Sáng kiến kinh nghiệm
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐĂK LĂK
TRƯỜNG PTDTNT TÂY NGUYÊN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
NHÓM ĐỂ HỌC SINH CHỦ ĐỘNG TÍCH CỰC
VÀ HỨNG THÚ TRONG GIỜ HỌC MÔN
SINH HỌC KHỐI THPT HIỆU QUẢ
NGƯỜI THỰC HIỆN: ĐỖ THỊ MINH HẢI
Đăk Lăk, năm học 2010 - 2011
GV: Đỗ Thị Minh Hải - Trường PTDTNT Tây Nguyên 1
Sáng kiến kinh nghiệm
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
1. Lý do khách quan
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành đổi mới toàn diện về giáo dục ở các
cấp học trong đó có cấp Trung học phổ thông (THPT) nhằm nâng cao chất lượng và hiệu
quả đào tạo. Công cuộc đổi mới này liên quan đến rất nhiều lĩnh vực như đổi mới chương
trình, đổi mới sách giáo khoa (SGK): ngày 05 tháng 5 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã kí Quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT về việc ban hành Chương trình
Giáo dục phổ thông. Đổi mới thiết bị dạy học, đổi mới cơ chế quản lí, đổi mới quan niệm
và cách thức kiểm tra đánh giá …
Tuy nhiên, những đổi mới này có đem lại hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều
vào người giáo viên, những người trực tiếp thể hiện tinh thần đổi mới nói trên trong từng
tiết học. Vì vậy, sau khi chương trình SGK mới đã biên soạn xong thì việc đổi mới
phương pháp dạy và học lại trở thành vấn đề rất quan trọng và cấp bách. Chỉ có đổi mới
cơ bản phương pháp dạy và học chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong
kết quả như mong muốn. Chính vì vậy, tôi mạnh dạn đưa ra kinh nghiệm của mình về “
Phương pháp hoạt động nhóm để học sinh chủ động tích cực và hứng thú trong giờ
học môn sinh học khối THPT hiệu quả” cụ thể của bản thân đã thực hiện khi giảng dạy
để đồng nghiệp tham khảo.
II. Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh khối lớp 10, 11 năm học 2006 – 2010 trường PTDTNT Tây Nguyên.
III. Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu về chương trình, nội dung sách giáo khoa, đối tượng học sinh và
việc thực hiện mục tiêu dạy học hiện nay của trường PTDTNT Tây Nguyên.
IV. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận: Phân tích - tổng hợp- khái quát.
- Nghiên cứu thực tiễn: Chủ yếu rút ra từ thực tế kinh nghiệm của bản thân và các bạn
đồng nghiệp qua quan sát, thực hành, kiểm tra, đối chiếu chất lượng.
GV: Đỗ Thị Minh Hải - Trường PTDTNT Tây Nguyên 3
Sáng kiến kinh nghiệm
B. NỘI DUNG
I. Đặc điểm của dạy học theo nhóm và vai trò của hình thức học tập theo
nhóm
1. Đặc điểm dạy học theo nhóm
- Hoạt động dạy học vẫn được tiến hành trên quy mô cả lớp, như mô hình giờ học truyền
thống.
- Việc phân chia nhóm học sinh vừa tuân theo đặc điểm tâm lý - nhận thức của học sinh
vừa phụ thuộc vào nhiệm vụ học tập học sinh phải giải quyết.
- Trong mỗi nhóm phải có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, phải cùng hợp tác giải quyết
nhiệm vụ chung của nhóm.
- Học sinh phải trực tiếp tham gia các hoạt động, giải quyết các nhiệm vụ học tập được
đặt ra cho mỗi nhóm.
- Trong các giờ học tổ chức theo nhóm giáo viên phải là người tổ chức, hướng dẫn hoạt
động cho học sinh chứ không phải làm thay, không áp đặt. Nhiệm vụ quan trọng nhất của
giáo viên trong các giờ học này là phải căn cứ vào nhiệm vụ của giờ học mà thiết kế các
thành về mặt nhân cách xã hội.
- Nếu xét các thành tố giáo dục, có tính đến yếu tố “dạy lẫn nhau”, hoạt động nhóm bao
gồm tất cả những gì học sinh cần. Học sinh có cơ hội thực hành các kỹ năng trí tuệ bậc
cao như kỹ năng sáng tạo, đánh giá, tổng hợp và phân tích. Các em cũng thực hành các
“kỹ năng thông thường” như khả năng cùng làm việc và giao tiếp với nhau.
- Ngoài ra, hoạt động nhóm mang lại cho học sinh một cơ hội thuận lợi để làm quen với
nhau. Nó cũng khơi dậy sự gắn bó tập thể, đặc biệt là khi có hiện diện yếu tố cạnh tranh,
sẽ là một động cơ học tập rất mạnh.
II. Quy trình tổ chức dạy học theo nhóm
Quy trình tổ chức giờ học theo nhóm bao gồm 4 bước cơ bản:
GV: Đỗ Thị Minh Hải - Trường PTDTNT Tây Nguyên 5
Sáng kiến kinh nghiệm
Điểm xuất phát Giáo viên Học sinh Đối tượng học tập
Bước 1: Hướng dẫn Tự nghiên cứu Kinh nghiệm cá nhân
Bước 2: Tổ chức HS HS
(hợp tác, thảo luận)
Kinh nghiệm cá nhân
Bước 3: Tổ chức Nhóm Nhóm
(hợp tác, thảo luận)
Nội dung học tập
Bước 4: Trọng tài, cố vấn Tự điều chỉnh kiến thức
thu nhận được
Tri thức cá nhân
Trong 4 bước trên, cần lưu ý trong bước 2 và bước 3 HS làm việc theo nhóm, còn
bước 1 và bước 4 là bước làm việc cá nhân, HS tự suy nghĩ, tìm tòi. Bước 4 giúp HS tự
lĩnh hội, tự điều chỉnh tri thức thu nhận được. Nó giúp cho kiến thức HS được lĩnh hội
vững chắc hơn. Điều này được thể hiện rõ qua các bước trong quy trình sau:
Các bước Giáo viên (GV) Học sinh (HS)
Bước 1
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ
- Yêu cầu mỗi nhóm báo cáo kết
quả.
- Ghi lại những điểm nhất trí và
chưa nhất trí, những khía cạnh mà
các nhóm bỏ qua.
- Tổ chức thảo luận toàn lớp
- Đại diện các nhóm trình bày, bảo
vệ sản phẩm của mình trước lớp.
- Tỏ thái độ trước những ý kiến của
các nhóm khác
- Khai thác bổ sung ý kiến của các
nhóm khác, điều chỉnh sản phẩm của
nhóm mình.
Bước 4
- Tóm tắt từng vấn đề.
- Đưa ra những nhận xét đánh giá
về kết quả của từng nhóm, từ đó
đưa ra các kết luận khoa học
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề
tiếp theo
- So sánh, đối chiếu kết luận của GV
và của các bạn với sản phẩm ban đầu
của mình.
- Tự sửa sai, bổ sung, điều chỉnh
những gì cần thiết.
- Tự rút kinh nghiệm về cách học,
cách sử lý tình huống, cách giải
quyết vấn đề của mình.
III. Biện pháp tổ chức dạy học theo nhóm
1. Thành phần nhóm
+ Khả năng nghe quan điểm của người khác.
+ Khả năng đáp lại, đặt câu hỏi, thảo luận, tranh luận và lập luận.
- Để học sinh có được những kỹ năng trên, giáo viên cần cho học sinh nhận thức
được mục đích của việc học tập hay làm việc theo nhóm là: Hợp tác và giúp nhau, nghe
lẫn nhau, cùng suy nghĩ.
2. Ra quy tắc cho nhóm
GV: Đỗ Thị Minh Hải - Trường PTDTNT Tây Nguyên 8
Sáng kiến kinh nghiệm
Hướng dẫn cho học sinh ngay từ những lần đầu tiên làm việc theo nhóm theo các
hình thức đến khi quen việc, các em phải cùng nhau hợp sức để hoàn thành nhiệm vụ
được giao.
- Đôi khi học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm có những hành vi cản trở bao gồm thái
độ định kiến, cạnh tranh, bác bỏ người khác và xa lánh mọi người vì vậy GV cùng HS
đưa ra những quy tắc nhóm để giúp nhóm làm việc tốt:
+ Các thành viên trong nhóm đều có lượt được nói, cần tạo điều kiện để HS phát
biểu hết các loại ý kiến khác nhau, đặc biệt ưu tiên các HS yếu kém phát biểu trước. Phải
có sự phân công, các thành viên trong nhóm đều có nhiệm vụ, trách nhiệm giải quyết các
vấn đề học tập của nhóm.
+ Hãy ủng hộ và giúp nhau bổ sung chi tiết
+ Không cười nhạo điều ai đó đã nói
+ Hãy suy nghĩ trước khi đặt câu hỏi
- Ghép đúng học sinh vào nhóm và giao việc phù hợp cho từng nhóm. “Thành
công trong hoạt động nhóm có nghĩa là đã ghép đúng được HS vào với nhau, giao việc
đúng cho nhóm.”
- Các thành viên trong nhóm phải giải đáp các vấn đề học tập cho nhau trước khi
trao đổi với giáo viên.
3. Giao việc cho nhóm
- Giao việc cho nhóm nhiệm vụ thật cụ thể để thực hiện bằng lời, bằng phiếu học tập giao
việc, bằng viết trên bảng Nếu các thành viên trong nhóm phải giải quyết những vấn đề
khác nhau thì giáo viên cần định rõ nhiệm vụ cho từng thành viên từ đầu. GV chỉ đóng
+ GV với tư cách là người tạo điều kiện: Trong khi các nhóm thảo luận, HS có thể
tự do tìm hiểu các ý tưởng và cộng tác với nhau, GV không cần thường xuyên tham vấn,
GV: Đỗ Thị Minh Hải - Trường PTDTNT Tây Nguyên 10
Sáng kiến kinh nghiệm
GV chỉ nên can thiệp khi các nhóm bị lạc đề. GV nên can thiệp bằng cách tổ chức thêm
các tình huống cho HS làm việc theo nhóm.
Ví dụ: Nội dung HS thảo luận: “Các đại phân tử như prôtêin, axit nuclêic, các siêu
cấu trúc như các màng bào quan có phải là vật chất sống không và chúng có được xếp vào
các cấp tổ chức của sự sống không?”
HS thảo luận cho rằng: Các đại phân tử này có những hoạt động sống, quyết định sự sống
nên HS cho rằng chúng là vật chất sống và có thể xếp vào các cấp tổ chức của sự sống.
GV tạo thêm tình huống: “Nếu tách ra khỏi tế bào, các đại phân tử này có thực
hiện được vai trò sống của chúng không?”
HS sẽ tìm hiểu và nhận ra rằng, các đại phân tử này nếu bị tách ra khỏi tế bào thì
chúng là những phân tử chết và không còn thực hiện được vai trò sống của chúng. Các
bào quan này có thể thực hiện được chức năng sống trong điều kiện vô bào nhưng là
những điều kiện giống như điều kiện của tế bào sống. Qua đó HS có thể điều chỉnh được
rằng các đại phân tử và các bào quan không được xếp vào các cấp độ tổ chức của sự sống.
+ GV với tư cách người tham gia: Tức là làm cho HS nói và nghe nhau nói, chứ
không phải chỉ đạo mọi điều HS nói qua GV. Mục đích là HS cảm thấy độc lập và bình
đẳng trong trả lời các bạn. GV có thể tham gia ngồi chung cùng độ cao với HS, cùng đưa
ra ý kiến, ý tưởng hoặc kinh nghiệm của riêng mình để kích thích HS suy nghĩ, thay vì hỏi
quá nhiều câu hỏi.
b. Bắt đầu thảo luận
- GV trình bày kế hoạch chuẩn bị thảo luận cũng như giao nhiệm vụ cho cả lớp,
cho từng nhóm hoặc từng người chuẩn bị để báo cáo (GV thông báo cho HS cách tổ chức
nhóm theo từng giai đoạn). GV có thể bắt đầu phần thảo luận bằng việc trình bày trực
quan, chiếu phim hoặc tạo ra sự bất đồng ý kiến để kích thích thảo luận. Phương pháp
phổ biến nhất là bắt đầu thảo luận bằng đặt câu hỏi.
- HS có thể được thông báo trước các vấn đề thảo luận để chuẩn bị hoặc chuẩn bị
GV: Đỗ Thị Minh Hải - Trường PTDTNT Tây Nguyên 12
Sáng kiến kinh nghiệm
- Cần tạo ra một bầu không khí mà ở đó những ý kiến đóng góp quan trọng không
bị mất đi, bởi vì đôi khi những người có ý kiến hay lại không dám bày tỏ.
4. Đánh giá hoạt động nhóm
Đánh giá quá trình và kết quả hoạt động nhóm là việc quan trọng, GV cần theo dõi
hành vi hợp tác của các nhóm.
- Quan sát HS làm việc trong các nhóm.
- Đánh giá sự tiến bộ của nhóm trên cơ sở thu thập những thông tin về sự tiến bộ
của mỗi thành viên trong nhóm, qua kết quả báo cáo của nhóm, kết quả học tập chung của
cả nhóm.
Sau khi đánh giá, cần đưa ra những phản hồi nhanh chóng, tích cực với học
sinh và nhận thức được những khó khăn cản trở việc học tập nhóm, dựa vào các biểu
hiện: không chú ý, có ý chống đối hoặc các câu hỏi chệch hướng Cuối cùng, cho điểm
thưởng hoặc điểm phạt các cá nhân, các nhóm có biểu hiện tốt hay không tốt.
IV. Các hoạt động theo nhóm
1. Các hoạt động đơn lẻ
Yêu cầu các nhóm tiến hành giải một bài tập, ví dụ: thiết kế một thí nghiệm, trả lời
một câu hỏi; phân tích đánh giá; tiến hành nghiên cứu một bài học, một quyển sách để tìm
thông tin cụ thể.
Bài tập này cần phải hết sức rõ ràng và nếu cần thì nên chia nhỏ. Nếu có thể ta vừa
ra đề bài cho cả nhóm vừa yêu cầu nhiệm vụ cho từng cá nhân. Ví dụ Yêu cầu mỗi học
sinh ghi chép lại các phát hiện của cả nhóm. Nếu sau phần hoạt động nhóm ta có chuẩn bị
phần bài tập cho cá nhân, làm như vậy từng cá nhân học sinh sẽ nắm bài tốt hơn.
2. Bài tập giống nhau, tuỳ chọn khác nhau
Bài tập các nhóm có thể giống nhau hoặc giáo viên cho một số lựa chọn để các
nhóm tự quyết định. Mỗi nhóm có thể làm các bài tập khác nhau, sau đó, kết quả nghiên
cứu của nhóm sẽ được trình bày lại trước lớp. Ta thường có thể sử dụng các bài tập tự do.
GV: Đỗ Thị Minh Hải - Trường PTDTNT Tây Nguyên 13
Sáng kiến kinh nghiệm
phút. Thời gian quay
vòng cũng sau 10
phút
V. Các hình thức tổ chức dạy học theo nhóm
1. Làm việc theo cặp 2 học sinh (Pairwork)
Đây là hình thức học sinh trao đổi với bạn ngồi kế bên để giải quyết tình huống do
giáo viên nêu ra, trong quá trình giải quyết các tình huống, học sinh sẽ thu nhận kiến thức
một cách tích cực. Nhóm này thường được sử dụng khi giao cho HS chấm bài, sửa bài
cho nhau (qua phiếu học tập, qua các bài tập lựa chọn trong sách giáo khoa ).Ưu điểm
của hình thức tổ chức này là không mất thời gian tổ chức, không xáo trộn chỗ ngồi mà
vẫn huy động được HS làm việc cùng nhau.
2. Làm việc theo nhóm 4-5 học sinh hoặc 7-8 học sinh (Group work)
Giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm và thảo luận các bài tập, câu hỏi tình huống
do giáo viên nêu ra.
Có 2 loại hình bài tập: Bài tập cho hoạt động trao đổi và bài tập cho hoạt động so
sánh. Trong hoạt động trao đổi, mỗi nhóm giải quyết 1 vấn đề khác nhau (nhưng cùng 1
chủ đề), sau đó trao đổi vấn đề và giải quyết vấn đề của nhóm mình đối với nhóm khác.
Trong hoạt động so sánh, tất cả các nhóm cùng giải quyết một vấn đề, sau đó so sánh cách
giải quyết khác nhau giữa các nhóm. Hoạt động trao đổi thường được sử dụng cho những
bài học có nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong một thời gian ngắn. Hoạt động so sánh
thường dùng cho những bài học có dung lượng không lớn.
Mô hình nhóm 4-5 học sinh
GV: Đỗ Thị Minh Hải - Trường PTDTNT Tây Nguyên 15
Mô hình nhóm 2 học sinh
Sáng kiến kinh nghiệm
3. Nhóm chuyên gia hay nhóm chuyên sâu (JigsawII)
Ở đây, tổ chức các nhóm có tính luân chuyển. Trước hết, giáo viên chia lớp thành
DD
Sáng kiến kinh nghiệm
nhóm 8, nhóm 16…Cuối cùng cả lớp sẽ có 1 bảng tổng kết các ý kiến hoặc một giải pháp
tốt nhất để giải quyết một vấn đề. Như vậy, bất kỳ ý kiến cá nhân nào cũng đều dựa trên ý
kiến của số đông.
Hình thức học tập này thể hiện tính dân chủ và dựa trên nguyên tắc tương hỗ, mô
hình này phù hợp với các giờ ôn tập khi học sinh phải nhớ lại các định nghĩa, khái niệm,
công thức… đã học trong một chương.
Mô hình nhóm kim tự tháp
5. Hoạt động trà trộn (Mingling Activities)
Trong hình thức này, tất cả các học sinh trong lớp phải đứng dậy và di chuyển
trong lớp học để thu thập thông tin từ các thành viên khác. Sự di chuyển khỏi chỗ ngồi cố
định làm cho các học sinh cảm thấy thích thú, năng động hơn. Đối với các học sinh yếu
thì đây là cơ hội cho họ hỏi nhiều người khác nhau cùng một câu hỏi mà không cảm thấy
xấu hổ. Cũng bằng cách học này, họ sẽ thấy rằng có thể có nhiều câu trả lời đúng, nhiều ý
kiến, nhiều quan điểm khác nhau cho cùng một vấn đề. Có thể coi hoạt động trà trộn là
bảng “trưng cầu ý kiến” và “khảo sát ý kiến” của tập thể. Hoạt động này thường được
dùng trong phần mở đầu của tiết học nhằm “khởi động” hoặc kích thích nhận thức của
học sinh trước khi học bài mới.Mô hình hoạt động trà trộn
GV: Đỗ Thị Minh Hải - Trường PTDTNT Tây Nguyên 17
Sáng kiến kinh nghiệm
VI. Một số thực nghiệm sư phạm về kiến thức thuộc chương trình sinh học 10
được thiết kế dạy học theo nhóm
1. Thiết kế hình thức tổ chức dạy học theo nhóm 2 HS
- Ví dụ : Kiến thức Cấu trúc và đặc tính hoá lí của nước (bài 03)
I. Mục tiêu: Sau khi học xong kiến thức này, HS phải:
II. Nội dung chính:
* Đặc điểm nổi bậc của sự sống là có tổ chức phức tạp gồm nhiều cấp độ: Các cấp độ
đó là: Tế bào ,Cơ thể ,Quần thể ,Loài ,Quần xã , Hệ sinh thái -Sinh quyển
1. Cấp tế bào:
- Tế bào là đơn vị tổ chức cơ bản của sự sống
- Thành phần chính: màng sinh chất, chất tế bào và nhân
- Thành phần cấu tạo nên tế bào: các phân tử; các đại phân tử; các bào quan.
2. Cấp cơ thể:
- Cơ thể đơn bào
- Cơ thể đa bào: tế bào, mô,cơ quan, cơ thể
Như vậy: Cơ thể là một thể thống nhất, gồm nhiều cấp độ tổ chức nhưng hoạt động rất
hoà hợp và thống nhất nhờ có sự điều hoà, điều khiển chung. Do đó, cơ thể thích nghi
được với môi trường sống thay đổi.
3. Cấp quần thể:
- Quần thể bao gồm các cá thể trong cùng một loài tập hợp với nhau trong mối quan
hệ sinh sản và đó chính là cơ sở của tiến hoá dưới tác động của chọn lọc tự nhiên
GV: Đỗ Thị Minh Hải - Trường PTDTNT Tây Nguyên 19
Sáng kiến kinh nghiệm
- Loài là đơn vị phân loại của sinh giới, sự phân bố địa lý của tất cả các cá thể thuộc
các quần thể nếu có khả năng giao phối hữu thụ sẽ thuộc về một loài
4. Cấp quần xã:
- Quần xã là cấp tổ chức gồm nhiều quần thể thuộc các loài khác nhau cùng chung
sống trong một vùng địa lý nhất định.
- Trong tổ chức quần xã có: + Tương tác giữa các cá thể trong quần xã
+ Tương tác giữa các quần thể trong quần xã
5. Hệ sinh thái- sinh quyển:
- Hệ sinh thái là hệ thống tương đối hoàn chỉnh bao gồm một quần xã sinh vật và
nơi sống của quần xã
- Sinh quyển: Khoảng không gian trên trái đất có các cơ thể sống cư trú và các hệ
sinh thái hoạt động
d. QX SV nổi, QX SV tự bơi…
Phiếu học tập 4: (nhóm 4)
GV: Đỗ Thị Minh Hải - Trường PTDTNT Tây Nguyên 21
Sáng kiến kinh nghiệm
- Em hãy đọc thông tin trong SGK và cho biết, tại sao nói quần thể là đơn vị sinh sản và
tiến hóa? Cho ví dụ về quần thể? Có nhận xét gì về các cá thể trong quần thể?
- Em biết gì về đơn vị phân loại loài?
- Quần thể có tương ứng bằng loài không? Vì sao?
Phiếu học tập 5: (nhóm 5 )
- Tìm ví dụ về hệ sinh thái? Khái niệm hệ sinh thái?
- Cho biết cấp độ tổ chức sống cao nhất và lớn nhất của hệ thống sống là gì? Vì sao?
3. Thiết kế hình thức dạy học theo nhóm kim tự tháp:
- Ví dụ : Kiến thức Cấu trúc và chức năng của ADN (bài 6)
I. Mục tiêu: Sau khi học xong kiến thức này, HS phải:
- Giải thích và phân tích được thành phần hoá học của 1 nuclêotit và sự cấu thành
nên axit nuclêic
- Giải thích được mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng của ADN
II. Nội dung chính:
1. Nuclêic- đơn phân của ADN:
- Có 4 loại nuclêôtit (hình vẽ 6.1 trang 27 SGK)
- Thành phần 1 nuclêôtit: Bazơ nitơ, đường đêôxiribôzơ, nhóm photphat
2. Cấu trúc và chức năng của ADN:
- Cấu tạo theo nguyên tắc đa phân (mỗi đơn phân là một nuclêôtit) nên thực hiện
được chức năng mang thông tin di truyền
- Cấu tạo từ 2 mạch theo nguyên tắc bổ sung nên thông tin di truyền được bảo quản
tốt và truyền đạt được thông tin di truyền qua quá trình tự nhân đôi, phiên mã.
GV: Đỗ Thị Minh Hải - Trường PTDTNT Tây Nguyên 22
Sáng kiến kinh nghiệm
III. Tổ chức: Hoạt động nhóm kim tự tháp đối với Phiếu học tập học tập sau:
Phiếu học tập
12
O
6
, tồn tại ở dạng mạch thẳng và mạch vòng
GV: Đỗ Thị Minh Hải - Trường PTDTNT Tây Nguyên 23
Sáng kiến kinh nghiệm
- Có tính khử mạnh
- Vai trò: + Tham gia tạo axit nuclêic (đường ribôzơ và đường đêôxiribôzơ)
+ Nguồn năng lượng của tế bào (glucôzơ, fructôzơ và galactôzơ)
2.Disaccarit:
- CTCTPT: C
12
H
22
O
11
- Được tạo thành từ 2 phân tử monosaccarit
III. Tổ chức: Hoạt động nhóm chuyên gia
Đặt vấn đề: Từ công thức cấu tạo chung của gluxit: C
n
(H
2
O)
n
, em hãy cho biết vì sao
gluxit được gọi là cacbohiđrat?
-Quan sát hình 4.1 SGK trang 20 tìm hiểu xem saccarit có mấy nhóm chính?
Tiếp tục phân HS vào các nhóm gốc và cho hoạt động nhóm chuyên gia đối với phiếu
học tập giao việc 1, 2, 3.
Phiếu học tập
GV: Đỗ Thị Minh Hải - Trường PTDTNT Tây Nguyên 25