Tình hình mắc bệnh ngoài da ở trẻ dưới 6 tuổi và nhận thức, thái độ, thực hành của bà mẹ tại 6 xã huyện điện biên tỉnh điện biên năm 2009 - Pdf 18



-1-

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh ngoài da phổ biến là một vấn đề y tế cộng đồng nghiêm trọng ở
hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển [13]. Tại
Việt Nam, năm 1960 Bộ Y tế đã tiến hành nghiên cứu mô hình bệnh tật ở lứa
tuổi thanh niên tại 16 tỉnh vùng đồng bằng và trung du miến Bắc, kết quả cho
thấy bệnh ngoài da đứng hàng thứ 2 và chiếm tỷ lệ 5,68% trong số các bệnh
chuyên khoa. Nếu lấy tỷ lệ này ước tính cho tất cả các lứa tuổi thì vào thời
điểm đó khoảng 12% dân số Việt Nam mắc bệnh da liễu.
Việt Nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế thị trường đã ảnh
hưởng rất lớn đến cơ cấu kinh tế từ thành thị đến nông thôn. Hàng hoá, sản
phẩm, nông sản làm ra từ nông nghiệp ngày càng nhiều và đa dạng. Cuộc
sống của người lao động từng bước được thay đổi, kinh tế nông thôn không
còn độc canh như trước, người dân tăng cường đầu tư máy móc, phân bón hoá
học, trang thiết bị Để giảm bớt cường độ lao động và tăng năng suất. Phát
triển nhiều làng nghề, làm thêm nhiều nghề phụ để giải quyết số lao động dư
thừa trong những ngày nông nhàn. Những thay đổi đó làm cho cuộc sống của
người dân tốt hơn nhưng cùng với nó là sự ô nhiễm môi trường, sự thay đổi
khí hậu làm cho mô hình bệnh tật nói chung, trong đó bệnh ngoài da cũng có
nhiều biến đổi.
Huyện Điện Biên là một trong 9 huyện, thành phố của tỉnh Điện Biên,
một huyện nông nghiệp thuần tuý. Đời sống kinh tế, văn hoá của người dân ở
trong huyện còn thấp, trình độ nhận thức của người dân còn hạn chế. Trong
nhân dân còn tồn tại một số tập quán lạc hậu, đặc biệt là tập quán dùng phân
tươi để bón ruộng, chăn nuôi gia súc thả rông tùy tiện, sử dụng hoá chất bảo
vệ thực vật, rác thải nông nghiệp, rác thải sinh hoạt chưa để tập trung đúng


1.1. CẤU TẠO GIẢI PHẪU, SINH LÝ CỦA DA [18], [61]
Da được cấu tạo gồm 3 lớp: Thượng bì, trung bì, hạ bì. Thượng bì có 5
lớp kể từ dưới lên trên. Lớp cơ bản, lớp gai, lớp hạt, lớp sáng, lớp sừng.
Thượng bì và trung bì được ngăn cách với nhau bởi màng đáy. Trung bì
có cấu trúc gồm 3 phần, những sợi chống đỡ chất cơ bản, tế bào.
Phần hạ bì nằm giữa trung bì và cân hoặc màng xương. Hạ bì là tổ chức
đệm biệt hóa thành tổ chức mỡ có nhiều ụ ngăn cách bởi những vách nối liền với
trung bì, trong đó có mạch máu, thần kinh. Cấu tạo của da rất tinh vi, liên kết
chặt chẽ, biến hóa không ngừng của các lớp tế bào thượng bì, trung bì, hạ bì làm
cho da vững chắc bao bọc cơ thể, chống lại các tác nhân có hại cho cơ thể.
Da luôn luôn trải qua quá trình biến hóa các chất thu nhận những chất
dinh dưỡng tổng hợp thành các chất của nó. Đồng thời phân hủy các chất để
giải phóng ra năng lượng cho các hoạt động sinh lý của da. Các tế bào da
sống được là nhờ những phản ứng sinh hóa. Những phản ứng này được tiến
hành một cách tuần tự ổn định là nhờ các men như: Men sinh năng lượng,
men chuyển hóa Hydratcacbon, mem chuyển hóa hợp chất Nitơ, men chuyển
hóa axit béo.
- Những chất tích điện ở da gồm những ion Cl
-
, Na
+
, K
+
, Ca
++
, Mg
++
.
- Chất lưu huỳnh ở da: Cơ thể không tổng hợp được hỗn hợp axit lưu
huỳnh mà phải lấy từ thức ăn. Lưu huỳnh có ở thượng bì, tổ chức đệm, mồ


-5-
ô nhiễm. Tuy vậy đời sống kinh tế, văn hóa nhìn chung cũng thấp, trình độ
nhận thức của người dân cũng hạn chế. Các tác nhân trên đã phá vỡ các cấu
trúc da, thay đổi pH da, làm da điều hòa thân nhiệt kém, dẫn tới các bệnh
ngoài da trong cộng đồng ngày một tăng cao.
- Lớp ngoài cùng của da có màng sáp gồm: Ion, Cl
-
, Na
+
, axit amin,
đường, Ure, Cholin, mỡ, ngăn nước và các chất hóa học thấm qua da, mùa hè
mồ hôi tiết nhiều, để lâu biến thành Amoniac, da trở nên kiềm pH, 6,5 - 7 vi
khuẩn, nấm có điều kiện phát triển. Vì thế mà bệnh ngoài da hay xuất hiện
vào mùa hè, ở nông thôn, công nhân lao động trong hoàn cảnh nóng, ẩm,
thường xuyên dầm nước.
- Da có màng sáp bảo vệ những thuốc tan trong nước, không bốc hơi sẽ
không thấm được qua da. Những kim loại nặng như chì, Asen có thể phá vỡ
màng sáp gây nhiễm độc da. Ngoài ra da cũng có chức năng bài tiết chất bã
chống thấm nước làm da mềm mại, kháng vi khuẩn và nấm.
Qua cấu tạo, đặc điểm sinh hóa, sinh lý da ta thấy tầm quan trọng của da
trong việc bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của vi trùng, ký sinh trùng,
hóa chất độc hại đối với cơ thể. Da cũng tham gia phản ứng miễn dịch, điều
hoà thân nhiệt giúp cho cơ thể hoạt động tốt.
Trong cuộc sống hội nhập hiện nay sự hiểu biết để bảo vệ môi trường
sống, không bị ô nhiễm tránh các sang chấn cho da khỏi bị tổn thương, tránh
sự xâm nhập của vi trùng, ký sinh trùng và các phản ứng đối với cơ thể, thì sự
thông tin tuyên truyền cho người dân hiểu biết được các tác nhân gây bệnh
ngoài da trong cộng đồng, cách phòng chống và bảo vệ da trong ăn uống,
trong sinh hoạt và khám, điều trị kịp thời là điều rất cần thiết.


-7-
chàm rất đa dạng, nhưng qua hình thức thay đổi phải nắm vững là có mụn
nước điển hình và những giai đoạn khác nhau của nó. Ngứa nhiều hay ít cũng
tuỳ từng giai đoạn cấp tính hay mạn tính.
Phân tích căn nguyên đi kèm với việc phát sinh ra bệnh chàm thì thấy
ngoài các yếu tố ngoại lai ra, nhiều bệnh nhân có một tình trạng cấp hay mạn
tính, xúc cảm mạnh, chấn thương thần kinh, mâu thuẫn trong gia đình hay
trong xã hội, gây ra những điều kiện thuận tiện dễ sinh ra bệnh chàm.
1.2.2. Bệnh sẩn ngứa (Prurigo Hebra)
Bệnh sẩn ngứa có thương tổn căn bản là những sẩn nhỏ, chắc, màu
hồng nhạt, rất ngứa. thỉnh thoảng có trường hợp trước khi phát ra những sẩn
chắc thấy xuất hiện những sẩn phù như sẩn mề đay. Vị trí khu trú đầu tiên ở
mặt dưới các chi rồi sau mới phát ra các phần khác, thân mình, mông, nhưng
hầu như mặt gấp các chi và mặt không bao giờ bị thương tổn. Vì ngứa gãi nên
đa số các sẩn đều bị sướt ra, đóng vảy máu.Da dày, lichen hoá, thâm. Thỉnh
thoảng có biến chứng nhiễm trùng thứ phát. Thường các hạch bạch huyết
sưng to, nhất là hạch bẹn, nách và khuỷu tay. Hạch không đau và không có
khuynh hướng hoá mủ. Vì tính chất đặc biệt của hạch nên gọi là hột xoài
trong bệnh sẩn ngứa.
Về hình thể lâm sàng, có thể nhẹ (prurigo mitis) và thể nặng (pruri-
ferox), tuỳ theo thương tổn và tính chất ngứa nhiều hoặc ít. Trong trường hợp
nặng, bệnh nhân rất ngứa, đứng ngồi không yên, ảnh hưởng đến toàn trạng, ăn
không ngon, mất ngủ, suy nhược. Bệnh kéo dài hàng chục năm, nhất là đối
với đàn ông. Tuổi càng lớn, bệnh có phần giảm bớt.
Bệnh thường bắt đầu ở trẻ nhỏ, tỷ lệ nhỏ bệnh xuất hiện muộn hơn ở
tuổi trưởng thành. Có 2 giả thuyết về cơ chế bệnh sinh. -8-

sẩn ngứa có bọng nước, có xuất huyết hoặc có hoại tử. Có trường hợp có cơn
vượng bệnh phát theo mùa nên gọi là sẩn ngứa mùa đông và sẩn ngứa mùa hạ.
Thể mùa hạ là một trong những hình thể lâm sàng của bệnh da do cảm ứng ánh
nắng. Có thể lâm sàng xuất hiện ở người có mang.
Về tiên lượng: bệnh có tiên lượng tốt.
Về điều trị: Cần chú ý đến chế độ ăn, dùng kháng histamin tổng hợp,
các loại sát trùng đường ruột (salol, benzo - naptol).
1.2.3. Bệnh mề đay (Urticaire) [47], [49]
Ban mề đay là một phản ứng mạch máu của da, đặc điểm là có ngứa,
trên mặt da nổi lên những sẩn phù.
Biểu hiện lâm sàng: Thường có ngứa dữ dội rồi ban xuất hiện ở bất kỳ
chỗ nào trong người. Thương tổn căn bản là một sẩn màu hồng nhợt hay trắng
rồi trở nên xám ở giữa, màu hồng ở xung quanh, to bằng hạt đậu hay bằng
đồng xu. Hình tròn hoặc bờ không đều, nham nhở. Giới hạn rõ rệt.
Cách sắp xếp giữa sẩn phù, ban mề đay có những hình thể rất thay đổi,
mỗi sẩn phù tiến triển nhanh chóng độ một vài giờ, cho đến một vài ngày, rồi
lặn đi trong khi những sẩn mới lại xuất hiện, càng gãi nhiều lại càng ngứa và
càng xuất hiện sẩn mới.
Có một đặc điểm là mỗi khi sẩn phù ăn vào các chỗ da lỏng lẻo, mí
mắt, âm hộ, bao quy đầu hay các niêm mạc thì lan ra nhanh chóng, ngứa, và
rất nguy hiểm. Có những thể rất thay đổi khi thì nhỏ, khi thì to, khi thì khu
trú, khi thì toàn thể. Có khi có cả bọng nước, hoặc phối hợp với phù Quincke. -10-
Bệnh tiến triển thành từng đợt liên tiếp mỗi đợt độ vài ngày, cũng có
khi có thể tái phát dai dẳng hàng năm, do nhiều đợt liên tiếp, lắm khi theo
mùa, theo thay đổi với bệnh hen xuyễn và bệnh đau nửa đầu.
Về cơ chế bệnh sinh: có nhiều yếu tố liên quan đến bệnh.
Yêú tố nhiệt độ như lạnh, nóng: Căn nguyên rất phức tạp, nhiều khi

bệnh cảnh lâm sàng riêng và có một số căn nguyên nổi bật.
Biểu hiện lâm sàng cơ bản là mụn nước với những tính chất đặc biệt
như: Khu trú ở bàn tay, bàn chân, đặc biệt ở mé bên các ngón tay, mặt sau
đốt cuối, lòng bàn tay; mặt bên, mặt trên và mặt dưới các ngón chân, lòng
bàn chân; có khi lần lượt, có khi các vị trí trên đồng thời bị một lúc; Bệnh
không bao giờ vượt lên mé trên cổ tay, cổ chân; có thể có những thương
tổn thứ phát ở các vùng khác của cơ thể, song lại là những mụn nước của
eczema thông thường. Mụn nước ăn sâu trong thượng bì, làm cho da ở trên
nổi sần lên, hình tròn, rải rác hoặc sắp xếp thành chùm. Sờ vào mụn nước
thấy chắc, như có một hạt xơ nằm xen vào trong thượng bì. Các mụn nước
thông thường có kích thước từ 1 - 2mm, đôi khi tổn thương có thể trở thành
những bọng nước khá to, nhất là ở lòng bàn tay, bàn chân.
Các mụn nước phát triển thành từng đợt về mùa xuân và mùa hạ, làm
cho tiến triển của bệnh có tính chất chu kỳ. Thường đến cuối mùa hạ bệnh sẽ
lui dần và sẽ không xuất hiện trong suốt mùa đông, để lại tái phát trong mùa
xuân, sắp tới.
Hiện tượng nhiễm khuẩn thường hay gặp, hoặc tiên phát hoặc thứ phát.
Trong các thể điển hình, nhất là trong thể bọng nước, dịch tiết trong sẽ đục -12-
dần và thành mủ quầng đỏ xung quanh bọng nước xuất hiện, kèm theo có thể
viêm mạch bạch huyết và hạch viêm đau.
Cơ chế bệnh sinh: bệnh thường gặp ở thanh niên hoặc người đứng tuổi,
thường ở nam giới. Căn nguyên sinh bệnh cũng tương tự và phức tạp như đối với
eczema. Tuy nhiên cần nêu lên một số yếu tố đã tham gia vào căn nguyên sinh
bệnh của tổ đỉa như ánh sáng và sức nóng, các nhiễm khuẩn và nhiễm nấm.
Trong thực tế, dựa vào tiến triển ta có thể phân làm 3 loại, tương ứng với những
căn nguyên khác nhau.
Loại cấp tính: Tiến triển nhất thời, có tính chất viêm, thực chất là một

thành dịch khi có chiến tranh, đợt di cư, hội hè. Ngoài ra còn gặp nhiều ở gái
điếm, trại giam. Bệnh ghẻ lưu hành thường xuyên và được coi là một trong 23
loại bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Triệu chứng của bệnh: Thời gian ủ bệnh từ 2 ngày tới vài tuần sau đó
xuất hiện triệu chứng đầu tiên là ngứa. Ngứa nhiều về đêm gây mất ngủ, ngứa
khắp người trừ mắt, da đầu, lưng. Tại nơi gãi xuất hiện vết sước, vảy máu,
vảy mủ, dát đỏ, sẩn mày đay, mụn nước, mụn mủ, dát thâm. Tóm lại ghẻ có
tổn thương đa dạng, thứ phát do gãi bội nhiễm, chàm hoá. Kèm theo ngứa là
mụn nước mọc rải rác hoặc khu trú đặc hiệu ở khe kẽ ngón tay, mặt trước cổ,
khuỷu tay, phía trước nách, núm vú, quanh thắt lưng, rốn, khe mông, lòng bàn
chân hài nhi, đàn ông ở quy đầu xuất hiện vết trợt tròn giống săng giang mai.
Bệnh có yếu tố dịch tễ rõ rệt. Trong gia đình, nơi ở cũng có người ngứa
và tổn thương tương tự như bệnh nhân. -14-
Hai dấu hiệu đặc hiệu của ghẻ không phải lúc nào cũng thấy là luống
ghẻ và khêu được cái ghẻ. Luống ghẻ là những đường hầm do cái ghẻ đục để
đẻ trứng, cuối đường hầm là nơi cái ghẻ ở chỗ phình to hơn.
Tiến triển và biến chứng: Nếu không được điều trị kịp thời bệnh
nhân thấy nhiễm trùng mưng mủ. Có trường hợp giảm ngứa tổn thương
giới hạn nhưng vẫn là nguồn lây bệnh sang người khác. Điều trị kịp thời
nhưng không triệt để, cùng lúc với người trong gia đình, người xung quanh
thì bệnh sẽ tái phát.
Các biến chứng hay gặp trong bệnh ghẻ là chàm hoá, viêm da mủ.
Hiếm gặp bệnh nhân viêm thận nặng do nhiễm độc bởi độc tố ghẻ hoặc liên
cầu khuẩn.
1.2.6. Một số bệnh nấm da thƣờng gặp
1.2.6.1. Nấm da
Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi và cả hai giới. Nguyên nhân gây bệnh là

Bệnh gặp ở nam nhiều hơn nữ. Nguyên nhân do trichophyton,
Epidermophyton.
Tổn thương cơ bản là đám, mảng, dát có hình tròn, hình nhiều cung, kích
thước thay đổi từ 1 - 10mm hoặc to hơn, giữa lành lan rộng ra xung quanh, có
màu đỏ hồng có bờ viền mụn nước. Người bệnh ngứa nhiều đặc biệt khi ra mồ
hôi. Vị trí tổn thương từ một bên bẹn, lan rộng ra vùng mu, xuống đùi, sang
bên đối diện, lan ra kẽ mông, vùng quanh thắt lưng, gầm vú, hố nách, khoeo
chân. Chàm hoá và bội nhiễm là biến chứng thường gặp của bệnh. -16-
Chẩn đoán dựa vào tổn thương cơ bản: dát đỏ lành giữa có bờ viền mụn
nước, có xu hướng ly tâm, vị trí ở vùng bẹn, vòng quanh thắt lưng, hố nách
gầm vú và tìm nấm bằng soi tươi hoặc nuôi cấy.
Bệnh cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh như:
Bệnh Erythrasma là bệnh do vi trùng Corynebacterium gây nên, tổn
thương thâm, không có bờ mụn nước và không ngứa. Vị trí vùng bẹn, cổ.
Bệnh vảy nến thể đảo ngược: Tổn thương vùng ở nếp gấp tổn thương
đỏ, rỉ dịch (có vảy vụn). Xét nghiệm nấm âm tính.
Bệnh nấm kẽ do candida: Tổn thương đỏ bóng có thể có bựa trắng,
không có mụn nước ở viền bờ.
1.2.6.3. Nấm tóc (Tinea capitis)
Đây là bệnh gây nên do Trichophyton, Microsporum. Bệnh gặp ở
mọi lứa tuổi nhưng nhiều hơn ở trẻ em. Bệnh lây lan rất nhanh và có thể
thành đại dịch.
Biểu hiện lâm sàng theo từng thể tổn thương:
Dạng có vảy (dạng tiết bã): Thường do Microsporum. Da dầu có từ 4 -
6 mảng rụng tóc, tròn, bầu dục, đường kính 2 - 6 cm, giới hạn không rõ, có
phủ vảy trắng, xám, mịn, tóc bị xén đều còn 5mm, dễ nhổ, hay gặp ở trẻ em
mẫu giáo và học sinh. Phát huỳnh quang xanh lá cây dưới ánh đèn Wood.

Mất ngủ thường là hậu quả của ngứa khi tổn thương lan rộng. Tổn thương ở
bất kỳ vùng da nào, tuy nhiên tuỳ theo từng thể lâm sàng mà đám tổn thương
hay ở vị trí nào và thường là đối xứng hai bên. -18-
Bệnh có thể hết ở lứa tuổi trẻ em hoặc có thể tái phát, kéo dài sang giai
đoạn người lớn với nhiều hình thái lâm sàng.
Biến chứng: Lichen hoá do gãi, cạo, chà xát, nhiễm trùng, chậm phát
triển thể lực.
Các thể lâm sàng: thể lâm sàng theo tuổi, theo tiến triển của bệnh.
Viêm da cơ địa ở tuổi sơ sinh (Infant tile atopic dermatitis) gặp ở trẻ 2
tuần đến 2 tuổi. Thường gặp ở trẻ em bụ bẫm. Mới đầu ở má, trán tạo thành
hình móng ngựa, quanh miệng sau đó mới lan lên đầu, xuống cổ, lan ra toàn
thân. Tổn thương là dát đỏ, có nhiều mụn nước, trợt, chảy dịch mạnh, nhiễm
khuẩn thứ phát có mủ, vảy tiết, có thể kèm ỉa lỏng, viêm tai giữa thường gặp
ở trẻ có tiền sử bố mẹ, anh chị em mắc bệnh dị ứng.
Viêm da cơ địa ở tuổi trưởng thành có đặc điểm: Bị từ nhỏ, có tiền sử
quá mẫn trong gia đình hoặc bản thân. Tổn thương là các sẩn, mảng lichen
hoá đối xứng ở các nếp gấp, khoeo chân, khuỷu tay. Tiến triển từng đợt, theo
mùa, dai dẳng, tái phát. Thỉnh thoảng có đợt cấp vượng lên. Mụn nước mọc
thành đám trên nền da đỏ, dỉ dịch.
Phân theo tiến triển: thể cấp tính: Da đỏ, phù nề nhiều, chảy nhiều
nước; thể bán cấp: Da còn đỏ, đỡ phù nề, đỡ chảy nước; thể mạn tính: Da dày,
thâm da nhiễm cộm bong vảy và thể nhiễm khuẩn: Bên cạnh những tổn thương
mảng da đỏ, mụn nước thành đám còn có những tổn thương là mụn mủ, vảy tiết
do nhiễm khuẩn.
1.2.8. Bệnh da trong ngành nông, lâm nghiệp và chăn nuôi [57]
1.2.8.1. Bệnh da do ký sinh vật
Loại ký sinh vật Pyemotes ventrico sống trên thân cây ngũ cốc, tự nuôi

cho đến nửa ngày sau khi xuống ruộng làm việc. Đến lúc mặt trời lên cao, -20-
nước ruộng nóng thì ngứa càng tăng lên dữ dội. Nếu nghỉ việc ngứa vẫn kéo
dài đến 2 - 3 ngày hoặc 1 tuần sau.
1.2.8.2. Bệnh da do nhiễm khuẩn
Bệnh thường gặp bao gồm các bệnh viêm da mủ như: viên nang lông,
chốc nhọt, viêm quầng
Điều kiện thuận lợi để bệnh phát triển là vào vụ mùa, nông dân tập thể
làm việc dưới trời nắng, ra mồ hôi nhiều kết hợp với bụi, da bị sây sước trong
lao động nên vi khuẩn dễ xâm nhập vào da để gây bệnh. Biểu hiện lâm sàng là
những mụn mủ trên da thường hoặc khu trú ở nang lông.
1.2.8.3. Bệnh da do tiếp xúc với thực vật
Tiếp xúc với cây lúa và cây ngô: Về mùa thu hoạch lúa và ngô có thể
gặp những trường hợp viêm da. Thường xuất hiện ngứa và nóng ran ở vùng
da bị tổn thương. Vị trí khu trú thường thấy ở vùng da hở. Tuỳ theo mức độ,
có thể xuất hiện những dát đỏ, những ban mày đay, các thương tổn không có
khuynh hướng liên kết với nhau và có tính đa dạng: ban mày đay, mụn nước
và bọng nước. Ngứa là triệu chứng chủ quan thường gặp, có khi ngứa dữ dội.
Do ngứa gãi các mụn nước và bọng nước vỡ ra, tạo thành các vết trợt về sau
khô và đóng vảy tiết. Ngoài ra còn có các vết sước da dài do gãi.
Tiếp xúc với cây hoa, cây cỏ, cây cảnh: các loại như hoa cúc, hoa tulip,
cây artiso, cây cỏ hạc có thể gây cho người làm vườn các loại viêm da khác
nhau như bệnh chàm, bệnh da có bọng nước, có mụn mủ, bệnh mày đay.
1.2.8.4. Bệnh do hoá chất trong nông nghiệp [53] [55]
Các chất hoá học dùng trong nông nghiệp ngày càng nhiều như phân
hoá học, thuốc trừ sâu. Vì vậy khi tiếp xúc với các chất trên có thể bị viêm da,
nhiễm độc dị ứng, đỏ da toàn thân.


hiện ngứa râm ran quanh các nơi tổn thương, đau rát, sốt nhẹ, người bệnh
mệt mỏi khó chịu.
1.2.9.2. Mẩn ngứa dị ứng
Thương tổn là những sẩn nhỏ, chắc hồng, ngứa xuất hiện ngay sau khi
tiếp xúc với hoá chất bảo vệ thực vật tại các nơi tiếp xúc hay có thể lan toả
gây nên ngứa ngáy toàn thân, càng gãi càng ngứa, vì gãi nhiều nên đa số các
sẩn đều bị sướt ra đóng vảy máu, da thâm từng vệt theo vết gãi, đôi khi có
nhiễm khuẩn thứ phát và hạch bạch huyết sưng to.
Qua khảo sát ban đầu tại một số cơ sở bảo quản và sử dụng hoá chất
bảo vệ thực vật ngành Nông nghiệp ở Hải Phòng, Vĩnh Phú tỷ lệ bệnh sẩn
ngứa dị ứng chiếm từ 23,52 - 31,25% khi tiếp xúc với Padan và Monitor.
1.2.9.3. Viêm da tiếp xúc
Viêm da có tính chất cấp hoặc bán cấp, hiếm có trường hợp có xu
hướng lan rộng ra xung quanh, thường khu trú tại nơi tiếp xúc, khi ngừng tiếp
xúc với hoá chất bảo vệ thực vật tổn thương dịu dần.
Khởi đầu là những ban sẩn phù, màu đỏ sau 2 - 3 ngày ban có màu đỏ
thẫm, cuối cùng còn lại mụn nước bằng đầu ghim, với các thương tổn xây sát
ở xung quanh. Ngứa là triệu chứng không thể thiếu được, ngứa ngay từ khi
dính hoá chất và có thể kéo dài vài ngày, càng gãi càng ngứa gây thành đám,
mảng thâm tím rộng.
1.2.10. Một số yếu tố nguy cơ đối với bệnh ngoài da
1.2.10.1. Môi trường bề mặt da
Da có nhiệm vụ che chở cơ thể, hấp thụ các chất nuôi dưỡng, bài tiết
chất độc Chuyển hoá các chất và thu nhận cảm giác. Ngoài những chức
phận riêng biệt đó da còn liên quan mật thiết với các bộ phận khác trong cơ -23-
thể, là nơi phản ánh các tình trạng các cơ quan nội tạng, tình hình các tuyến
nội tiết, biểu hiện những bệnh nhiễm độc, nhiễm khuẩn, dị ứng. Da còn bảo

và có khả năng kích thích sinh kháng thể.
Hoạt động có tính kháng nguyên của phức hợp (protein + hoá chất) phụ
thuộc vào cấu trúc và khả năng dễ kết hợp của hoá chất với protein của cơ thể.
Đường dị nguyên xâm nhập vào cơ thể là đường trực tiếp qua da hoặc qua
đường hô hấp và tiêu hoá. Đối với bệnh da dị ứng nghề nghiệp thì đường vào
qua da là chính [3].
1.2.10.2. Môi trường tự nhiên và xã hội
Ngoài yếu tố nội sinh, sự phát triển bệnh ngoài da còn liên quan chặt
chẽ với nhiệt độ và độ ẩm cao của môi trường, sự thay đổi thời tiết, khí hậu,
nóng và ẩm, thiên tai, thảm hoạ, bão, lũ hoặc các yếu tố ngoại sinh khác.
Tại Hy Lạp: nhiều nghiên cứu thấy số người mắc bệnh ngoài da chiếm
tỷ lệ cao ở những tháng mùa hè và có mưa nhiều. Trong môi trường: các vi
trùng, ký sinh trùng như nấm có thể lây nhiễm cho người, các nấm ưa người,
ưa động vật có thể tồn tại trên tóc, lông, vảy da rơi vãi ra đất từ đó theo
không khí, nước phát tán khắp nơi và trong điều kiện thuận lợi các bào tử nấm
khi bám trên da có thể phát triển thành nấm gây bệnh.
Về mùa đông, khí hậu lạnh cóng do làm việc ngoài đồng ruộng làm cho
da bàn tay khô, nứt nẻ gây đau đớn. Khi làm việc thường xuyên ở ruộng nước,
da chân tay bị ẩm ướt, lỗ chân lông bị giãn rộng sức chống đỡ của da đối với
nhiễm khuẩn giảm sút xuất hiện viêm da mủ, các vết nứt do nhiễm khuẩn
hoặc viêm đỏ da, kèm theo ngứa nhiều. Tại Việt Nam, các bệnh ngoài da phổ
biến quá trình phát sinh phát triển của bệnh không chỉ phụ thuộc vào yếu tố
môi trường sinh thái tự nhiên mà còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố môi
trường xã hội khác như những tập quán dùng phân tươi bón ruộng, chăn nuôi -25-
thả rông. Những hành vi, lối sống, thói quen vệ sinh cá nhân, điều kiện lao
động, các hoạt động của con người gây ô nhiễm môi trường sống.
Nhiều nghiên cứu gần đây cũng nhận thấy da và bệnh da nghề nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status