SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TÁC PHẨM THƠ TỰ DO TRONG
NHÀ TRƯỜNG THPT TỪ GÓC ĐỘ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI"
1
PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN VỀ
1.1. Lí do chọn đề tài
Dạy học tiếp nhận tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại là một trong những yêu
cầu cơ bản của chương trình Ngữ văn THPT hiện nay. Khác với chương trình văn học
THPT trước đó, sắp xếp vị trí các tác phẩm văn học theo trình tự thời gian, chương trình
Ngữ văn THPT hiện nay được biên soạn theo tiêu chí cung cấp một cái nhìn đầy đủ, toàn
diện về sự phong phú, đa dạng của thể loại văn học. Các tác phẩm thường được sắp xếp
theo nhóm thể loại văn học, bao gồm các thể loại truyện ngắn, thơ trữ tình, kịch, tùy bút,
văn chính luận, phê bình văn học… Đặc trưng thể loại văn học trở thành điểm tựa, đồng
thời cũng là cái đích hướng tới trong quá trình tiếp cận, khám phá thế giới nghệ thuật của
mỗi tác phẩm.
Trong chương trình giảng dạy văn học ở bậc THPT, thơ tự do chiếm một vị trí
quan trọng. Những sáng tác thơ của văn học Việt Nam hiện đại ở thế kỉ XX trong chương
trình Ngữ văn THPT hầu hết là các tác phẩm thơ tự do. Hơn thế đó đều là những tác phẩm
xuất sắc, tiêu biểu của từng thời kì văn học. Quá trình hình thành, phát triển của thơ tự do
là một trong những biểu hiện của sự vận động, phát triển của nền văn học dân tộc. Qua
việc tiếp nhận các tác phẩm thơ tự do, học sinh không chỉ có dịp nâng cao nhận thức thẩm
mĩ, làm phong phú hơn cho đời sống tâm hồn mà còn nâng cao nhận thức về các thời đại
văn học đã qua. Do vậy, việc khám phá, phân tích tác phẩm thơ tự do, ngoài việc chú ý đặc
trưng thi pháp thơ trữ tình, học sinh cần được trang bị những hiểu biết về thơ tự do cũng
như những định hướng cần thiết trong việc tiếp cận, phân tích thể thơ này.
Phân tích, khám phá tác phẩm văn học theo đặc trưng thi pháp thể loại có thể coi
Phương pháp đối sánh
-
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận của đề tài
1.2. Thơ tự do và đặc trưng thi pháp thơ tự do
1.2.1. Khái niệm thơ tự do
Dựa vào những tiêu chí và mục đích nghiên cứu, người ta có thể chia thành các
thể loại văn học khác nhau. Đối với thơ “Dựa vào thể luật, có thể chia ra thơ cách luật và
thơ tự do”và “Đứng về mặt thi pháp, thơ Việt Nam xưa nay phân chia một cách tổng quát
thành hai loại lớn: thơ cách luật và thơ tự do”
Thơ cách luật được hiểu là những bài thơ làm theo những thể thức ổn định, cố
định về mặt thi pháp. Thơ cách luật Việt Nam có hai nguồn: thơ cổ điển Trung Quốc (thất
ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn…) và thơ dân gian Việt Nam (lục bát, song thất
lục bát, hát giặm…). Còn thơ tự do, thật ra không phải là thơ hoàn toàn phủ định mọi luật
lệ của thơ, nhưng đã có sự phá cách về hình thức đúng như tên gọi của nó dưới sự chi phối
của cảm xúc thơ. Nhà nghiên cứu Trần Thanh Đạm từng nhận định: “Gọi là thơ tự do vì nó
bao gồm các loại thơ không theo một thể thức ổn định, cố định nào cả. Số chữ trong từng
câu, số câu trong từng bài, cách hiệp vần, cách ngắt nhịp hoàn toàn phóng khoáng, tùy
theo nội dung bài thơ và chủ định của nhà thơ.Việc nhận diện, tìm hiểu thơ tự do luôn
được đặt trong thế đối sánh với thơ cách luật. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thơ tự do
là “hình thức cơ bản của thơ, phân biệt với thơ cách luật ở chỗ không bị ràng buộc vào
các quy tắc nhất định về số câu, số chữ, niêm đối,…Thơ tự do là thơ phân dòng nhưng
không theo thể thức nhất định”. Nhà thơ Mã Giang Lân cũng quan niệm: “Thơ tự do chủ
yếu nói đến cấu trúc hình dáng của nó, số chữ trong câu không hạn định, có thể một chữ
đến mười chữ hoặc nhiều hơn. Số câu trong khổ thơ cũng không hạn định, có thể là một
thơ tự do hoàn toàn và thơ tự do không hoàn toàn. Những bài thơ có cốt 5, 6, 7 chữ nhưng
không tuân theo niệm luật, đối, vần thì được gọi là những bài thơ tự do không hoàn toàn.
Chẳng hạn như Tràng giang của Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Đây mùa thu
tới của Xuân Diệu…
1.2.2.2. Thơ tự do trong các giai đoạn văn học sau 1945
Chính sự xuất hiện của thể thơ tự do trong phong trào Thơ mới kéo theo sự ra đời của hàng
loạt các cây bút thử sức với thể thơ này trong thơ kháng chiến trong các thời kì chống Pháp
và chống Mĩ. Các nhà thơ đã mạnh dạn đưa thể thơ này đến với đời sống tiếp nhận của
4
công chúng với quan niệm thống nhất thơ tự do cởi bỏ hết những ràng buộc để thơ ca đạt
được đến đỉnh cao của sự thăng hoa. Có thể thấy đến giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám,
thơ tự do có điều kiện để phát triển với nhiều hình thức đa dạng và tiến tới tự do hoàn toàn,
thể hiện ở dạng thức tổng hợp nhiều thể loại, câu thơ ngắt dòng giữa câu theo hình bậc
thang, không viết hoa đầu dòng bài thơ đan xen nhiều thể loại khác nhau như 7 chữ, 4 chữ,
lục bát. Đặc biệt ở giai đoạn chống Mỹ, thơ tự do nở rộ với nhiều cách lựa chọn hình ảnh
táo bạo, mới lạ và nhiều cách sử dụng tiết tấu linh hoạt:
Bốn phương trời
sương sa
Tiếng chuông chùa
ngân nga…
Trời lặng êm
Nghe rèm
Tiếng chuông
Rơi
Thảnh thơi
Êm đềm
(Tiếng chuông chùa – Nguyễn Vĩ)
Với khả năng dung nạp nhiều suy tưởng, nhiều trạng thái cảm xúc sôi nổi trước bao nhiêu
Chân tự do đạp phăng cả hàng rào” ( Xuân Diệu)
1.2.3. Đặc trưng thi pháp thơ tự do
1.2.3.1. Đặc trưng cơ bản của khái niệm “tự do”
Để nhận diện về đặc điểm thơ tự do trước hết ở hình thức kết cấu, chúng ta phải luôn
đặt nó trong mối tương quan đối xứng với thơ cách luật để làm rõ các yếu tố: số chữ trong
câu, số câu trong khổ thơ, vần thơ và nhịp thơ…
Về dòng thơ, nếu như thơ cách luật hạn định về số câu trong bài, số chữ trong câu
thơ thì thơ tự do, mỗi câu thơ không nhất thiết ứng với một dòng thơ mà có thể ngắt thành
nhiều dòng. Mỗi dòng thơ có thể dài ngắn không xác định. Hiện tượng vắt dòng chỉ xuất
hiện trong thơ hiện đại. Có thể xem đây là những khoảng trắng đầy tâm trạng của cái tôi.
Nhịp điệu thơ chính là nhịp điệu tình cảm. Kiểu kết cấu này mở độ lắng cho mạch cảm
xúc, tạo những nốt lặng của hồn thơ. Viết về cái chết và bi kịch của cuộc đời Lor – ca, nỗi
bàng hoàng, đau xót của Thanh Thảo cũng như dồn cả vào chỗ vắt dòng của câu thơ:
Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lor-ca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
6
(Đàn ghi ta của Lor-ca - Thanh Thảo)
Về cấu tạo, thơ tự do có thể có câu dài ngắn khác nhau, mạch thơ có thể liên tục hoặc
ngắt ra nhiều đoạn ngắn, khổ thơ có thể không cần thống nhất và hạn định về số câu. Với
đặc điểm này, thơ tự do có khả năng vận động, khai thác những đề tài rộng lớn của cuộc
sống. Kết cấu bài thơ tự do hoàn toàn chịu sự chi phối bởi dòng chảy cảm xúc của nhà thơ.
Thơ tự do có thể không cần gieo vần hoặc nếu gieo vần thì cũng rất phóng túng
không theo quy luật nhất định. Có thể gieo vần liên tiếp hoặc gián cách, vần ôm…Nói về
chiến tranh; với những phức tạp của mạch cảm xúc, tư tưởng; với chồng chất trăn trở về
được - mất, sống - còn; với sự giằng xé giữa vinh quang – mất mát, thơ tự do là hình thức
phóng khoáng nhất để cái tôi trữ tình dịch chuyển điểm nhìn trên nhiều bình diện. Để khắc
sâu diện mạo của cái tôi trữ tình với những suy tư, trải nghiệm đa chiều, tích hợp nhiều vấn
đề trong nội tại thể thơ luôn là thế mạnh bởi thơ tự do ít bị ràng buộc nhất về mặt vần điệu,
về sự hạn định câu và cho tác giả có điều kiện diễn tả đối tượng một cách thích hợp nhất.
Thơ tự do xem ra là hình thức sát hợp nhất với nhu cầu của các cây bút trẻ trong việc cất
dựng chân dung tinh thần của chủ thể trữ tình. Những vấn đề nhức nhối nhất của hiện thực,
những phân tích lí giải của chủ thể về bộn bề sự kiện e không vừa vặn trong những thể thơ
truyền thống, niêm luật chặt chẽ và hạn định về dung lượng. Sự gò bó của các thể thơ đó sẽ
khuôn hẹp khả năng biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ trẻ với xu hướng đưa chất bộn bề,
trần trụi của đời sống vào thơ.
Thơ tự do mang màu sắc của cái tôi tự do không có nghĩa là nhà thơ tự do viết, tự do bộc
lộ những gì mình mong muốn. Cái tôi trữ tình trong thơ tự do là cái tôi không khép mình
trong khuôn sáo cũ, cái tôi viết, thể hiện trong thơ một đời sống hiện thực sinh động,
phong phú, đáp ứng nhu cầu cảm xúc của người thưởng thức.
1.2.3.3. Cấu trúc thế giới hình tượng trong thơ tự do
Hình tượng nghệ thuật là phương thức để nhà thơ nhận thức và phản ánh đời sống. Trong
sáng tác văn học, hình tượng là toàn bộ thế giới khách quan được nhà thơ chắt lọc, phản
ánh vào tác phẩm của mình. Để xây dựng hình tượng trong thơ, nhà thơ phải đi từ chi tiết,
hình ảnh của cuộc sống đến tứ thơ, ngôn ngữ thơ. Cấu trúc hình tượng trong thơ tự do đặc
biệt chú ý đến tứ thơ. Giữa tứ thơ và thể thơ có một mối quan hệ mật thiết. Nhà thơ Huy
Cận có lần viết: “Không phải tứ thơ nào cũng có thể khuôn vào bất cứ hình thức thể loại
nào. Trong đời làm thơ của tôi, tôi phải thay áo mấy lần cho thơ, phải đổi thể loại thì tứ
thơ mới hiện ra được”. Như vậy tứ thơ phải đầu thai đúng thể loại thì mới làm sống dậy thế
giới hình tượng thơ. Là một thể thơ mang đậm cảm xúc chủ quan, trong thơ tự do, tứ thơ
bao giờ cũng được nảy sinh trên cơ sở cảm xúc và có chức năng biểu hiện cảm xúc ấy qua
hình ảnh, ngôn ngữ nghệ thuật. Do vậy, tiếp cận tác phẩm thơ tự do là cần phải xác định tứ
thơ và sự vận động của hình tượng thơ, có như vậy mới có thể chiếm lĩnh được toàn bộ bài
trong những trạng thái cảm xúc tế vi của người nghệ sĩ. Không chỉ tự do trong hình thức
câu thơ, thể thơ này còn kéo dài biên độ của đoạn thơ, bài thơ. Đó là khi cái tôi có nhu cầu
bộc bạch đến cạn cùng nguồn cảm xúc thẩm mĩ, khi tiếng nói bức bối của chủ thể trữ tình
gần như không thể kiềm nén.
2. Thực trạng của vấn đề
2.1.Vị trí của thơ tự do trong chương trình giảng dạy
Chương trình Ngữ văn THPT đã có sự định hướng cho học sinh những hiểu biết cơ bản về
thơ tự do với việc đưa vào một số tác phẩm tự do hoàn toàn, đặc biệt là trong sách giáo
khoa Ngữ văn 12. Mục Tri thức đọc – hiểu trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, chương trình
nâng cao đã đưa ra định nghĩa khá rõ ràng về thơ tự do: “Thơ tự do có hình thức phân biệt
với thơ cách luật, không bị giảng buộc vào quy tắc cố định về số câu, số chữ, niêm, luật,
đối, vần…. Thơ tự do là thơ hợp thể, xen phối các đoạn thơ làm theo các thể khác nhau
hoặc hoàn toàn tự do. ..”. Đây là một sự định hướng cần thiết và hết sức cơ bản đối với học
9
sinh. Tuy nhiên theo quan niệm này, học sinh sẽ hiểu chỉ những bài thơ tự do hoàn toàn
mới được gọi là thơ tự do.
Theo quan niệm của chúng tôi, thơ tự do bao gồm hai dạng thơ tự do không hoàn toàn và
tự do hoàn toàn. Do vậy thơ tự do đã xuất hiện khá nhiều và chiếm một số lượng đáng kể
ngay từ chương trình giảng dạy đọc hiểu tác phẩm văn học ở lớp 11. Có thể thống kê cụ
thể như sau:
Lớp 11: Chương trình cơ bản
1.
Tiết 77: Hầu trời (Tản Đà)
2.
3.
Tiết 34, 35: Đọc thêm: - Dọn về làng
-
Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên)
-
Đò Lèn (Nguyễn Duy)
4.
Tiết 37: Sóng (Xuân Quỳnh)
5.
Tiết 39: Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo)
Như vậy có thể nhận thấy thơ tự do đã phủ toàn bộ chương trình giảng dạy thơ ở học kì II,
lớp 11 và chương trình lớp 12 trong bộ sách giáo khoa cơ bản. Hiệu quả của những tiết dạy
về thơ tự do trong chương trình có ý nghĩa quyết định trong chất lượng lĩnh hội tri thức đọc
hiểu văn bản văn học của học sinh. Để có một kết quả tốt trong mỗi tiết giảng dạy nói riêng
cũng như cả quá trình dạy học nói chung, giáo viên cần hiểu và lựa chọn phương pháp
hướng dẫn học sinh tiếp cận tác phẩm theo những đặc trưng của thể thơ tự do. Chỉ có như
10
Việc đầu tiên của sự lựa chọn phương pháp tiếp cận không chỉ là hiểu về thơ tự do ở dạng
lí thuyết mà quan trọng là phải thấy được sức hấp dẫn, vẻ đẹp của thơ tự do, khơi gợi được
hứng thú tìm hiểu, khám phá của học sinh đối với những tác phẩm được học. Mỗi thể loại
văn học đều có những đặc trưng riêng về thi pháp. Sự phát triển đổi mới của mỗi thể loại
11
cũng chính là sự đổi mới về thi pháp. Trên chặng đường phát triển, thơ tự do một mặt vẫn
dung chứa hệ thống thi pháp thơ cổ điển, mặt khác lại mở ra hệ thống thi pháp mới. Thi
pháp thơ tự do không chỉ phong phú ở yếu tố hình thức mới mẻ, kiểu thi nhân mới mà còn
ở nhãn quan hướng ngoại.
Phá vỡ những ràng buộc về hình thức thơ, thơ tự do đã vận động và tìm cho mình một hình
thức phù hợp để chuyển tải nội dung, năng lượng cảm xúc, tránh khỏi con đường mòn của
hình thức thơ cổ điển. Nếu như trong thơ cổ điển, hình thức bài thơ được coi là một cấu
trúc khép kín, ngôn từ được sắp xếp theo quy phạm có sẵn thì cấu trúc bài thơ tự do lại là
cấu trúc mở, luôn có xu hướng vận động theo dòng cảm xúc của nhà thơ. Điều này thể hiện
trong việc bài thơ được chia nhiều khổ, nhiều đoạn, khái niệm dòng thơ, câu thơ bị phá vỡ.
Ngôn ngữ thơ chuyển từ câu thơ điệu ngâm sang câu thơ điệu nói. Nghĩa là câu thơ không
đặt ra yêu cầu sắc điệu bằng trắc mà xuất phát từ cảm quan của nhà thơ trước cuộc sống
đang diễn ra hang ngày. Câu thơ điệu nói có thể khi đọc lên không có độ lan truyền bên
ngoài cảm giác âm vận nhưng có độ lan truyền, giao thoa bên trong tâm tưởng. Cảm nhận
câu thơ điệu nói, bạn đọc không chỉ nghe mà còn phải trải nghiệm:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và mây, và cỏ rạng…
Cho chuếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
đọc thơ tự do phảm cảm nhận được nhịp điệu cảm xúc, bám theo mạch tâm trạng của chủ
thể trữ tình trong bài thơ. Nghĩa là người đọc thơ tự do không thể hờ hững đứng ngoài tác
phẩm mà phải sống cùng cảm xúc trong thơ.
3.2.2.Tìm hiểu phong cách nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nhà thơ
Trong thơ tự do, phong cách và cá tính sáng tạo của tác giả được thể hiện khá rõ và chi
phối mạnh mẽ hình thức, nội dung của tác phẩm. Hiểu được đặc điểm phong cách và cá
tính sáng tạo của nhà thơ chính là một con đường để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của
bài thơ.
3.2.3. Tìm hiểu hoàn cảnh cảm hứng và tín hiệu thẩm mĩ của tác phẩm
Phương pháp tiếp cận truyền thống đối với một tác phẩm văn học là tìm hiểu hoàn cảnh ra
đời, xuất xứ, bố cục, chủ dề tác phẩm. Với thơ tự do, ta cũng có thể áp dụng phương pháp
trên nhưng đặc biệt chú ý tới hoàn cảnh cảm hứng khi nhà thơ sáng tác tác phẩm. Bởi
chính hoàn cảnh ấy cho ta hiểu trạng huống cảm xúc của chủ thể chữ tình trong tác phẩm.
Có thể tìm hiểu hoàn cảnh ấy cảm hứng ấy qua những tư liệu ngoài văn bản (lời tâm sự của
nhà thơ) hoặc có thể căn cứ vào chính văn bản thơ. Hàn Mặc Tử sáng tác Đây thôn Vĩ Dạ
trong hoàn cảnh đang bị cách biệt với cuộc sống bên ngoài, đang khao khát trở về cuộc
sống ấy trong khi cái chết đang đến gần. Cho nên chỉ cần một sự kiện là nhận được bức
13
bưu ảnh của Hoàng Cúc, người con gái Tử thầm yêu cũng đủ “đánh động” cả thế giới tâm
hồn niềm khao khát ấy trong Tử. Đó là hoàn cảnh mà ta biết được thông qua tư liệu.
Nhưng với bài thơ Tây tiến thì chỉ cần đọc hai câu thơ đầu, ta cũng có thể sống cùng với
nhà thơ trong nỗi nhớ tha thiết về binh đoàn cũ sau một thời gian đã xa:
Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
( Tây tiến – Quang Dũng)
Khi căn cứ vào chính văn bản để tìm hiểu hoàn cảnh cảm hứng của nhà thơ là căn cứ vào
chính ngôn ngữ, những tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm. Khi đọc văn bản, sống với mạch
cảm xúc thơ, đồng thời cũng là lúc phát hiện ra những tín hiệu thẩm mĩ, những “mắt thơ”,
chiều sâu của sự suy tưởng. Việc hướng đến khái quát về tư tưởng nghệ thuật là khâu cuối
cùng để nhận ra một thông điệp, một cách nhìn, một tâm hồn của nhà thơ biểu hiện trong
tác phẩm.
2.4. Kiểm nghiệm đề tài
Sáng kiến của chúng tôi đã được áp dụng trong quá trình giảng dạy cho các đối tượng học
sinh trong năm học 2011 – 2012 như sau:
- Lớp 11 Pháp: Tiết 78: Vội vàng (Xuân Diệu)
Tiết 80: Tràng giang (Huy Cận)
Tiết 83: Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)
- Lớp 11 Sinh:
Tiết 78: Vội vàng (Xuân Diệu)
Tiết 83: Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)
- Lớp 12 Sinh: Tiết 19,20: Tây tiến (Quang Dũng)
Tiết 39: Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo)
Tất cả các đối tượng học sinh trên đều học chương trình cơ bản, các em đều có sự quan
tâm đến môn văn, tuy nhiên tính chủ động, tích cực vẫn chưa cao. Riêng lớp 11 Pháp, học
sinh có học theo khối D nên mối quan tâm đến môn ngữ văn có cao hơn. Các em đã bắt
đầu có định hướng chiếm lĩnh tác phẩm theo đặc trưng thể loại.
Phương pháp thực nghiệm:
+ Cung cấp kiến thức về thơ tự do
+ Định hướng phương pháp tiếp cận, phân tích thơ tự do đối với từng tác phẩm cụ thể
+ Tôn trọng những cảm nhận, những ý kiến chủ quan của các em về tác phẩm dựa trên
những hiểu biết về thơ tự do
+ Kiểm nghiệm kết quả bằng kiểm tra miệng, kiểm tra viết.
Kết quả thực nghiệm:
+ Học sinh có hứng thú khám phá tác phẩm, biết cách phát hiện ra vẻ đẹp của mỗi bài thơ
dựa trên những đặc trưng thể loại.
+ Thâm nhập sâu hơn vào thế giới nghệ thuật của mỗi bài thơ
có một lòng nhiệt tình, tâm huyết với học trò.
Thanh Hoá, ngày 15 thang 05 năm 2012.
Người thực hiện
16