MỤC LỤC
Nội dung .
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
1. Lí do chọn đề tài 01
2.Mục đích nghiên cứu 01
3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu 03
4. Giả thuyết khoa học 03
5. Phương pháp nghiên cứu 04
6. Cơ sở, phạm vi, thời gian nghiên cứu 04
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu 06
1.1 Sơ lược về lịch sử của trường học thân thiện HS tích cực 06
1.2.Cở lí luận của trường học thân thiện HS tích cực 07
Chương 2: Thực trạng của giáo dục môi trường trong dạy học vật lí THPT 09
2.1. Thực trạng của nhà trường 09
2.2. Thực trạng của địa phương đang sinh sống 12
2.3 Tác hại của các loại rác 13
Chương 3: Biện pháp chủ yếu để thực hiện đề tài 15
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 15
3.2 Giải pháp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn vật lí 10 16
3.3 Các giải pháp giáo dục BVMT trong môn vật lí THPT 18
3.4 Các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm trong môn học vật lý 26
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.Những bài học kinh nghiệm 28
2. Ý nghĩa 28
3. Khả năng ứng dụng và triển khai …………………………………………29
4. Kiến nghị 29
PHẦN PHỤ LỤC…… ……………………………………………… 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
lí trường THPT” muốn gửi đến các đồng nghiệp một vài kinh nghiệm nhằm
mục đích nâng cao giáo dục toàn diện cho HS, giáo dục cho HS ý thức bảo vệ
môi trường là một giải pháp bảo vệ môi trường cho tương lai.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Giáo dục môi trường giúp cho người học hiểu biết về bản chất của các vấn
đề môi trường: tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, tính hữu hạn
của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải của môi trường; quan hệ chặt
1
chẽ giữa môi trường và phát triển, giữa môi trường địa phương, Vùng, quốc
gia với môi trường khu vực và toàn cầu.
Giáo dục môi trường giúp cho người học nhận thức được ý nghĩa, tầm quan
trọng của vấn đề môi trường như một nguồn lực để sinh sống, lao động và
phát triển của mỗi cá nhân, cộng đồng, quốc gia và quốc tế. Từ đó có thái độ,
ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường, xây dựng đúng về ý thức trách
nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành các kỹ năng thu thập số liệu và
phát triển sự đánh giá thẩm mỹ.
Có tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cáo năng lực lựa
chọn phong cách sống, thích hợp với việc sự dụng hợp lí và khôn ngoan các
nguồn tài nguyên thiên nhiên; có thể tham gia có hiệu quả vào việc phòng
ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường củ thể nơi sinh sống và làm việc.
Giáo dục môi trường phải đi đôi với giáo dục kỹ năng sống cho HS .
Chúng ta muốn hiệu quả giáo dục môi trường luôn bền vững thì cần phải giáo
dục cho các em những thói quen tốt, những kỹ năng sống liên quan đến bảo vệ
môi trường.
Vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi
trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai. Nó cũng
bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản
lượng và tránh những thảm hoạ môi trường, xoá nghèo đói, tận dụng các cơ
hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài nguyên. Hơn nữa,
nó bao hàm cả việc đạt được những kỹ năng, có những động lực và cam kết
phổ thông thì các em sẽ nhận thức được rằng vứt rác tùy tiện là không nên,
tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy, khái thác gỗ một cách hợp lý hơn, biết
tuyên truyền vận động gia đình, nhà trường, cộng đồng tham gia vào bảo vệ
môi trường.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực thi đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu (phân tích, tổng hợp tài liệu Internet, tập san,
sách báo có liên quan đến đề tài).
- Phương pháp quan sát sư phạm.
- Phương pháp thực hành, thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin.
6. CƠ SỞ, PHẠM VI, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
6.1 Cơ sở nghiên cứu
Bảo vệ môi trường hiện là một trong nhiều mối quan tâm mang tính
toàn cầu. Ở nước ta, bảo vệ môi trường cũng đang là vấn đề được quan tâm
sâu sắc. Nghị quyết số 41/NQ-TƯ ngày 15 tháng 11 năm 2004 của bộ chính trị
về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Quyết định 1363/QĐ-TTg ngày 17 tháng
10 năm 2001 của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án : “Đưa các nội
dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” và Quyết định số
256/2003/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2003 của thủ tướng chính phủ về
việc phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020; Luật bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 Hà Nội,
4
ngày 29 tháng 11 năm 2005 của quốc hội; chỉ thị tăng cường công tác giáo dục
bảo vệ môi trường Số: 02/2005/CT-BGD&ĐT ngày 31 tháng 01 năm 2005
của bộ giáo dục và đào tạo đã tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho tôi thực hiện đề
tài.
6.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng được nghiên cức là HS lớp 10 trường trung học phông
cũng như trong cộng đồng.
1.2. CƠ SỞ LÍ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
- Môi trường :
+ Theo định nghĩa về môi trường của Chương trình môi trường Liên Hiệp
quốc (United Nation Enviroment Program (UNEP)): "Môi trường là tập hợp
các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế xã hội, tác động lên từng cá thể
hay cả cộng đồng".
+Môi trường của loài người chính là không gian bao quanh Trái Đất, có
quan hệ trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
+Môi trường sống của con người là tất cả hoàn cảnh bao quanh con người,
có ảnh hưởng đến sự sống và phát triển của con người, đến chất lượng cuộc
sống của con người.
- Giáo dục môi trường.
Giáo dục môi trường gắn liền với việc học kiến thức, rèn luyện kĩ năng,
hình thành thái độ và lòng nhiệt tình để hoạt động một cách độc lập hoặc phối
hợp nhằm tìm ra giải pháp cho vấn đề môi trường hiện tại và tương lai.
-Dạy học là :
Quá trình mà dưới sự tổ chức, lãnh đạo có mục đích các loại hình
hoạt động phong phú, các mối quan hệ nhiều mặt của người được
giáo dục đối với người khác, với thế giới xung quanh, các dạng giao
lưu đa dạng giữa họ với nhau và giữa họ vói người lớn tuổi khác
nhằm hình thành cho người được giáo dục quan điểm, niềm tin, định
7
hướng giá trị, lý tưởng, động cơ, thái độ, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen
đối xử trong các quan hệ chính trị, đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ, lao
động, vệ sinh và các hành vi ứng xử khác thuộc các lĩnh vực của đời
sống xã hội.
-Vật Lý
Một ngành của triết học tự nhiên và khoa học tự nhiên nghiên cứu vật
chất và chuyển động trong không gian và thời gian, cùng với những khái niệm
Lớp
Tổng
số lớp
Tổng
số
HS
Học lực
Giỏi Khá TB Yếu Kém
SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL
10 5 197
0 30 15.23 99 50.25 63
31.9
8
5 2.5381
11 4 155
0 31 20 77
49.6
8
39 25.16 8 5.1613
12 4 164
2 1.22 58
35.3
7
102 62.2 2 1.22 0
9
13 516
2
0.38
8
119
thông qua các tiết học của các môn lồng ghép môi trường, sinh hoạt chủ
nhiệm, sinh hoạt dưới cờ, tuyên truyền ….
-Phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện HS tích cực” cũng
được áp dụng vào và xem đây là tiêu chí thi đua của trường và của các lớp như
: trồng cây xanh trong phòng học, sân trường,…….
Ngoài việc khai thác các nội dung trong các môn học như : Sinh học; Địa
lý; Giáo dục công dân… Do các giáo viên trên lớp thực hiện, bên cạnh đó nhà
trường có nhà vệ sinh cho HS và giáo viên, nhà trường luôn giáo dục ý thức
bảo vệ môi trường bằng các công việc hằng ngày như trồng cây, chăm sóc
cây, trồng chậu cây cảnh, vệ sinh trường lớp.Những nội dung đó đã được nhà
10
trường đưa vào danh mục thi đua của từng lớp, từng tuần, từng tháng cho mỗi
lớp.
*Khó khăn:
Bên cạnh thuận lợi thì còn gặp phải những khó khăn:
-Có đa số HS là người dân tộc thiểu số, nên ý thức bảo vệ môi trường
chưa cao.
-HS là con gia đình có hoàn cảnh kinh tế còn thiếu thốn và khó khăn.
-Diện tích quy hoạch sân chơi trong trường chưa có khu vực chuyên biệt
và hình thức phong phú, trồng cây xanh chỉ mang tính tạo cảnh quan.
-Đồ dùng dạy học của môn lồng ghép bảo vệ môi trường hầu như không
có, việc dạy chủ yếu là dạy chay, học chay.
-Ngoài việc cơ sở vật chất còn thiếu thốn ra hiện nay công tác giáo dục
môi trường của chúng ta gặp nhiều khó khăn.
-Hạn chế nữa mà chúng ta không thể bỏ qua đó là: Thông tin về giáo dục
môi trường đã có nhưng chưa đồng bộ, chưa đến được nhiều với HS , khi có vi
phạm về môi trường chưa có biện pháp xử lý kịp thời và có hiệu quả. Hình
thức tuyên truyền còn mang tính hình thức, cho xong việc, nên HS chưa có ý
thức bảo vệ môi trường và chưa thấy được tác hại của những chất thải độc
hại .
các em có ý thức bảo vệ môi trường được, và tất cả những gì các em được
thầy cô ở nhà trường tuyên truyền giáo dục đều không có tác dụng.Vì cha mẹ
các em là tấm gương cho các em nôi theo, nếu cha mẹ các em có những việc
làm tốt góp phần bảo vệ môi trường , thì các em sẽ có ý thức bảo vệ môi
trường , nếu cha mẹ các em có những việc làm không tốt ảnh hưởng bảo vệ
môi trường , thì các em sẽ không có ý thức bảo vệ môi trường .
Cần phải có sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo
dục ý thức bảo vệ môi trường cho HS thì mới đạt được hiệu quả tốt nhất.
2.3. TÁC HẠI CỦA CÁC LOẠI RÁC ( bọc nilon, giấy , đồ hợp, chai nhựa ,
chai thuốc sâu , lọ sành sứ , lá cây , đồ mũ hư,,…….)
*Bọc nilon : đây là loại rác có thời gian phân hủy rất lâu và chúng ta xem
như bình thường và gần gũi với mọi người , với mọi gia đình , hầu như nhà
nào cũng có sử dụng bọc nilon vì nó có rất nhiều lợi ích ( đựng đồ , giữ gìn
sạch sẽ cho đồ vật….).Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích của nó , nó cũng tiềm
ẩn những mối nguy hiểm cho người sử dụng nếu chúng ta không biết cách để
sử dụng chúng và nguy hiểm đến môi trường, và làm mất đi vẽ đẹp cho nhà
trường nói riêng và toàn đất nước ta nói chung nhất là ở các khu đô thị
… Đây cũng là vấn đề mà hiện nay được nhiều người quan tâm.
Trong bọc nilon chứa rất nhiều chất nguy hiểm cho con người như, khi
chúng ta đem đi đốt chúng thì mùi hôi của chúng cũng gây ra căn bệnh cho
chúng ta nhất là về mũi , và khi ta dùng để đựng những thức ăn nóng thì độ
13
nóng của thức ăn sẽ làm cho bọc nilon sinh ra những chất rất nguy hiểm, vì
mắt thường ta không thể nào nhìn thấy được những hóa chất ấy.
Bọc nilon ảnh hưởng đến môi trường : làm cho môi trường ô nhiễm nặng
nề , mất vẽ mỹ quan, ảnh hưởng đến các sinh vật như cá , vì chúng tưởng bọc
nilon là thức ăn mà ăn vào thì sẽ chết . Chúng ta đốt bọc nilon thì hơi của nó
bay vào bầu khí quyển gây ô nhiễm môi trường không khí .
*Giấy, đồ hộp : Đây cũng là những vật rất gần gũi với chúng ta bên cạnh
những lợi ích do nó đem lại , nó cũng có những tác hại cho mội trường làm ô
là thước đo cơ bản hiệu quả của giáo dục BVMT.
-Phương pháp giáo dục BVMT nhằm tạo cho người học chủ động tham gia
vào quá trình học tập, Tạo cơ hội cho HS phát hiện các vấn đề môi trường và
tìm hướng giải quyết vấn đề dưới sự tổ chức và hướng dẫn của GV.
-Tận dụng các cơ hội để giáo dục BVMT nhưng phải đảm bảo kiến thức cơ
bản của môn học, tính logic của nội dung, không làm quá tải lượng kiến thức
và tăng thời gian của bài học.
3.2 GIẢI PHÁP GIÁO DỤC BVMT TRONG MÔN VẬT LÍ 10
-Giáo dục BVMT là một lĩnh vực liên nghành, vì vậy, được triển khai theo
phương thức tích hợp. Nội dung giáo dục BVMT trong môn vật lí được tích
hợp thông qua chương trình bài học cụ thể.
Chương trình tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn vật lý 10 ở bậc
trung học phổ thông :
TT Tên bài Địa chỉ
Nội dung giáo dục bảo vệ
môi trường
Ghi chú
1
Bài 26: Thế năng 2. Thế năng
trọng trường
-Bảo vệ môi trường nước,
sự dụng năng lượng tái tạo.
SGK Vật lí 10
cơ bản
2
Bài 33 Các nguyên
lí của nhiệt động
lực học.
Động cơ nhiệt và
máy lạnh
5
Bài tổng kết
chương VII : Chất
rắn và chất lỏng.
Sự chuyển thể
Liên kết các nội
dung đã học
Sử dụng năng lượng tiết
kiệm trong đun nấu.
Bảo vệ môi trường nước,
rừng.
SGK
Vật lí 10 cơ
bản
+Mức độ bộ phận : chỉ một phần bài học có mục tiêu và nội dung giáo dục
BVMT.
+Mức độ liên hệ : có điều kiện liên hệ một các logic.
-Cách hoạt động giáo dục BVMT môn vật lí 10 ngoài lớp học :
+Câu lạc bộ môi trường : sinh hoạt theo các chủ đề bảo vệ rừng, bảo vệ
động vật hoang dã, sự dụng năng lượng sạch,….
+Hoạt động ngoại khóa môn : thăm quan khu bảo tồn, công viên, nhà máy
thủy điện, nhà máy xử lí rác.
+Điều tra, khảo sát, nghiên cứu tình hình môi trường địa phương, thảo luận
phương án xử lí.
+Hoạt động trồng cây, xanh hóa trường học: Tổ chức tết trồng cây, ngày
môi trường thế giới ngày 05 tháng 6 hàng năm.
17
3.3 CÁC GIẢI PHÁP GIÁO DỤC BVMT TRONG MÔN VẬT LÍ THPT
Giáo dục BVMT sử dụng nhiều phương pháp dạy học của bộ môn chịu sự
chi phối các phương pháp đặc trưng cho môn vật lí, nó cũng có phương pháp
học, trong đó có các mục tiêu GDMT. Việc nghiên cứu chương trình, nội dung
sách giáo khoa cho phép GV xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp cho toàn bộ
chương trình bộ môn, cho từng phần của môn học, từng chương cũng như
từng bài học. Nhờ việc phân tích chương trình, sách giáo khoa giáo viên có
được cái nhìn tổng thể về các đơn vị kiến thức, kĩ năng, thấy được mối liên hệ
giữa chúng và dễ phát hiện các cơ hội tích hợp nội dung GDMT vào từng đơn
vị kiến thức một cách hợp lí, từ đó lập kế hoạch khai thác các nội dung GDMT
trong suốt quá trình dạy học mà không sa vào tình huống ngẫu nhiên, tuỳ tiện
làm quá tảI bài học, hoặc trùng lặp, hoặc không đưa ra được các tình huống
GDMT thực sự có ý nghĩa thuyết phục. Kết thúc quá trình này GV có thể đưa
ra một sơ đồ lôgic xây dựng kiến thức một cách phù hợp. Việc làm này sẽ cho
cái nhìn trực quan về mối liên hệ giữa các kiến thức, cho phép xác định hợp lí
các tình huống sử dụng phương pháp và phương tiện dạy học thích hợp. Nó
19
cũng cho phép xác định hợp lí các cơ hội tích hợp nội dung GDMT vào bài
học.
Hoạt động 2: Xác định các nội dung GDMT cần tích hợp:
Căn cứ vào mối liên hệ giữa kiến thức bộ môn và nội dung GDMT, GV
cần làm rõ sẽ tích hợp nội dung GDMT nào là hợp lí, thời lượng dành cho nó
là bao nhiêu.
Theo các nguyên tắc chung về GDMT thì các nội dung môi trường càng
gần với kinh nghiệm sống của HS thì càng tốt, đặc biệt có ý nghĩa là các nội
dung đề cập tới vấn đề môi trường sinh thái của địa phương. Vì vậy, với cùng
một nội dung tri thức vật lí trong SGK , song khi dạy cho HS ở các vùng miền
khác nhau, GV cần có cách khai thác nội dung GDMT khác nhau. Nói một
cách khác, căn cứ vào đối tượng HS khác nhau, GV sẽ xây dựng các tình
huống tích hợp nội dung GDMT khác nhau.
Hoạt động 5: Lựa chọn và vận dụng các phương pháp và phương tiện dạy
học phù hợp: ở đây, trứơc hết phải vận dụng các phương pháp dạy học tích cực .
Hoạt động 4: Xây dựng tiến trình dạy học dạy học cụ thể: ở hoạt động này
Hoạt động … (…phút): ….Vận dụng, củng cố bài / đánh giá
Hoạt động của HS Sự trợ giúp của giáo viên
- (Nêu các hoạt động cụ thể của HS ) - (Nêu cụ thể các hành động trợ giúp
của giáo viên)
Hoạt động tiếp nối ( Bài tập , câu hỏi tự học ) .
V. Phụ lục: ( Các tư liệu về môi trường và GDMT ).
3.3.2 Phương án 2: GDMT được triển khai như một hoạt động độc lập:
Các hoạt động độc lập này hoàn toàn phù hợp với các hình thức tổ chức
dạy học bộ môn, như: tham quan, ngoại khóa, tuần lễ môi trường Nội dung
của các hoạt động này chủ yếu là nội dung môn học, các nội dung GDMT sẽ
được tích hợp vào các hoạt động cung. Tuy nhiên, vì đây là các hoạt động
ngoài giờ lên lớp, gắn với thực tế môi trường sống, môi trường lao động sản
suất nên có nhiều điều kiện tích hợp sâu sắc các nội dung GDMT. Song do
thực tế kế hoạch dạy học hiện nay là rất chặt chẽ, nên GV phải nghiên cứu lựa
chọn chủ đề phù hợp và có kế hoạch sớm để nhà trường tạo điều kiện. Dưới
đây là một gợi ý cho việc xây dựng một kế hoạch hoạt động.
- Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục môi trường ngoài giờ lên lớp :
• Chọn chủ đề môi trường : ( ô nhiễm nước )
22
• Hình thức của hoạt động : ( Tham quan, câu lạc bộ , dã ngoại , bài
tập khảo sát môi trường, thi tái chế, thi tìm hiểu môi trường gắn với
môn học, các trò chơi và sự mô phỏng; )
• Thiết kế hoạt động :
+ Chương trình , kế hoạch chi tiết các bước .
+ Cách thức thực hiện .
+ Nhân sự ( nhóm công tác , phân công )
+ Chuẩn bị CSVC / tài chính ( nếu có ) .
+ Thời gian . Địa điểm .Sự cho phép .
• Thực hiện hoạt động :
( Giám xát , giúp đỡ , điều chỉnh , đánh giá )