Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tỉnh Lai Châu được chia tách, thành lập năm 2004, điều kiện kinh tế - xã
hội còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao. Trình độ dân trí của một bộ phận
nhân dân còn thấp, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn,
vùng sâu, vùng xa.
Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục và chống mù chữ các cấp đã đi vào hoạt
động có hiệu quả nhưng còn thể hiện một số điểm còn hạn chế:
- Nhận thức của một bộ phận nhân dân về việc học tập của con em chưa
quan tâm đúng mức, việc khai sinh cho con em chưa kịp thời nên dẫn đến công
tác điều tra còn gặp rất nhiều khó khăn, nhiều bậc cha mẹ chưa chăm lo đến các
điều kiện học tập của con em mình nên việc đi học của các em còn chưa đều.
- Một số cấp uỷ, chính quyền cơ sở chưa quan tâm thường xuyên đến công tác
phổ cập giáo dục, còn hạn chế trong công tác chỉ đạo; chưa thực sự ráo riết trong việc
xây dựng cơ sở vật chất trường lớp học cũng như việc vận động trẻ em đi học.
- Sự phát triển nhanh về quy mô trường lớp học dẫn đến việc xây dựng cơ sở vật
chất chưa đáp ứng kịp nhu cầu, do đó tỷ lệ phòng học tạm còn cao, nhiều trường còn phải
sử dụng chung cơ sở vật chất. Phòng ở giáo viên, học sinh bán trú còn thiếu và tạm.
- Việc đổi mới phương pháp dạy học, ý thức tự học, tự bồi dưỡng của một
số giáo viên chưa cao; trong quản lý chỉ đạo, một số cán bộ quản lý trường học còn
thiếu kinh nghiệm nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng quản lý nói chung và
công tác phổ cập giáo dục nói riêng.
- Công tác điều tra cập nhật dữ liệu phổ cập hàng kỳ, hàng năm của một số ban chỉ
đạo phổ cập giáo dục và chống mù chữ cấp xã chưa quan tâm thường xuyên. Công tác di
dân tái định cư các công trình thủy điện Sơn La, Huổi Quảng, Bản Chát, Nặm Hàng dẫn
đến sự biến động và sắp xếp dân cư nên công tác cập nhật dữ liệu cũng cần được tăng
cường, chỉ đạo ráo riết hơn.
Trước những thực trạng trên đặt ra việc phải đánh giá đúng những thuận lợi,
khó khăn, nguyên nhân của những kết quả đạt được và khuyết điểm yếu kém từ đó đề
ra những biện pháp để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả chỉ đạo công tác phổ
cập giáo dục – chống mù chữ trên toàn tỉnh. Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài
Châu.
6. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trong phạm vi thực hiện công tác phổ cập giáo dục - chống
mù chữ trên địa bàn tỉnh Lai Châu, trong đó chủ yếu tập trung nghiên cứu về
phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Phần thứ hai: NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ VỀ PHỔ CẬP GIÁO DỤC
1. Một số khái niệm
" Phổ cập giáo dục là quá trình tổ chức để mọi công dân đều được học tập
và đạt tới một trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của Nhà nước. Nhà nước
thực hiện phổ cập giáo dục mầm non, phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo
2
dục trung học cơ sở." (Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11/5/2011 sủa đổi
Nghị định số 75 /CP ngày 02/8/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Giáo dục năm 2005).
Phổ cập giáo dục tiểu học là tổ chức việc dạy và học nhằm làm cho toàn
thể các thành viên trong xã hội đến một độ tuổi (thường là độ tuổi bắt đầu chính
thức tham gia lao động) đều có một trình độ nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế xã hội; phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi hiểu đơn giản là
trẻ em 6 tuổi được học lớp 1, 7 tuổi được học lớp 2, 11 tuổi hoàn thành
chương trình tiểu học. Bản chất của phổ cập đúng độ tuổi chính là quá trình
nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học (hạ độ tuổi hoàn thành chương
trình tiểu học xuống 11). Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi là điều kiện cần
thiết để thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Phổ cập giáo dục trung học cơ sở là quá trình tổ chức việc dạy và học
nhằm làm cho toàn thể thanh thiếu niên đã học hết chương trình tiểu học được
học và hoàn thành chương trình cấp trung học cơ sở (hai hệ).
2. Một số chính sách của Đảng và Nhà nước
Phổ cập giáo dục là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Quyền
bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước ”.
Về chế độ chính sách Luật Giáo dục năm 2005 nêu như sau:
" Điều 13. Đầu tư cho giáo dục.
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển.
Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục; khuyến khích và bảo hộ các quyền,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục.
Ngân sách nhà nước phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư
cho giáo dục."
"Điều 89. Học bổng và trợ cấp xã hội
1. Nhà nước có chính sách cấp học bổng khuyến khích học tập cho học
sinh đạt kết quả học tập xuất sắc, ; cấp học bổng chính sách cho sinh viên hệ cử
tuyển, học sinh dự bị đại học, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dạy nghề
dành cho thương binh, người tàn tật, khuyết tật.
2. Nhà nước có chính sách trợ cấp và miễn, giảm học phí cho người học là
đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người dân tộc thiểu số ở vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người mồ côi không nơi nương tựa,
người tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế, người có hoàn cảnh kinh tế đặc
biệt khó khăn vượt khó học tập "
"Điều 92. Miễn giảm phí dịch vụ công cộng cho học sinh, sinh viên.
Học sinh, sinh viên được hưởng chế độ miễn, giảm phí khi sử dụng các
dịch vụ công cộng về giao thông, giải trí, khi đi tham quan bảo tàng, di tích lịch
sử, công trình văn hoá theo quy định của Chính phủ."
Đặc biệt đối với tỉnh Lai Châu, Nhà nước đã cụ thể hoá bằng các chương
trình như 159/CP về kiên cố hoá trường lớp học, chương trình dự án cho trẻ em
có hoàn cảnh khó khăn, chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở, chương
trình hỗ trợ học bổng 186/CP, chương trình 135/CP, chương trình dinh dưỡng
học đường, chương trình vệ sinh môi trường, Chương trình hỗ trợ cho học sinh
dân tộc bán trú, chương trình SEQAP (chương trình đảm bảo chất lượng trường
tiểu học),
duy trì bền vững.
Hai yếu tố quan trọng này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho
nhau, nếu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục và chống mù chữ
mà thiếu một trong hai yếu tố thì sẽ không thể thực hiện được và nếu có thực
hiện thì kết quả sẽ không như mong muốn; để thực hiện được nhiệm vụ phổ cập
giáo dục đòi hỏi phải có sự thống nhất chỉ đạo của các cấp chính quyền từ Trung
ương đến cơ sở, có sự tham gia của toàn xã hội mà trong đó ngành giáo dục làm
"nòng cốt" tham mưu và đảm bảo về chất lượng giáo dục.
Mặt khác chúng ta cần phải quan tâm đến yếu tố cơ sở vật chất trường lớp
học đảm bảo thuận lợi cho học sinh đến trường đến lớp, đội ngũ thầy cô giáo
5
Điều 15 (Luật giáo dục năm 2009) nêu: "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong
việc bảo đảm chất lượng giáo dục".
4. Tính chất của phổ cập giáo dục
4.1. Tính phổ thông
Tính phổ thông thể hiện không những ở nội dung dễ học, kiến thức đơn giản,
sơ đẳng mà còn thể hiện ở sự quan tâm đúng mức đến việc gây hứng thú học tập cho
học sinh nói chung và tạo điều kiện cho học sinh phát triển năng lực cá nhân bằng
các hình thức học tập phù hợp với tình hình cụ thể của nhà trường và địa phương.
4.2. Tính thống nhất
Tính thống nhất được quy định thành những chuẩn mực về số lượng trẻ
em đi học trong độ tuổi nhất định, số thời gian học tập và chất lượng đào tạo,
chất lượng phát triển các mặt nhân cách của học sinh (thống nhất về chương
trình ở từng cấp học, có tính liên thông giữa các cấp học với nhau); việc công
nhận cá nhân đạt chuẩn phổ cập giáo dục từng cấp học thể hiện ở việc học sinh
được xác nhận hoàn thành chương trình đối với tiểu học và được cấp bằng tốt
nghiệp trung học cơ sở (hai hệ) đối với phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
4.3. Tính triệt để
Phổ cập giáo dục luôn mang tính triệt để tức là triệt để cho toàn thể trẻ
em. Thực hiện phổ cập giáo dục không nên bằng lòng hoặc dừng lại ở tỷ lệ phần
độ tuổi phải có ít nhất 80 % số trẻ trong độ tuổi 11 hoàn thành chương trình tiểu
học, số còn lại phải đang đi học; huy động ít nhất 95 % trẻ 6 tuổi vào học lớp 1.
5.3. Chống mù chữ
5.3.1. Đối với cá nhân: người được cộng nhận biết chữ phải được công
nhận hết mức 3ũóa mù chữ (hoặc học hết lớp 3).
5.3.2. Đối với cấp xã: đối với xã có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi phải có
90% trở lên số người trong độ tuổi từ 15-35 biết chữ; Đối với xã có điều kiện kinh
tế xã hội khó khăn phải có 90% trở lên số người trong độ tuổi 15-25 tuổi biết chữ.
5.3.3. Đối với cấp huyện: phải có 90% trở lên số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn.
5.3.4. Đối với cấp tỉnh: phải có 90% trở lên số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn.
5.4. Tiêu chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở
5.4.1. Đối với cá nhân
Thanh thiếu niên được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học
cơ sở phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở (cả 2 hệ phổ thông và bổ túc)
trước khi hết 18 tuổi.
5.4.2. Đối với xã, phường, thị trấn
" Đảm bảo thanh thiếu niên từ 15-18 tuổi phải có bằng tốt nghiệp trung học
cơ sở (hai hệ) đạt từ 80 % trở lên, đối với các xã có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn
và đặc biệt khó khăn 70% trở lên. Tỷ lệ này gọi là tỷ lệ phổ cập giáo dục trung học cơ
sở "
5.5. Tiêu chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi
5.5.1. Đối với xã, phường, thị trấn
- Bảo đảm các điều kiện về giáo viên, cơ sở vật chất, tài liệu, thiết bị, đồ
chơi trong các trường, lớp mầm non năm tuổi.
7
- Huy động 95% trở lên số trẻ năm tuổi ra lớp, trong đó có ít nhất 85% số
trẻ trong độ tuổi được học 2 buổi/ngày trong một năm học (9 tháng) theo chương
trình giáo dục mầm non mới; ở vùng đặc biệt khó khăn và vùng dân tộc thiểu số,
trẻ em được chuẩn bị tiếng Việt để vào học lớp 1.
- Tỷ lệ chuyên cần của trẻ: đạt từ 90% trở lên.
8
chỉ đạo phổ cập các xã, phường, thị trấn về công tác xây dựng kế hoạch, công tác
điều tra, cập nhật, xử lý dữ liệu phổ cập; duy trì tốt chế độ công tác, phân công rõ
trách nhiệm cho từng ngành thành viên ban chỉ đạo, ráo riết trong việc đôn đốc
thực hiện tại trường học, thôn bản, hộ gia đình; tổ chức vận động và có sự phối
hợp tốt giữa nhà trường, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và gia đình học sinh
trong việc vận động học sinh ra lớp và duy trì tỷ lệ chuyên cần cao; huy động và
tranh thủ các nguồn lực hỗ trợ cho giáo dục;
Ban chỉ đạo đã chỉ đạo các trường thường xuyên rà soát số liệu thực tế, cập
nhật, hoàn thiện hồ sơ, rà soát đối chiếu kế hoạch để có biện pháp huy động và
duy trì học sinh; chỉ đạo các trường tổ chức tốt các hoạt động giáo dục, thực hiện
“một hội đồng, hai nhiệm vụ”; bảo đảm thanh toán kịp thời, đủ chế độ cho giáo
viên, học sinh và người làm công tác phổ cập; chỉ đạo phòng Giáo dục và đào tạo
thành lập và duy trì tốt hoạt động của tổ cốt cán phổ cập, thường xuyên kiểm tra
đôn đốc các đơn vị hoàn thiện hồ sơ và cập nhật dữ liệu.
Tỉnh được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và
chống mù chữ năm 2000; phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi năm 2009; phổ
cập giáo dục trung học cơ sở năm 2007. Đây là cơ sở để tiếp tục duy trì vững chắc
kết quả phổ cập giáo dục các năm tiếp theo.
100% các xã, phường, thị trấn đều có 3 cấp học từ bậc mầm non đến cấp
trung học cơ sở. Không có đơn vị trường liên cấp nên công tác giáo dục nói
chung, công tác phổ cập giáo dục nói riêng có nhiều thuận lợi.
Nhân dân các địa phương có truyền thống hiếu học từ lâu đời, truyền
thống đó tiếp tục được các thế hệ trẻ kế tục và phát huy.
1.2. Khó khăn
Lai Châu là một tỉnh miền núi, địa bàn quản lý rộng, địa hình chủ yếu là
đồi dốc, chia cắt bởi nhiều sông suối, mật độ dân số thấp, giao thông đi lại khó
khăn, tỷ lệ đói nghèo cao. Cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học còn thiếu nhiều,
toàn tỉnh còn 1379/6021 = 22,9% phòng học tạm, phòng học mượn, nhờ còn
285/6021= 4,73% .
2.2. Đội ngũ giáo viên- Chất lượng giáo viên (Phụ lục 2).
2.3. Tổ chức lớp, huy động học sinh học phổ cập GD THCS
- Tỷ lệ % trẻ 6 tuổi vào học lớp 1: 9511/9522 = 99,88%
- Tỷ lệ % trẻ 11 - 14 tuổi tốt nghiệp tiểu học: 27464/28187 = 97,43%
- Tỷ lệ % học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào học lớp 6: 6879/7080
= 97,16%
- Tỷ lệ % học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở (2 hệ) năm học vừa qua:
5010/5036 = 99,48%
- Tỷ lệ đối tượng 15 - 18 tuổi tốt nghiệp trung học cơ sở (2 hệ): 19151/23332
= 82,08%
Tổ chức lớp học được tiến hành duyệt vào tháng 12 hàng năm trên cơ sở điều
tra từng thôn bản, các lớp được mở đến thôn bản tạo điều kiện cho học sinh có điều
kiện tham gia học tập thuận lợi. Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục các huyện ,thị xã đã
chỉ đạo các trường học, ban chỉ đạo xã thường xuyên kiểm tra, vận động học sinh ra
lớp đảm bảo theo kế hoạch. Nhà trường thực hiện kế hoạch giảng dạy theo chương
10
trình bổ túc trung học cơ sở, thực học thời gian tối thiểu 6 tháng/1 lớp. Phòng Giáo
dục và đào tạo đã chỉ đạo các đơn vị nhà trường thực hiện nhiệm vụ giảng dạy theo
đúng phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và đào tạo quy định, đội ngũ giáo
viên thực hiện theo phương châm "một hội đồng hai nhiệm vụ" vừa giảng dạy các
lớp phổ thông vừa tham gia giảng dạy các lớp bổ túc trung học cơ sở.
2.4. Kết quả đạt chuẩn phổ cập giáo dục (Phụ lục 4) và chống mù chữ
tính đến tháng 12/2011
Các tiêu chí
Năm 2009
(số xã đạt chuẩn)
Năm 2010
(số xã đạt
chuẩn)
Năm 2011
11
Công tác tham mưu với vai trò nòng cốt, là thường trực của Ban chỉ đạo
cấp xã của một số đơn vị trường học còn yếu, chưa đưa ra được các biện pháp
thiết thực và hiệu quả trong việc phối hợp với các tổ chức, ban ngành, đoàn thể
trong địa bàn dẫn đến công tác điều tra của một số thôn bản chưa chính xác,
công tác kiện toàn hồ sơ, cập nhật thông tin của một số trường chưa tốt;
Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục của một số xã hoạt động kém hiệu quả, việc
nắm bắt thông tin về số lượng học sinh ra lớp chưa thường xuyên. Một số thành
viên ban chỉ đạo phổ cập cấp xã chưa nắm vững nghiệp vụ về công tác phổ cập,
chưa chú trọng công tác tuyên truyền, vận động gia đình cho con em đi học;
Nhận thức về công tác giáo dục của một bộ phận nhân dân còn hạn chế,
còn tư tưởng trông chờ ỷ lại vào nhà nước, phó mặc việc học tập của con em
mình cho các thầy cô giáo và nhà trường, ít chú ý động viên con em ra lớp.
3.3. Nguyên nhân
3.3.1. Nguyên nhân của những điểm mạnh:
Do sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các cấp uỷ, chính quyền địa phương và
sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành, đoàn thể từ huyện đến cơ sở. Đây là yếu
tố quyết định đến sự thành công của công tác phổ cập trong thời gian qua và trong
những năm tiếp theo.
Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục và chống mù chữ đủ về số lượng, có nghiệp
vụ công tác phổ cập giáo dục vững vàng để triển khai có chất lượng và hiệu quả.
Các thành viên Ban chỉ đạo được giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng từng công tác, từng
địa bàn, thường xuyên kiểm tra, uốn nắn những thiếu sót, kịp thời và giải quyết dứt
điểm từng nhiệm vụ trong từng thời kỳ, trên từng địa bàn từ thôn, bản, xã, thị trấn
đến huyện. Tổ chức tốt việc giao ban định kỳ, từ đó tập hợp tình hình đánh giá
kết quả và đề xuất các nhiệm vụ tiếp theo; thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ
phổ cập giáo dục cho cán bộ, giáo viên và ban chỉ đạo xã, thị trấn; phòng Giáo
dục và Đào tạo đã duy trì tốt hoạt động của tổ cốt cán phổ cập giáo dục;
Cơ sở vật chất trường học được đầu tư đảm bảo đủ cho dạy và học; các
địa phương đã tích cực phấn đấu để có thêm nhiều phòng học, phòng ở giáo viên
CHỮ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU
1. Đối với uỷ ban nhân dân tỉnh, ban chỉ đạo cấp tỉnh
1.1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo.
- Tiếp tục tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền
và tổ chức đoàn thể xã hội các cấp tuyên truyền tới mọi tầng lớp nhân dân, nâng
cao nhận thức về vai trò, mục tiêu đối với công tác phổ cập giáo dục trong toàn tỉnh
nhằm duy trì sĩ số học sinh, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học cũng như nâng cao chất
lượng dạy và học, tạo sự phát triển toàn diện về giáo dục một cách đồng đều giữa
các vùng miền.
- Tăng cường mối liên kết giữa ngành giáo dục và đào tạo với các ngành,
các đoàn thể, dự án, các chương trình đảm bảo chất lượng và hiệu quả. Ngành
giáo dục và đào tạo phối hợp chặt chẽ với các ban ngành đoàn thể, các lực lượng
xã hội để thực hiện tốt việc vận động học sinh ra lớp, duy trì sĩ số và đảm bảo tỉ
lệ chuyên cần theo đúng kế hoạch. Tranh thủ sự giúp đỡ của Bộ Giáo dục và đào
tạo và các ban ngành trong tỉnh trong công tác duy trì, giữ vững và nâng cao
chất lượng phổ cập giáo dục.
- Đổi mới, nâng cao chất lượng trong công tác tuyên truyền về phổ cập giáo
dục và quán triệt thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII theo
hướng thiết thực, phù hợp với từng đối tượng, địa bàn. Đẩy mạnh công tác tuyên
truyền trên cơ sở quán triệt về đường lối quan điểm của Đảng, chủ trương của
Nhà nước về việc thực hiện nhiệm vụ duy trì, giữ vững kết quả và nâng cao chất
13
lượng phổ cập giáo dục đến các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân
dân. Xác định đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà các cấp các ban
ngành, đoàn thể từ tỉnh, huyện đến xã cần tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện:
Tiếp tục “Tổ chức học chữ để xóa đói giảm nghèo”, “Học chữ để xây dựng làng
bản văn hóa”.
- Kiện toàn, củng cố ban chỉ đạo phổ cập giáo dục giai đoạn 2011 - 2015
từ tỉnh đến huyện, xã; xác định rõ và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành thành
viên trong ban chỉ đạo các cấp.
lại vào cuối năm 2011, đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở 01 xã còn
lại vào cuối năm 2013. Giảm tối đa số dân trong tỉnh bị mù chữ.
1.2. Phát triển giáo dục đồng bộ giữa các cấp học.
- Phát triển ngành học mầm non, đặc biệt thực hiện tốt phổ cập giáo dục mầm
non cho trẻ 5 tuổi, làm cơ sở cho giáo dục tiểu học. Triển khai chỉ đạo các cơ sở giáo
dục mầm non làm tốt công tác chăm sóc trẻ, đảm bảo tuyệt đối an toàn cho trẻ, phấn
đấu giảm tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng hàng năm xuống từ 1-2%. Tăng cường việc huy
14
động tối đa trẻ em 5 tuổi đến lớp. Thực hiện chuyển đổi các loại chương trình cho
phù hợp, phấn đấu đến năm 2015 có 100% trẻ 5 tuổi được học chương trình giáo dục
mầm non mới. Đảm bảo mọi trẻ em 5 tuổi đều biết tiếng Việt, đảm bảo hoàn thành
thực hiện đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, là cơ sở vững chắc để tiếp
tục duy trì giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.
- Duy trì, giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ;
phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Huy
động tối đa số trẻ 6 tuổi vào lớp 1, nâng cao chất lượng dạy và học, giảm tỉ lệ
học sinh lưu ban, bỏ học (dưới 2%), đảm bảo hầu hết học sinh 11 tuổi đến 14
tuổi hoàn thành chương trình tiểu học.
- Huy động từ 95% đến 100 % số trẻ em tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6
(trung học cơ sở và bổ túc trung học cơ sở); thực hiện phân luồng sau trung học
cơ sở, mở rộng mạng lưới các trường trung học phổ thông, các trung tâm giáo
dục thường xuyên tạo điều kiện thuận lợi thu hút học sinh tốt nghiệp trung học
cơ sở có thể học lên trung học phổ thông.
- Củng cố, phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú; quan tâm
chú trọng phát triển mô hình trường phổ thông dân tộc bán trú, kết hợp phương
thức Nhà nước và nhân dân cùng làm; phát triển các trường trung học phổ thông
tạo điều kiện thuận lợi thu hút học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở học lên bậc
trung học phổ thông và bổ túc trung học phổ thông chuẩn bị tiến tới phổ cập bậc
trung học phổ thông
- Thực hiện tốt quy hoạch mạng lưới trường lớp tỉnh Lai Châu đến năm 2020. Phát
chính qui)
1.3. Tăng cường phát triển đội ngũ giáo viên.
- Phát triển đội ngũ giáo viên cả về số lượng và chất lượng nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện trong các cấp học. Nâng cao năng lực đào tạo, bồi
dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý ở các trường trung học cơ sở; các trung tâm
giáo dục thường xuyên, dạy nghề; đảm bảo đủ giáo viên trung học cơ sở có trình
độ đào tạo cao đẳng sư phạm trở lên;
- Tăng cường bồi dưỡng đội ngũ giáo viên hiện có để chuẩn hoá và nâng
chuẩn cho giáo viên về trình độ, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn phù hợp với
những đổi mới về nội dung và phương pháp giáo dục phổ thông đáp ứng tốt
nhiệm vụ phổ cập giáo dục của tỉnh Lai Châu.
- Ngành giáo dục và đào tạo chủ động tham mưu với các cấp ủy Đảng,
chính quyền xây dựng kế hoạch tuyển mới, đổi mới cách thức tuyển dụng giáo
viên; phối hợp rà soát lại đội ngũ giáo viên hiện có, phân bổ và điều chuyển hợp
lý cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên. Thực hiện tốt quy chế luân chuyển cán
bộ giáo viên.
- Tăng cường công tác tự học, tự bồi dưỡng dưới nhiều hình thức để nâng
cao dần chất lượng đội ngũ giáo viên - trước mắt là đảm bảo dạy tốt chương
trình mới, sách giáo khoa mới, dạy học sát đối tượng học sinh và đảm bảo kiến
thức theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ GD&ĐT đã ban hành.
- Tiếp tục tuyển dụng giáo viên để có đủ giáo viên tổ chức cho trẻ ăn bán
trú tại các trường mầm non.
- Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên mầm non làm công
tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi.
1.4. Huy động học sinh, tổ chức lớp, duy trì dạy học đối với các lớp phổ
cập.
- Tập trung chỉ đạo quyết tâm huy động, duy trì số học sinh bỏ học ra học
các lớp bổ túc trung học cơ sở, xây dựng thêm lớp học, huy động giáo viên tham
gia giảng dạy các lớp phổ cập.
- Xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các trường,
- Cử cán bộ đi bồi dưỡng ở trường Cán bộ quản lý Trung ương.
- Mở các lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý tại tỉnh, đặc biệt là cán bộ cơ sở,
người chịu trách nhiệm trực tiếp về công tác phổ cập giáo dục (đặc biệt là phổ
cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi)
- Bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên cho các cán bộ quản lý, chỉ đạo và
theo dõi công tác phổ cập giáo dục của đơn vị các cấp.
- Tổ chức đoàn cán bộ đi học tập kinh nghiệm những đơn vị điển hình
trong công tác thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi và công tác
duy trì, giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục .
- Tăng cường giáo viên, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên trách phổ cập giúp
đỡ các xã còn nhiều khó khăn về công tác phổ cập giáo dục .
- Đẩy mạnh kiểm tra chéo, đánh giá hiệu quả quản lý thực hiện chương
trình phổ cập giáo dục của ban chỉ đạo, ban giám hiệu, đội ngũ giáo viên về
nhận thức cũng như ý thức trách nhiệm thực hiện phổ cập giáo dục và trách
nhiệm trong công tác quản lý, giảng dạy tại địa phương.
- Công tác thanh tra, kiểm tra của ban chỉ đạo phổ cập các cấp phải tiến
hành thường kỳ để kịp thời tư vấn, hướng dẫn giúp đỡ và giải quyết những
vướng mắc phát sinh của cơ sở; giữ ổn định cán bộ phụ trách công tác phổ cập
từ Sở, phòng đến đơn vị trường.
- Nâng cao công tác quản lý giáo dục các cấp, nhất là công tác tham mưu,
công tác tổ chức dạy và học, giữ tỷ lệ chuyên cần, nâng cao chất lượng các lớp
phổ cập nhất là vào dịp lễ tết, mùa vụ, phát huy trách nhiệm của người đứng đầu
mỗi đơn vị giáo dục.
17
1.6. Củng cố, xây dựng cơ sở vật chất, nâng cấp và đổi mới trang thiết
bị phục vụ cho dạy và học.
- Thực hiện tốt Đề án quy hoạch mạng lưới trường lớp để củng cố, xây
dựng đủ các hạng mục trong nhà trường, từng bước tăng cường đầu tư cơ sở vật
chất cho các trường (đặc biệt tập trung đầu tư xây dựng hệ thống trường chuẩn
Quốc gia cho các bậc học để nâng cao chất lượng giáo dục).
a. Mức chi cho một lớp gồm:
- 01 sổ đầu bài, 01 sổ điểm;
- 02 đèn tọa đăng, 150 lít dầu (chỉ cấp đối với nhưng nơi không có điện).
- Đối với lớp dùng điện :
+ Chi phí lắp đặt thiết bị điện theo dự toán được Sở GD&ĐT duyệt.
+ Điện năng tiêu thụ tối đa 800W/1 tiết học.
b. Mức chi cho một giáo viên
- Sách giáo khoa 1 bộ/khối lớp;
18
- Văn phòng phẩm: Vở kẻ ngang 10 quyển/01 khối lớp dạy/khóa học; bút bi
10 cái/01 khối lớp dạy/khóa học; thước kẻ 01 cái/01 khóa học; sổ ghi đầu bài,
phấn không bụi 04 hộp/01 lớp/khóa học; sổ điểm cá nhân 01 quyển/01 lớp dạy
c. Mức chi cho một học sinh học phổ cập
- Sách giáo khoa 1 bộ/khối lớp/học sinh;
- Học bạ 01 quyển/học sinh;
- Văn phòng phẩm: Vở kẻ ngang 10 quyển; bút bi 07 cái /khóa học; thước
kẻ 01 cái.
- Được cấp bằng tốt nghiệp bổ túc trung học cơ sở.
1.7.6. Chi cho công tác bồi dưỡng nghiệp vụ, hội nghị, hội thảo, chế độ công tác
phí.
Thực hiện theo Thông tư số 97/2010/TT-BTC ngày 06/7/2010 của Bộ Tài
chính và quyết định số 37/2010/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 của Uỷ ban nhân
dân tỉnh Lai Châu về việc ban hành Quy định chế độ công tác phí, chế độ tổ
chức các hội nghị đối các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập trên
tỉnh Lai Châu
1.7.7. Chi cho công tác kiểm tra, thẩm định công nhận phổ cập
- Chi công tác phí theo chế độ hiện hành
- Chi giấy bút, tiền thuê in hoàn thiện hồ sơ sổ sách
- Thành viên trong hội đồng thẩm định được phụ cấp 50.000đ/người/ngày trong
những ngày thẩm định công nhận hoàn thành phổ cập của một đơn vị xã, huyện, tỉnh.
Tiếp tục vận động thanh thiếu niên trong diện phổ cập còn ngoài nhà
trường đến trường học tập. Duy trì sĩ số, số lượng học sinh ra lớp;
Chỉ đạo ngành giáo dục thực hiện tốt quy chế chuyên môn, tăng cường
kiểm tra công tác dạy học, thực hiện đầy đủ chương trình, kế hoạch dạy học,
giảm tỷ lệ học sinh yếu kém, hạn chế tối đa học sinh lưu ban. Tổ chức tốt công
tác ôn tập, phụ đạo học sinh yếu kém và bồi dưỡng học sinh khá giỏi;
Thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không” của ngành phát động nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; cuộc vận động "Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; phong trào “xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và đào tạo phát động.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các ngành học, cấp
học; thực hiện tốt kế hoạch luân chuyển đội ngũ giáo viên; xây dựng kế hoạch
đào tạo giáo viên nâng chuẩn, đào tạo giáo viên cho phổ cập giáo dục mầm non
năm tuổi trên cơ sở tham mưu với huyện có những lớp gửi đi học về giáo dục
mầm non nhằm đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn tiếp theo.
2.3. Giải pháp về tài chính
Chỉ đạo ngành giáo dục thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ cho người
dạy và người học; quản lý chặt chẽ chất lượng các lớp phổ thông, bổ túc;
Tranh thủ mọi nguồn vốn đầu tư để nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị
trường học theo hướng chuẩn hoá, tạo điều kiện cho việc thực hiện tốt công tác
phổ cập giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; cung cấp đủ tài liệu
về công tác phổ cập, các văn bản chỉ đạo của Trung ương và địa phương cho tất
cả ban chỉ đạo các xã, thị trấn; bổ sung các biểu mẫu, sổ sách cần thiết cho công
tác phổ cập giáo dục và chống mù chữ.
2.4. Giải pháp về xã hội hóa giáo dục
Tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục, huy động các nguồn hỗ trợ của
các tổ chức, cá nhân, các chương trình dự án đầu tư cho phát triển giáo dục, hỗ
trợ học sinh các gia đình nghèo, gia đình khó khăn trên địa bàn huyện.
2.5. Giải pháp về tuyên truyền vận động
Giới thiệu nhân rộng điển hình các tổ chức và các nhân có sự tham gia
giáo dục như vận động gia đình cho con em đi học, cùng hỗ trợ xây dựng cơ sở vật
chất trường lớp học, quy hoạch mạng lưới trường lớp, xây dựng nhà ở cho học sinh
nội trú dân nuôi, ; duy trì hoạt động của tổ cốt cán phổ cập trong các nhà trường.
Tổ chức cho các cháu học tập ở nhà vào tối: Ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch
trình cấp uỷ, chính quyền xã về kế hoạch, xây dựng góc học tập cho các cháu tại
mỗi gia đình - góc học tập hợp lý. Ban kiểm tra của thôn thường xuyên kiểm tra
đôn đốc các gia đình trong việc tạo điều kiện cho con em mình tự học ở nhà.
3.2. Giải pháp về nâng cao chất lượng dạy và học
Thực hiện nghiêm túc tốt cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh" trong toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân; thực hiện
21
tốt cuộc vân động “Hai không” của Bộ giáo dục và đào tạo phát động nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một
tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”. Triển khai sâu rộng phong trào “xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong toàn ngành, gắn các cuộc
vân động với phong trào thi đua “hai tốt” một cách chặt chẽ.
Phối hợp với các ban ngành đoàn thể trên địa bàn tổ chức tốt việc học buổi
tối ở nhà cho học sinh, có quy định cụ thể giờ học buổi tối cho học sinh, có sự
giám sát của các thành viên ban chỉ đạo là trưởng khu, trưởng bản, tổ nhóm điều
tra cố định ở từng thôn, có cam kết với từng gia đình về giờ giấc học tập buổi tối
ở nhà và học tập chính khoá ở trường nhằm tác động đến nhận thức của mỗi bậc
cha mẹ học sinh, tăng cường sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường và xã hội;
Nhà trường tích cực quản lý chặt chẽ ngày giờ công của giáo viên, thực
hiện cam kết chất lượng đến từng lớp, từng giáo viên. Xác định tiêu chí chất
lượng dạy học là một trong những tiêu chuẩn để xếp loại năng lực chuyên môn,
tay nghề của mỗi giáo viên; tăng cường đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tích cực, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, xác định “mỗi
ngày đến trường là một ngày vui, ngày học tập hiệu quả”;
Tăng cường các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các phòng trào thi đua như
"Thi đua hai tốt", vận động các em tham gia ủng hộ, giúp đỡ các bạn học sinh có
chiếu với các hồ sơ liên quan về phổ cập giáo dục trung học cơ sở để đảm bảo
tính thống nhất số liệu; khi đã đối chiếu với các hồ sơ đã khớp từng đối tượng,
từng học sinh các nhóm tổ chức thống kê theo các biểu mẫu quy định;
Việc 4: Trình hiệu trưởng nhà trường duyệt và trưởng ban chỉ đạo cấp xã
phê duyệt trước khi chuyển lên cơ quan chỉ đạo cấp trên và lưu tại nhà trường
(đối với các xã có nhiều trường tiểu học hoặc nhiều trường trung học cơ sở thì
thư ký ban chỉ đạo chịu trách nhiệm tổng hợp chung toàn xã).
Phần thứ ba: KẾT LUẬN
Trong giai đoạn hiện nay, công tác giáo dục nói chung và công tác phổ cập giáo
dục nói riêng luôn được các cấp quan tâm chỉ đạo, luôn được sự ủng hộ nhiệt tình của
đông đảo quần chúng nhân dân. Đẩy mạnh công tác phổ cập giáo dục là một nhiệm vụ
hết sức quan trọng trong phát triển giáo dục mà Đảng, Nhà nước ta luôn xác định là
“quốc sách hàng đầu”. Bởi công tác phổ cập giáo dục gắn liền với nhiệm vụ nâng cao
dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có trí tuệ cho đất nước. Trong giai đoạn hiện nay,
Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục có chủ trương phấn đấu phổ cập từng bước tất cả
các bậc học từ mầm non trở lên, từng bước phổ cập giáo dục ở các cấp học cao hơn.
Chính vì thế, trong thời gian tiếp theo, ngành giáo dục tỉnh Lai Châu nói
chung, các huyện thị xã nói riêng tiếp tục phát huy những thành quả về phổ cập
giáo dục và chống mù chữ trong những năm qua và không ngừng đổi mới về
phương pháp tổ chức, lãnh đạo, quản lý để từng bước thực hiện phổ cập giáo
dục bậc mầm non, bậc trung học.
Thực hiện tốt các mục tiêu quan trọng đó trong thời gian tiếp theo, trong công
tác phổ cập cần đẩy mạnh hơn nữa hoạt động của ban chỉ đạo phổ cập các cấp, tăng
cường đầu tư cơ sở vật chất trường lớp học theo hướng trường đạt chuẩn quốc gia và
từng bước hiện đại. Tăng cường công tác chất lượng đội ngũ nhà giáo, chuẩn hoá đội
ngũ quản lý các đơn vị trường học, đặc biệt là sự tham mưu của ngành giáo dục đối
với sự lãnh chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương các cấp. Có được như vậy
chắc chắn công tác phổ cập giáo dục và chống mù chữ luôn được duy trì một cách bền
vững và từng bước thực hiện thành công các mục tiêu về phổ cập giáo dục bậc mầm
23
Nhờ
Kiên cố Bán kiên cố Tạm
Số phòng Tỉ lệ Số phòng Tỉ lệ Số phòng Tỉ lệ
5910 2843 48,1 1697 28,7 1370 23,3 352
25