hiểm y tế ở nước ta.
Qua triển khai thực hiện, hệ thống chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe
nhân dân từng bước được hoàn thiện, thể hiện ở các Nghị định số 58/1998/NĐ-CP
ngày 13/8/1998 và Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 hướng đến mục
tiêu công bằng và nhân đạo trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân
trên cơ sở đóng góp của cộng đồng, chia sẻ rủi ro, giảm bớt gánh nặng tài chính của
mỗi người dân. Đặc biệt, Luật bảo hiểm y tế có hiệu lực từ ngày 1/7/2009 đã hướng
đến mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2014. Đây là một cam kết mạnh mẽ
của Chính phủ và Nhà nước ta trong việc hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần mức đóng
bảo hiểm y tế đối với người nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số, hộ gia đình
làm nghề nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình trở xuống, đối tượng
hưởng chính sách ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội.
BHYT ra đời trên cơ sở chia sẻ rủi ro. Do vậy, tính chất cộng đồng xã hội
tương thân tương ái, đùm bọc lẫn nhau được đặt lên hàng đầu. Nhìn từ góc độ sản
phẩm BHYT thì BHYT có những tính chất sau:
+ BHYT là một loại hàng hóa: dưới góc độ kinh tế học thì BHYT là một loại
hàng hóa có giá trị sử dụng và giá trị giúp con người bảo vệ sức khỏe, giảm gánh
nặng tài chính. Mặt khác BHYT cũng có tính cạnh tranh.
+ Về mặt kinh tế, xã hội: các quốc gia trên thế giới phải công nhận rằng sự
nghèo khổ của người dân do ốm đau, tai nạn rủi ro,…gây ra không chỉ là trách
nhiệm của bản thân cá nhân, gia đình của họ mà còn là trách nhiệm của Nhà nước,
của cộng đồng xã hội. Vì vậy, BHYT là công cụ quan trọng để quản lý xã hội và là
kênh phân phối thu nhập hiệu quả nếu xét trên phương diện kinh tế xã hội.
Bảo hiểm y tế được quy định rõ tại luật Bảo hiểm y tế. Luật này đã được
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông
qua ngày 14 tháng 11 năm 2008 có hiệu lực từ 01 tháng 07 năm 2009. Theo luật
12
BHYT là để đảm bảo phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục tình trạng ốm đau, bệnh

Thẻ BHYT có giá trị sử dụng và được hưởng các quyền lợi về chăm sóc thai
sản, sinh đẻ sau hai trăm bảy mươi ngày kể từ ngày đóng BHYT đối với các trường
hợp tham gia BHYT tự nguyện lần đầu hoặc tham gia lại sau một thời gian gián
đoạn vì bất kỳ lý do gì.
Người bệnh có thẻ BHYT có thời gian tham gia liên tục đủ 36 tháng, từ
tháng thứ 37 trở đi, khi sử dụng các thuốc điều trị ung thư, thuốc chống thải ghép
ngoài danh mục quy định của Bộ Y tế nhưng được phép lưu hành tại Việt Nam thì
được cơ quan BHXH thanh toán 50% chi phí của các thuốc này.
Thẻ BHYT có giá trị sử dụng liên tục khi đóng BHYT theo quy định.
Phương thức thanh toán:
Người có thẻ BHYT khi KCB ngoại trú, nội trú tại các cơ sở KCB công lập
và ngoài công lập có hợp đồng KCB BHYT với cơ quan BHXH, được cơ quan
BHXH thanh toán chi phí khi sử dụng các dịch vụ sau:
- Khám bệnh, chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng trong thời gian điều
trị tại cơ sở KCB (theo danh mục do Bộ Y tế quy định);
- Xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng;
- Thuốc, dịch truyền theo danh mục do Bộ Y tế quy định;
- Máu và các chế phẩm của máu;
- Các phẫu thuật, thủ thuật;
- Chăm sóc thai sản và sinh đẻ;
- Sử dụng vật tư, thiết bị y tế và giường bệnh.
Người tham gia BHYT tự nguyện khi KCB tại nơi đăng ký KCB ban đầu và
ở cơ sở KCB khác theo giới thiệu chuyển viện phù hợp với tuyến chuyên môn kỹ
thuật theo quy định của Bộ Y tế và trong các trường hợp cấp cứu tại các cơ sở KCB
BHYT, được cơ quan BHXH thanh toán chi phí sử dụng các dịch vụ quy định theo
14
giá viện phí hiện hành của nhà nước. Khám, chữa bệnh nội, ngoại trú quỹ BHYT
thanh toán 80% chi phí khám chữa bệnh nội trú và ngoại trú với các danh mục
thuốc và dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán và điều trị do Bộ y tế quy định (thanh toán
100% chi phí KCB nếu tổng chi phí một lần KCB thấp hơn 15% mức lương tối

Khi rơi vào các trường hợp này, các nhu cầu cần thiết của cuộc sống không giảm đi
mà còn tăng thêm thậm chí còn phát sinh nhu cầu mới như thuốc men, chữa trị,…
Với người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức ngoài nỗi lo về sự
ổn định công việc luôn thường trực thì nỗi lo về thu nhập thấp và các nguy cơ bệnh
tật rất lớn. Khi thu nhập chỉ đủ để đảm bảo cuộc sống bình thường thì khi có bệnh
tật chi phí tăng lên gấp bội. Người lao động khu vực phi chính thức không những
không đảm bảo sức khỏe để lao động mà còn không có thu nhập đủ để trang trải
thuốc men, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, …Họ rất cần một nguồn hỗ trợ từ cơ quan
nhà nước, tổ chức y tế để được chăm sóc sức khỏe đảm bảo. Có như vậy thì người
lao động khu vực phi chính thức mới có sức khỏe để tiếp tục lao động sau quá trình
điều trị.
Với mức thu nhập thấp, người lao động khu vực phi chính thức sẽ rất khó
khăn khi phải khám chữa bệnh. Người lao động ở khu vực phi chính thức thường
không ý thức được vai trò của bảo hiểm y tế. Nếu là cá thể lao động, bình thường họ
cảm thấy với sức khỏe tốt nên họ không muốn mất một khoản chi phí “vô nghĩa”.
Đối với lao động phi chính thức ở trong các tổ chức nhỏ khác, họ không ý thức để
yêu cầu những người chủ sử dụng lao động phải có trách nhiệm với họ về yêu cầu
đóng góp của xã hội. Các yêu cầu của luật pháp cũng như quy định trong luật bảo
hiểm y tế thường chưa được áp dụng triệt để trong các nhóm làm việc nhỏ, trong
các cụm làng nghề, … Nhưng khi những đau ốm bất ngờ giáng xuống, người lao
động khu vực phi chính thức đối mặt với sức khỏe yếu đi, đồng nghĩa với áp lực
khám chữa bệnh tăng cao. Khi không được hỗ trợ của nguồn kinh phí từ bảo hiểm y
16
tế, người lao động mất khoản chi phí lớn đối với thu nhập hàng ngày của họ và chi
phí đặc biệt lớn nếu gặp những bệnh lý hiểm nghèo, nguy hiểm, …
Do đặc điểm của BHYT không hoạt động kinh doanh, không vì mục đích lợi
nhuận. Mức phí BHYT phụ thuộc vào khả năng đóng góp của người dân trong khi
mức hưởng căn cứ vào nhu cầu chi phí khám chữa bệnh thực tế mà không phụ
thuộc mức đóng. Chi phí khám chữa bệnh ngày một tăng do áp dụng các tiến bộ của
khoa học kỹ thuật y tế, sử dụng các trang thiết bị hiện đại đắt tiền trong chẩn đoán,

xin, thăm hỏi, giỗ tết và các khoản đóng góp xã hội khác. Chính vì vậy, số tiền
còn lại để có thể đóng góp, tham gia BHYT tự nguyện cũng như các loại hình bảo
hiểm khác là không nhiều, khả năng tham gia BHYT tự nguyện của họ gặp nhiều
khó khăn.
* Thể chế tài chính, tổ chức bộ máy BHYT
Những hạn chế của BHYT ở thời điểm hiện tại khiến người dân không muốn
tham gia BHYT, với nhiều người BHYT chỉ thực sự có giá trị khi bị mắc bệnh
nặng.
- Quỹ BHYT chưa được quản lý chặt chẽ, dẫn đến không ít trong đó bị thất
thoát, sử dụng không hợp lý. Tình trạng lạm dụng các dịch vụ y tế, xét nghiệm,
chiếu chụp… đối với bệnh nhân bảo hiểm y tế (BHYT) đang diễn ra ngày càng phổ
biến và có chiều hướng gia tăng. Đặc biệt, nhiều bệnh viện không ngại ngần sử
dụng các hình thức tinh vi để bòn rút Quỹ BHYT.
- Thủ tục khám chữa bệnh BHYT quá phiền hà, quyền lợi của người tham
gia BHYT vẫn bị hạn chế. Cơ chế quản lý giá thuốc chưa chặt chẽ nên giá thuốc ở
18
Việt Nam luôn cao hơn các nước trong khu vực và giá thuốc ở các bệnh viện thì cao
hơn thị trường. Tình trạng lạm dụng xét nghiệm trong chuẩn đoán, tiên lượng và
điều trị cho những người có BHYT làm cho người bệnh phải cùng chi trả nhiều
hơn. Đối tượng sử dụng thẻ BHYT đến khám chữa bệnh thường bị quá tải và chờ
đợi. Bên cạnh đó việc thanh toán BHYT lại qua 1 cơ quan khác nên phải thông qua
việc kiểm tra, giám sát dẫn đến thời gian bị kéo dài.
* Hệ thống pháp luật và chính sách BHYT
Chính sách BHYT thiếu ổn định, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra của thực
tiễn. Chính sách BHYT tự nguyện chưa sát với thực tiễn, thiếu chặt chẽ, nên chỉ
những người thường xuyên ốm, người mắc bệnh mãn tính hoặc người điều trị đặc
biệt có chi phí lớn mới tham gia. Sự phối hợp liên ngành trong tổ chức thực hiện
Luật BHYT ở một số tỉnh, thành phố chưa chặt chẽ.
Ở Việt Nam đã có chính sách hỗ trợ cho người nghèo được khám chữa bệnh
qua BHYT, với mức hỗ trợ phí BHYT từ ngân sách nhà nước là 50% tổng phí tham

của nhà nước. Dĩ nhiên bệnh viện tư cũng có, nhưng hầu như là không hoặc tham
gia rất ít trong bảo hiểm y tế.
+ Mọi công dân Anh đi khám và chữa bệnh không phải thanh toán tiền.
+ Chính phủ Anh quốc dùng mức đánh thuế cao thay cho lệ phí bảo hiểm y
tế. Cho nên thuế ở Anh cao gần như nhất thế giới.
+ Tất cả công dân Anh phải đăng ký một bác sĩ tổng quát như bác sĩ gia đình
(family doctor) ở Mỹ. Bác sĩ này có toàn quyền quyết định xét nghiệm chẩn đoán
ban đầu và giới thiệu đến chuyên khoa. Bệnh nhân không được quyền gặp thẳng bác
20
sĩ chuyên khoa mà không có sự đồng ý của bác sĩ tổng quát này. Đây là một nhược
điểm làm người bệnh muốn có một điều trị chuyên sâu rất tốn thời gian.
+ Để kiểm soát trách nhiệm và quyền hạn của các bác sĩ gia đình NHS trao
quyền cho NICE(National Institute for Health and Clinical Excellence) kiểm tra dựa
trên hiệu quả của các bác sĩ trên thực tế cho từng trường hợp bệnh cụ thể.
+ Bảo hiểm sai lầm nghề nghiệp của bác sĩ ở Anh khoảng 4% tổng thu nhập.
Mô hình Bảo Hiểm Y tế Quốc gia: do Tommy Douglas, một nhà chính trị
theo trường phái Dân Chủ cấp tiến đề xuất vào năm 1944 cho Canada, sau đó được
cải cách vào năm 1984. Canada, và ở mức độ nào đó, Đài Loan, Hàn Quốc là những
nước theo mô hình này.
+ Dịch vụ y tế do tư nhân cung cấp.
+ Bảo hiểm y tế ở mỗi tiểu bang phải do chính quyền điều hành với mục đích
phi lợi nhuận.
+ Mọi chương trình bảo hiểm phải chi trả cho mọi dịch vụ y tế cần thiết được
chính quyền liên bang liệt kê trong một danh sách cụ thể.
+ Tất cả người dân phải được các bác sĩ và bệnh viện khám và chữa bệnh
không phân biệt giai cấp với cùng một dịch vụ và giá thành như nhau.
+ Người bệnh được thăm khám và bảo hiểm phải chi trả 100% chi phí cho
mọi công dân Canada ở mọi bệnh viện trên đất nước Canada. Ngoại trừ một số thăm
khám ngoài bệnh viện của lĩnh vực Nha khoa.
+ Bác sĩ nhận lương thẳng từ cơ quan bảo hiểm y tế sau khi khấu trừ mọi chi

Quyền lợi và phương thức thanh toán: Người tham gia BHYT công được
hưởng các chế độ dưỡng sức, phòng bệnh và chẩn đóan bệnh sớm. Được sự chăm
22
sóc của bác sĩ trong trường hợp thai sản, sinh con,….Người có thẻ BHYT đi khám
chữa bệnh phải tuân thủ quy định về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật của ngành y
tế mới được hưởng quyền lợi BHYT. Luật cung ứng dịch vụ y tế của Đức quy định
các nguyên tắc hoạt động chuyên môn của bác sĩ phải đảm bảo chất lượng, đồng
thời có hiệu quả kinh tế.
Người Đức xử dụng Thẻ Y tế điện tử tương tự như Carte Vitale của Pháp,
giúp giảm chi phí về quản lý hồ sơ và thanh toán y phí. Bác sĩ ở Đức chỉ phải trả
một số tiền nhỏ hàng năm cho bảo hiểm sai lầm nghề nghiệp, khoảng 1.400$/năm;
tương đương với lệ phí một tuần của bác sĩ ở Mỹ. Nhưng đồng thời, thu nhập của
bác sĩ ở Đức cũng thấp hơn nhiều, trung bình từ 100.000 $ đến 150.000 $/ năm.
* Bảo hiểm Y tế ở Anh
Hệ thống Y tế tại nước Anh là hệ thống y tế toàn diện dựa trên thuế thu nhập,
còn gọi là hệ thống Y tế kiểu Beveridge. Hệ thống này dựa trên nguyên tắc người
dân phải đóng thuế thu nhập và nhà nước sử dụng thuế thu nhập này cho các mục
đích Y tế, giáo dục.
Năm 1981, hệ thống Y tế Anh phải đương đầu với giá dịch vụ y tế leo thang
vì sự trì trệ của hệ thống y tế anh. Thủ tướng Margaret Thatcher đưa ra giải pháp
khuyến khích y tế tư nhân và BHYT tư nhân. Song người dân Anh đã quen với hệ
thống y tế cũ nên không chấp nhận tư nhân hóa. Cuối cùng, một hệ thống y tế kết
hợp giữa một bên là y tế công và một bên là cung ứng dịch vụ y tế tư trong cùng
một tổ chức hệ thống y tế quốc gia Anh đã được áp dụng.
Cơ quan British National Health Service (NHS), do vương công William
Beverdige khởi xướng trước đây hơn 60 năm, đảm trách việc bảo hiểm y tế cho mọi
người ở Anh. Công dân Anh không phải trả lệ phí bảo hiểm. Trẻ em, người già trên
60, người có bệnh kinh niên và thai phụ chỉ phải trả 10$ tiền thuốc cùng với bảo
23
hiểm (gọi là đồng chi trả); khoảng 85% thuốc cho bệnh nhân là miễn phí. Tuy cũng

những nét đặc trưng như sau:
+ Gói quyền lợi chủ yếu: toàn diện (nội, ngoại trú, cấp cứu, dự phòng-tăng
cường sức khỏe, chi phí kỹ thuật cao). Thuốc theo danh mục của Bộ Y tế.
+ Đăng ký nơi khám chữa bệnh có thể là cơ sở khám chữa bệnh tư nhân hoặc
Nhà nước “đơn vị nhận hợp đồng chăm sóc sức khỏe ban đầu” Nếu khám tại nơi
đăng ký ban đầu này thì được miễn phí và chuyển lên tuyến trên khi bệnh nặng và
người tham gia phải chịu toàn bộ chi phí nếu đi thẳng lên tuyến trên.
+Phương thức chi trả: Đối với bệnh nhân ngoại trú áp dụng phương thức
khoán định suất. Bệnh nhân nội trú thì áp dụng khoán tổng quỹ và chi theo nhóm
chẩn đoán. Ngoài ra còn áp dụng một số phương thức khác.
Định suất là phương thức chi trả trong đó quỹ BHYT cấp cho cơ sở y tế một
khoản tiền bằng số người đăng ký KCB theo BHYT tại cơ sở nhân với định suất
phí. Ngân sách này được gọi là quỹ BHYT tại cơ sở y tế và được sử dụng để giải
quyết các nhu cầu KCB của tổng thể đối tượng đăng ký tại cơ sở đó.
Để tính định suất phí, phải sử dụng số liệu về tần suất sử dụng dịch vụ y tế kết
hợp với số liệu tổng hợp về chi phí cung cấp dịch vụ. Điều tra hộ gia đình cung cấp
thông tin đầy đủ về số lần nhập viện, số lần sử dụng dịch vụ ngoại trú, số ngày điều
trị nội trú theo loại cơ sở y tế. Số liệu về tổng chi của bệnh viện kết hợp với tổng số
ca nhập viện, tổng số lần KCB được sử dụng để tính chi phí đơn vị, tức là chi phí
bình quân một đợt điều trị nội trú và chi phí bình quân một lần KCB.
Ở Thái Lan, các nhà nghiên cứu thấy trung bình một đối tượng KCB ngoại trú
3 lần một năm và cứ 10 người lao động có 1 người nhập viện trong năm. Chi phí
25

Trích đoạn Khái quát khu vực kinh tế phi chính thức ở Hà Nộ Công tác thực hiện Bảo hiể my tế khu vực phi chính thức ở Hà Nộ Đánh giá chung về tình hình thực hiện BHYT khu vực kinh tế phi chính thức ở Hà Nộ Lý do chưa tham gia BHYT Định hướng chung phát triển BHYT khu vực phi chính thức ở Hà Nội 1 Định hướng của cả nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status