skkn tổ chức buổi học ngoại khoá vật lý “sóng điện từ và việc bảo vệ môi trường” lớp 12 thpt - Pdf 19

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bảo vệ môi trường là một trong nhiều mối quan tâm mang tính toàn cầu. Ở nước
ta, bảo vệ môi trường cũng đang là vấn đề được quan tâm sâu sắc. Nghị quyết số
41/NQ-TƯ ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ chính trị về tăng cường công tác bảo
vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Quyết
định số 1363/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc
phê duyệt đề án : “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc
dân” và Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2003 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Bỏa vệ môi trường quốc gia đến năm 2010
và định hướng đến năm 2020 đã tọa cơ sở pháp lí vững chắc cho những nỗ lực và
quyết tâm bảo vệ môi trường theo định hướng phát triển một tương lai bền vững của
đất nước.
Khi nói đến ô nhiễm môi trường thì chúng ta thường nghĩ đến những vấn đề như
ô nhiễm bầu không khí do khí thải CO
2
ra môi trường từ các nhà máy công nghiệp,
các động cơ; nguồn nước bị ô nhiễm, rác thải bừa bãi,…Nhưng chúng ta lại không để
ý đến một nhân tố cũng gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe
của con người hằng ngày, đó là “Sóng điện từ”. Chính vì vậy, tác giả xin được trình
bày buổi học ngoại khóa vật lý “Sóng điện từ và việc bảo vệ môi trường” . Mục đích
của buổi học ngoại khóa là giới thiệu cho các em một bức tranh toàn cảnh về sóng
điện từ, nhằm trang bị cho các em những kiến thức hết sức bổ ích về lĩnh vực này.
Mặt khác buổi học ngoại khóa sẽ cung cấp cho các em những hiểu biết cơ bản về tác
hại của sóng điện từ đối với sức khỏe của con người. Để từ đó các em có những hành
động, việc làm thiết thực, có ý thức cao trong việc bảo vệ môi trường nói chung và
không gian sinh sống trong từng gia đình nói riêng. Các em biết cách sử dụng một
cách hợp lí các thiết bị thu và phát sóng điện từ từ các vật dụng sinh hoạt hằng ngày
trong gia đình như: Tivi, lò vi sóng, máy vi tính …, và đặc biệt là điện thoại di động –
vật bất li thân đối với hầu hết tất cả mọi người trong cuộc sống hiện nay.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song bài viết không thể tránh khỏi những hạn chế
và thiếu sót. Tác giả kính mong nhận được sự đóng góp những ý kiến quý báu của

thuần, những kiến thức trong SGK chỉ mới giúp các em nắm được khái niệm cơ bản,
tính chất cơ bản,ứng dụng cơ bản,…của sóng điện từ, mà chưa có sự vận dụng những
kiến thức ấy vào trong thực tế cuộc sống. Ví dụ như việc sử dụng điện thoại di động –
một thiết bị phát và thu sóng điện từ của các em học sinh. Ở các trường THPT đều
cấm các em học sinh không được mang và sử dụng điện thoại di động, nhưng thực tế
2
thì phần lớn các em học sinh đều mang và sử dụng điện thoại di động. Các em sử
dụng điện thoại di động một cách tràn lan, bừa bãi trong việc nghe, gọi, nhắn tin, chơi
game, mà không ý thức được những tác hại của nó đối với sức khỏe của bản thân
mình và những người xung quanh.
II. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
2. 1. Thời điểm tổ chức buổi học ngoại khoá
Giáo viên tổ chức buổi học ngoại khoá “Sóng điện từ và việc bảo vệ môi
trường” đối với học sinh khối lớp 12 sau khi học sinh đã được học xong chương:
Sóng ánh sáng
2.2. Chuẩn bị cho buổi học ngoại khoá
a) Giáo viên
- Hệ thống kiến thức kiến thức về sóng điện từ phục vụ cho buổi học ngoại khóa.
- Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan.
- Hệ thống phiếu học tập.
- Các thiết bị phục vụ cho buổi học ngoại khoá như: máy vi tính, máy chiếu, tranh
vẽ…
b) Học sinh
- Tìm hiểu những kiến thức về sóng điện từ qua sách giáo khoa, báo chí, các thông tin
trên mạng internet.
- Hệ thống các kiến thức vật lý có liên quan.
III. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
3.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu sóng điện từ
Vào thế kỉ XVIII, hiện tượng điện và hiện tượng từ được xem như hai loại hiện
tượng khác hẳn nhau, giữa chúng không có mối liên quan gì. Nhờ những phát kiến

trọng hơn là Héc còn chứng tỏ được rằng, tốc độ truyến sóng gần đúng bằng tốc độ
truyền ánh sáng, đúng như dự đoán của Mắc-xoen. Chỉ vài năm sau khi thí nghiện của
Héc được công bố, người ta thử lại và phát triển thêm nhiều, đến mức thí nghiệm
được áp dụng trong thực tế và dẫn đến một phát minh rất quan trọng của Mắc-cô-ni
(Marconi, 1874-1937), đó là phát minh ra vô tuyến điện năm 1896. Như vậy là khi
Mắc-xoen chết thì sự tồn tại của sóng điện từ mới chỉ là một đề xuất lí thuyết, hơn hai
mươi năm sau, sóng điện từ đã bắt đầu trở thành một phương tiện truyền thông mới
mang lại những biến đổi lớn trong đời sống.
3.2. Sự tạo thành sóng điện từ
Khi khảo sát sóng cơ ta thấy rằng, nếu một hạt của môi trường dao động, thì do
liên kết, hạt khác của môi trường ở vị trí lân cận sẽ chịu lực tác dụng và dao động
4
theo. Do cơ chế đó mà dao động được lan truyền trong môi trường và tạo thành sóng.
Ta xét đối với sóng điện từ, trước hết ta thừa nhận rằng, trong chân không và trong
môi trường điện môi tương tác từ không truyền đi một cách tức thời, mà có một tốc
độ lan truyền hữu hạn. Thí dụ, trong chân không vào thời điểm t=0 tại điểm A xuất
hiện một điện tích q, theo định luật Cu-lông thì tại điểm B cách A một đoạn
AB r=
sẽ
xuất hiện điện trường có cường độ E tỉ lệ với
q
r
. Nhưng điện trường đó không xuất
hiện ngay tức thì vào thời điểm t = 0, mà phải sau khoảng thời gian
r
t
c
∆ =
, c là tốc độ
truyền tương tác điện từ sau này ta sẽ thấy c chính là tốc độ truyền ánh sáng.

2
=
E
r
Giả thiết rằng vào thời điểm t = 0, thanh trên tích điện dương, thanh dưới tích
điện âm có độ lớn cực đại (hình 1a). Điện trường
E
r
tại điểm P trên trục x, ngay sát
anten hướng xuống dưới.
Một thời gian ngắn sau đó vào thời điểm t
1
sao cho 0<t
1
<
4
T
tương tác điện lan
truyền tới điểm Q (PQ = ct
1
), điện trường tại Q vào này bằng điện trường E tại P vào
thời điểm t
1
thì nhỏ hơn, vì rằng vào thời điểm này thì điện tích dương ở thanh trên
giảm t
1
thì nhỏ hơn, vì rằng vào thời điểm này thì điện tích dương ở thanh trên giảm
đi, độ lớn của điện tích âm ở thanh dưới cũng giảm theo (hình 1b).
Đến thời điểm
2

thì điện
tích trên từng thanh lại đổi dấu ngược lại, và điện trường tại P lại hướng lên trên.
6
P
x
e) Sau thời điểm t
3
=
E
r
P
x
f) Thời điểm t
4
=
E
r
Hình 1: Sự hình thành sóng điện từ
Nếu theo dõi hết một chu kì T thì ta sẽ thấy rằng, điện trường tạo nên bởi một
anten nối với một máy phát xoay chiều, truyền đi ra xa anten giống như sóng trên một
sợi dây truyền đi xa từ một điểm của dây dao động điều hòa theo phương ngang.
Trên đây chúng ta mới khảo sát sự lan truyền của điện trường. Nếu xét đến dòng
điện trong anten và tác dụng tạo từ trường của nó, thì sẽ thấy rằng có một từ trường
được tạo thành và lan truyền theo phương x dưới dạng sóng giống như điện trường đã
nói ở trên. Hình 1g biểu diễn trường hợp dòng điện trong anten đi lên, cùng lúc ấy
thanh trên tích điện dương.
Như đã nói ở trên, tại điểm P, điện trường
E
r
thẳng đứng hướng xuống dưới, còn

r
luôn luôn vuông góc với
nhau, chúng lan truyền với cùng tốc độ c theo hướng Ox. Tốc độ c tính được
theo các hằng số điện và từ:
0 0
1
c
ε µ
=
với
0
ε
là số điện và
0
µ
là hằng số từ.
7
E
r
Hình 1g. Biễu diễn dòng điện trong anten
I
I
B
r
b) Vectơ
E
r
, vectơ
B
r

ax 3
( , ) cos( )
m
B x t B e t kx
ω
= −
r
r
(2)
3.3. Phổ sóng điện từ
Các sóng điện từ bao phủ một miền tần số f rất rộng, có thể từ 1 đến 10
24
Hz.
Miền ấy cũng tương ứng với miền bước sóng (trong chân không)
λ
, sao cho ta luôn
có hệ thức
c f
λ
=
. Người ta phân biệt nhiều loại sóng điện từ theo tính chất, nguồn
phát và công dụng. Mỗi loại có tần số (hoặc bước sóng trong chân không) trải ra một
khoảng nào đó. Tuy nhiên, ranh giới giữa các khoảng ấy cũng không thật rõ ràng.
3.3.1. Sóng vô tuyến điện
Sóng vô tuyến điện là sóng điện từ có tần số thấp, thường được coi là từ 10
6
Hz
đến 10
9
Hz (bước sóng từ 300m đến đềximét). Gọi tên như vậy vì loại sóng này được

số cao nhất mà mạch điện tử có thể tạo ra.
3.3.3. Bức xạ hồng ngoại
Sóng điện từ có tần số khoảng từ 10
12
đến 4,3.10
14
Hz thì gọi là bức xạ hồng
ngoại. Chuyển động quay và dao động của phân tử phát ra bức xạ hồng ngoại. Ngược
lại, khi các phân tử hấp thụ năng lượng của tia hồng ngoại thì chuyển động quay và
dao động của chúng mạnh lên, nhiệt độ của vật tăng. Ở mọi nhiệt độ các vật đều phát
ra bức xạ điện từ. Ở nhiệt độ cao, thì sóng hồng ngoại chỉ là một phần nhỏ của bức xạ
phát ra. Nhưng ở nhiệt độ thấp, thí dụ nhiệt độ cơ thể người 37
0
C, thì bức xạ phát ra
gồm chủ yếu là bức xạ hồng ngoại. Mắt người không cảm nhận được các tia hồng
ngoại, nhưng một số loài vật, thí dụ như một số loài rắn có thể cảm nhận được tia
hồng ngoại, vì thế chúng có thể nhận biết con mồi trong đêm tối dày đặc, do cơ thể
con mồi nóng hơn môi trường xung quanh nên bức xạ hồng ngoại mạnh hơn. Một số
phim ảnh nhạy cảm với tia hồng ngoại, dùng phim này có thể chụp ảnh hồng ngoại
trong đêm tối. Dùng ống nhòm hồng ngoại có thể thấy gián tiếp (qua một màn ảnh)
những động vật có thân nhiệt trong đêm. Dùng máy thu hình hồng ngoại, đặt ở lối đi
có thể phát hiện được người bị sốt, có thân nhiệt lớn hơn 38
0
C, do mặt người đó bức
xạ hồng ngoại mạnh hơn mặt người bình thường.
3.3.4. Ánh sáng khả kiến (nhìn thấy được)
Mắt người cảm nhận được sóng điện từ trong khoảng từ 4,3.10
14
đến 7,5.10
14

ánh sáng trắng.
- Nếu phân biệt các màu của những bức xạ có bước sóng xác định nói trên (còn gọi là
các màu cầu vồng) với ba màu gọi là màu sơ cấp (đỏ, lam, xanh) thường được dùng
trong kĩ thuật truyền hình. Các điểm sáng rất nhỏ, mỗi điểm có một trong ba màu, xen
kẽ nhau trên màn hình cho ta cảm giác gần giống với các màu tự nhiên nếu tỉ lệ độ
sáng thực hiện được giống như trong tự nhiên. Có thể có nhiều cách chọn ba màu sơ
cấp khác nhau chút ít.
3.3.5. Bức xạ tử ngoại
Bức xạ tử ngoại là sóng điện từ có tần số lớn hơn ánh sáng tím, vào khoảng từ
7,5.10
14
đến 10
17
Hz. Bức xạ tử ngoại tuy không nhìn thấy được nhưng có tác dụng
ion hóa không khí, gây phản ứng hóa học và có tác dụng sinh lí làm hại da, diệt vi
khuẩn nếu được chiếu với cường độ mạnh hoặc thời gian dài. Phần lớn tia tử ngoại
truyền tới Trái Đất bị hấp thụ bởi ôzôn (O
3
) và những phân tử khác trong lớp khí
quyển ở tầng cao, nhờ thế mà các sinh vật trên Trái Đất tránh được tác dụng có hại
của tia này. Một vài loại ong và bướm có thể nhìn thấy ánh sáng tử ngoại.
3.3.6. Tia X (Tia Rơn-ghen)
10
Sóng điện từ có tần số lớn hơn tần số của tia tử ngoại, vào khoảng 10
17
đến 10
20
Hz, gọi là tia X hay tia Rơn-ghen. Tia X được tạo ra bằng cách phóng một chùm
êlectron nhanh vào một bia kim loại. Tia X có tính chất đâm xuyên mạnh qua các
chất, tính đâm xuyên giảm khi khối lượng riêng của chất đâm xuyên tăng, tính chất

sẽ gây tại nạn giao thông; nếu tạo ra những thất lạc tin tức chỉ thị bay sẽ làm cho máy
bay, tên lửa, vệ tinh nhân tạo không điều khiển được nữa…
11
Bức xạ điện từ còn nguy hại trực tiếp đến sức khỏe con người. Vi sóng là một
dạng của sóng điện từ. Lò vi sóng chính là dùng vi sóng chiếu xạ vào thực phẩm làm
cho thực phẩm chín. Có thể thấy rằng, nếu xung quanh chúng ta tồn tại nhiều vi sóng,
vi sóng chiếu quá nhiều vào cơ thể chúng ta thì cơ thể chúng ta cũng sẽ bị vi sóng
không ngừng “thêm nhiệt”, “nướng chín”, sẽ rất nguy hại đến sức khỏe. Các kết quả
nghiên cứu đều chứng tỏ rằng, nếu con người bị điện từ bức xạ trong thời gian dài sẽ
sinh ra các triệu chứng suy yếu thần kinh như mệt mỏi, trí nhớ giảm sút…và các triệu
chứng khác như lo sợ, tức ngực, thị lực kém…Bức xạ điện từ gây ra những nguy hại
rất lớn đến môi trường sinh sống của nhân loại, trở thành mối nguy hại lớn được con
người hết sức quan tâm. Bức xạ điện từ đã trở thành một dạng ô nhiễm môi trường
khá nguy hiểm.
Để khống chế ô nhiễm điện từ, tổ chức y tế thế giới và hiệp hội phòng chống bức
xạ quốc tế đã đưa ra “chuẩn tắc vệ sinh môi trường” và các tiêu chuẩn sóng điện từ
mạnh có liên quan khác. Bộ y tế Trung Quốc cũng đã ban bố “tiêu chuẩn vệ sinh
sóng điện từ môi trường” vào tháng 12 năm 1987. Đối mặt với sự ô nhiễm điện từ
ngày càng nghiêm trọng chúng ta có một số biện pháp ngăn ngừa như: đưa nguồn ô
nhiễm điện từ rời xa khu dân cư đông đúc; cải thiện thiết bị điện khí, giảm sự rò rỉ
điện từ, lắp các thiết bị khử điện từ, giảm cường độ từ trường…
Việc con người lợi dụng sóng điện từ cũng giống như lợi dụng các tài nguyên
khác, chỉ khi đã tìm hiểu, nghiên cứu sâu sắc về chúng mới có thể vừa mang lại lợi
ích lớn nhất cho con người, lại không gây nên những nguy hại cho môi trường sống.
3.4.2. Tác hại của sóng điện từ đối với sức khỏe con người
Bình thường chúng ta bị bao vây bởi bao nhiêu làn sóng từ dưới đất lên, từ trên
trời cao xuống. Những đường dây cao thế, sóng truyền thanh, truyền hình vây bọc
chúng ta từ mọi phía. Những năm gần đây, các vệ tinh địa tĩnh đưa xuống Trái đất
nhiều loại sóng điện từ khác phục vụ Internet không dây, mạng điện thoại di động So
với 30 năm về trước, số lượng những làn sóng điện từ chúng ta phải chịu đựng tăng

khối u ở não. Vì vậy, khi sử dụng, bạn nên để điện thoại xa cơ thể, chờ kết nối được
mới để vào tai nghe. Không nên dùng di động để buôn chuyện và đặc biệt không để
điện thoại cạnh gối khi đi ngủ.
b) Không đeo điện thoại di động trước ngực
Rất nhiều người thích đeo điện thoại di động trước ngực để tiện sử dụng hoặc
coi như một món đồ trang sức. Nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy đeo điện thoại
di động trước ngực sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho tim và hệ nội tiết của cơ
thể. Ngay cả khi điện thoại đang ở trạng thái chờ sử dụng, sóng bức xạ tuy nhỏ
13
nhưng cũng gây hại cho cơ thể. Những người bị bệnh về tim mạch càng nên tránh để
điện thoại di động treo trước ngực. Các chuyên gia cho rằng sóng bức xạ điện từ tác
động đến nội tiết của cơ thể, gây hiện tượng kinh nguyệt không đều, ảnh hưởng đến
sự trao đổi chất của tế bào, làm rối loạn các nguyên tố vi lượng. Điện thoại di động
thường có gắn một thiết bị chống nhiễu sóng, có tác dụng làm giảm ảnh hưởng của
bức xạ từ đối với cơ thể, các thiết bị chống nhiễu được làm bằng kim loại nặng như
chì, nhôm thì hiệu quả càng cao.
c) Không để điện thoại di động trong túi quần
Nghiên cứu đã phát hiện rằng số lượng tinh trùng của các đấng mày râu
thường xuyên mang điện thoại ở eo lưng và sử dụng điện thoại ít hơn so với người
bình thường là 30%. Nguyên do là sóng điện từ sinh ra khi thu phát tín hiệu sẽ bức
xạ đến tinh trùng hoặc trứng trong cơ thể, làm ảnh hưởng chức năng sinh sản
của người sử dụng.
Một báo cáo thực nghiệm trên chuột ở Anh cho thấy, khi bị bức xạ bởi sóng từ
của điện thoại di động trong 5 phút, trong cơ thể chuột đã nảy sinh ADN biến
dạng. Trứng hay tinh trùng của người cũng vậy, nếu bị bức xạ từ trong thời gian dài
cũng sản sinh các ADN biến dạng. Vì vậy khi sử dụng điện thoại, bạn nên để tránh xa
vùng eo, lưng. Cánh mày râu đặc biệt chú ý không nên nhét điện thoại trong túi quần,
vì nó rất gần nhà máy sản xuất tinh trùng và trực tiếp uy hiếp các tinh binh.
IV. TỔ CHỨC BUỔI HỌC NGOẠI KHÓA “SÓNG ĐIỆN TỪ VÀ VIỆC BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG”

k k i
k
n X
n X n X n X
X
n n n n
=
+ + +
= =
+ + +

Trong đó: n
i
là tần số học sinh đạt điểm X
i
; n là tổng số học sinh.
+ Phương sai
2
δ
và độ lệch chuẩn
δ
: là các tham số đo mức độ phân tán của các số
liệu quanh giá trị trung bình cộng
2 2
2 2
( ) ( )
;
1 1
i i i i
n X X n X X

n

là tổng số HS đạt điểm
i
X
trở xuống.
Phân loại điểm kiểm tra như sau: Điểm 9, 10: xếp loại giỏi; điểm 7, 8: xếp loại
khá; điểm 5, 6: xếp loại TB; điểm 0, 1, 2, 3, 4: xếp loại yếu, kém.
Bảng 1: Thống kê kết quả kiểm tra
Lớp
Đối
tượng
Sĩ số
Điểm
Điểm TB
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
12C1 TN 46 0 0 0 0 3 6 10 9 10 7 1 6,9
12C2
ĐC
45 0 0 0 3 9 12 8 7 4 2 0 5,6
15
Bảng 2: Bảng % HS đạt điểm yếu, kém, trung bình, khá, giỏi
Lớp Đối tượng Sĩ số % yếu, kém % TB % khá % giỏi
12C1 TN 46 6,52 34,78 41,30 17,40
12C2 ĐC 45 26,67 44,44 24,44 4,45
Bảng 3: Kết quả để xử lý tính toán tham số
Lớp thực nghiệm 12C1:
6,9
TN
X =

n
i
2
( )
i
X X−
0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
1 0 0 0 0 1 0 0 0 0
2 0 0 0 0 2 0 0 0 0
3 0 0 0 0 3 3 2,6 6,76 20,28
4 3 2,9 8,41 25,23 4 9 1,6 2,56 23,04
5 6 1,9 3,61 21,66 5 12 0,6 0,36 4,32
6 10 0,9 0,81 8,1 6 8 0,4 0,16 1,28
7 9 0,1 0,01 0,09 7 7 1,4 1,96 13,72
8 10 1,1 1,21 12,1 8 4 2,4 5,76 23,04
9 7 2,1 4,41 4,41 9 2 3,4 11,56 23,12
10 1 3,1 9,61 9,61 10 0 4,4 19,36 0
46 107,66 45 109,25
Bảng 4: Các tham số đặc trưng
Tham số
Lớp
X
2
δ
δ
(%)V
TN (12C1) 6,9 2,39 1,54 22,4
ĐC (12C2) 5,6 2,48 1,57 28,8
Qua bảng số liệu ta có nhận xét: Điểm trung bình cộng của HS lớp TN cao hơn lớp
ĐC và hệ số biến thiên V của lớp TN luôn nhỏ hơn của lớp ĐC. Điều này chứng tỏ

0 0 0 0 0 0 0
1 0 0 0 0 0 0
2 0 0 0 0 0 0
3 0 0 0 3 6,7 6,7
4 3 6,5 6,5 9 20,0 26,7
5 6 13,0 19,5 12 26,7 53,4
6 10 21,8 41,3 8 17,8 71,2
7 9 19,6 60,9 7 15,6 86,8
8 10 21,8 82,7 4 8,8 95,6
9 7 15,2 97,9 2 4,4 100
10 1 2,1 100 0 0 100

46 100 45 100
Từ các bảng số liệu trên đây, tác giả tiến hành vẽ các đồ thị biểu diễn tỉ lệ phần
trăm số học sinh xếp loại và đồ thị đường phân bố tần suất tích lũy của hai lớp 12C1
và 12C2. Kết quả thu được được biểu diễn bằng các đồ thị sau:
Hình 1: Đồ thị biểu diễn tỉ lệ phần trăm số học sinh xếp loại yếu kém, TB, khá, giỏi của hai lớp
Từ đồ thị ta có nhận xét:
- Tỉ lệ phần trăm (%) HS yếu kém, trung bình của khối thực nghiệm (TN) luôn
thấp hơn lớp đối chứng (ĐC).
- Tỉ lệ phần trăm (%) HS khá, giỏi của khối TN luôn cao hơn của lớp ĐC.
17
Hình 2: Đồ thị đường phân bố tần suất.
Ghi chú: Trục tung biểu diễn tần suất
i
ω
(%), trục hoành biểu diễn điểm số X
i
.
Hình 3: Đồ thị đường phân bố tần suất lũy tích.

- Nhà trường, tổ chuyên môn cần tạo điều kiện, khuyến kích và có chế độ đối với
các giáo viên trong việc tổ chức các buổi thảo luận, các buổi ngoại khóa để tạo niềm
đam mê và bầu không khí sôi nổi trong quá trình học tập và giảng dạy.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN do chính
bản thân mình viết, không sao chép nội
dung của người khác.

Bùi Sỹ Khiêm
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Sách giáo khoa Vật lý 12 cơ bản, NXB Giáo Dục, tái bản lần thứ 3 năm 2011.
[2]. Sách giáo viên Vật lý 12 cơ bản, NXB Giáo Dục, tái bản lần thứ 3 năm 2011.
[3]. Sách giáo khoa Vật lý 12 nâng cao, NXB Giáo Dục, tái bản lần thứ 3 năm 2011.
19
[4]. Sách giáo viên Vật lý 12 nâng cao, NXB Giáo Dục, tái bản lần thứ 3 năm 2011.
[5]. Phạm Quý Tư, Tư liệu vật lí 12 – một số vấn đề về sóng, NXB Giáo Dục 2009.
[6]. Vật lí công nghệ và đời sống, NXB Giáo Dục 2003.
[7]. 168 câu hỏi lý thú về vật lý, NXB Văn Hóa Thông Tin 2007.
[8]. Bùi Sỹ Khiêm, SKKN: Tổ chức buổi học ngoại khoá “Tình yêu Vật lý và Thiên
văn học” lớp 12 THPT, được hội đồng khoa học ngành xếp loại B (Quyết định số:
539/QĐ-SGD&ĐT ngày 18/10/2011).
PHỤ LỤC CỦA ĐỀ TÀI
A. HỆ THỐNG CÂU HỎI CHO BUỔI HỌC NGOẠI KHÓA
I. Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
20
Câu 1: Trong các loại tia: Rơn-ghen, hồng ngoại, tự ngoại, đơn sắc màu lục; tia có tần
số nhỏ nhất là
A. tia tử ngoại. B. tia đơn sắc màu lục.
C. tia hồng ngoại. D. tia Rơn-ghen.

E
r
luôn cùng phương
với vectơ cảm ứng từ
B
r
.
D. Sóng điện từ lan truyền được trong chân không.
Câu 6: Sóng điện từ
A. là sóng dọc hoặc sóng ngang.
B. là điện từ trường lan truyền trong không gian.
C. có thành phần điện trường và thành phần từ trường tại một điểm dao động cùng
phương.
D. không truyền được trong chân không.
Câu 7: Phát biểu nào sau đây là sai khi nói về sóng điện từ?
A. Trong sóng điện từ, điện trường và từ trường biến thiên theo thời gian với cùng
chu kì.
21
B. Trong sóng điện từ, điện trường và từ trường luôn dao động lệch pha nhau
2
π
.
C. Sóng điện từ dùng trong thông tin vô tuyến gọi là sóng vô tuyến.
D. Sóng điện từ là sự lan truyền trong không gian của điện từ trường biến thiên theo
thời gian.
Câu 8: Mạch chọn sóng trong máy thu vô tuyến điện hoạt động dựa trên hiện tượng
A. Phản xạ sóng điện từ. B. Giao thoa sóng điện từ.
C. Khúc xạ sóng điện từ. D. Cộng hưởng sóng điện từ.
Câu 9: Khi nói về sóng điện từ, phát biểu nào sau đây là sai?
A. Sóng điện từ bị phản xạ khi gặp mặt phân cách giữa 2 môi trường.

B. ĐỀ KIỂM TRA
Thời gian: 60 phút (không kể thời gian giao đề)
I. Trắc nghiệm khách quan
Câu 1: Sóng điện từ và sóng cơ học không có chung tính chất nào dưới đây?
A. Phản xạ. B. Truyền được trong chân không.
23
C. Mang năng lượng. D. Khúc xạ.
Câu 2: Sóng điện từ là quá trình lan truyền của điện từ trường biến thiên, trong không
gian. Khi nói về quan hệ giữa điện trường và từ trường của điện từ trường trên thì kết
luận nào sau đây là đúng?
A. Véctơ cường độ điện trường và cảm ứng từ cùng phương và cùng độ lớn.
B. Tại mỗi điểm của không gian, điện trường và từ trường luôn luôn dao động
ngược pha.
C. Tại mỗi điểm của không gian, điện trường và từ trường luôn luôn dao động
lệch pha nhau π/2.
D. Điện trường và từ trường biến thiên theo thời gian với cùng chu kì.
Câu 3: Chọn câu đúng. Tia hồng ngoại và tia tử ngoại
A. đều là sóng điện từ nhưng có tần số khác nhau.
B. không có các hiện tượng phản xạ, khúc xạ, giao thoa.
C. chỉ có tia hồng ngoại làm đen kính ảnh.
D. chỉ có tia hồng ngoại có tác dụng nhiệt.
Câu 4: Chọn kết luận đúng. Tia hồng ngoại, ánh sáng nhìn thấy, tia tử ngoại, tia X và
tia gamma đều là
A. sóng vô tuyến, có bước sóng khác nhau.
B. sóng cơ học, có bước sóng khác nhau.
C. sóng ánh sáng có bước sóng giống nhau.
D. sóng điện từ có tần số khác nhau.
Câu 5: Chọn câu trả lời không đúng:
A. Tia X được phát hiện bới nhà Bác học Rơnghen.
B. Tia X có năng lượng lớn vì có bước sóng lớn.

tử đối catốt, tương tác với hạt nhân và các lớp vỏ này.
Câu 10: Trong các loại tia: Rơn-ghen, hồng ngoại, tự ngoại, đơn sắc màu lục; tia có
tần số nhỏ nhất là
A. tia tử ngoại. B. tia hồng ngoại. C. tia đơn sắc màu lục. D. tia Rơn-ghen.
Câu 11: Sắp xếp theo thứ tự giảm dần của tần số các sóng điện từ sau:
A. Ánh sáng nhìn thấy, tia hồng ngoại, tia tử ngoại.
B. Tia hồng ngoại, tia tử ngoại, ánh sáng thấy được.
C. Tia tử ngoại, ánh sáng thấy được, tia hồng ngoại.
D. Ánh sáng thấy được, tia tử ngoại, tia hồng ngoại.
Câu 12: Phát biểu nào sau đây là đúng khi nói về sóng điện từ?
A. Khi một điện tích dao động thì sẽ có điện từ trường lan truyền trong không gian
dưới dạng sóng.
B. Điện tích dao động không thể bức xạ ra sóng điện từ.
C. Tốc độ của sóng điện từ trong chân không nhỏ hơn nhiều lần so với tốc độ ánh
sáng trong chân không.
D. Tần số của sóng điện từ bằng nửa tần số của điện tích dao động.
Câu 13: Khi nói về điện từ trường, phát biểu nào sau đây là sai?
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status