Những nguyên nhân có thể gây bệnh gan; cách điều trị, ăn uống và kiêng kị với người bệnh gan - Pdf 19

Những nguyên nhân có
thể gây bệnh gan.
Do chức năng của gan phức tạp và ở vị trí
cửa ngõ của cơ thể, cho nên nguyên nhân gây bệnh
ở gan không đơn thuần và thường kết hợp với
nhau, do đó khó xác định và làm cho hình thái
bệnh phức tạp khó hiểu.
1. Những yếu tố bên ngoài
a) Nhiễm độc:
Có thể là nhiễm độc cấp như nhiễm độc chì, photpho, thuốc mê
(chlorofoc), tetraclorua C…Nếu nặng sẽ gây hoại tử nhu mô gan
và có nguy cơ tử vong, nếu nhẹ có thể hồi phục hoàn toàn.
Nghiện rượu là nguyên nhân dẫn đến xơ gan
Có thể là nhiễm độc trường diễn như nghiện rượu. Rượu là
nguyên nhân chủ yếu gây xơ gan ở những nước mà người dân
uống nhiều rượu (như ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc). Trong
trường hợp nhiễm độc trường diễn, tổn thương chỉ ít một song
tích dần và cuối cùng sẽ gây tổn thương không hồi phục.
Những người nghiện rượu hay phải thường xuyên uống rượu nên
chú trọng bảo vệ gan của mình bằng cách sử dụng thuốc hoặc
thực phẩm chức năng có tác dụng giải độc gan. Hiện tại, trên thị
trường đã có sản phẩm Giải độc gan Tuệ Linh với thành phần
chính là cao Cà gai leo, một thảo dược thường được nhân dân sử
dụng để chữa ngộ độc rượu, giải rượu và đã được chứng minh là
có tác dụng bảo vệ và phục hồi tế bào gan. Sản phẩm này được
công ty TNHH Tuệ Linh độc quyền sản xuất trên dây truyền sản
xuất sạch, với nguồn dược liệu được cung cấp trực tiếp từ Viện
Dược Liệu Trung Ương, đảm bảo chất lượng sản phẩm, an toàn
và có hàm lượng hoạt chất cao.
b) Nhiễm khuẩn:
Nhiễm khuẩn thường tác dụng bằng 2 cách: tác dụng trực tiếp của

protein của gan tạo thành kháng nguyên và cơ thể sinh kháng thể
chống lại kháng nguyên đó, gây hủy hoại tế bào gan dẫn tới xơ
gan. Song vấn đề chưa rõ ràng vì quá trình mẫn cảm có thể là thứ
phát với tổn thương do chất độc gây nên ở tổ chức gan.
2. Những yếu tố bên trong
a) Tuần hoàn:
Suy tim nhất là suy tim phải và suy tim toàn bộ, viêm màng ngoài
tim dây co thắt là nguyên nhân của xơ gan vì gây ứ máu và thiếu
oxi tại gan. Những bệnh phổi trường diễn (hen, xơ phổi, dãn phế
quản…) gây suy tim phải và gián tiếp gây rối loạn chức năng gan.
Trong thực nghiệm, có thể gây ứ máu tại gan bằng cách làm hẹp
tĩnh mạch chủ dưới.
b) Chuyển hóa:
Tại gan, quá trình chuyển hóa chất xảy ra mạnh, khi rối loạn một
chất nào đó thì dễ đưa đến rối loạn chức năng gan. Thiếu men G-
6- photphattaza làm cho G-6-phot-phat không biến thành glucoza
được, gây ứ đọng glucogen tại gan (bệnh Von Gierke). Khi thiếu
chất hướng mỡ, sẽ phát sinh nhiễm mỡ gan. trong bện Uynxơn
(Wilson), có rối loạn tổng hợp chất xeruloplasmin- một thành
phần glubulin trong máu làm nhiệm vụ vận chuyển đồng- thấy
đồng tích lại trong cơ thể, gây ngộ độc làm tổn thương thể vân ở
não kết hợp với sơ gan và nhiều axit amin niệu.
c) Các yếu tố khác:
• Nội tiết. Trong bệnh cường tuyến giáp (bênh basedow),
thường phát sinh suy gan. Gần đây, người ta phát hiện thấy ở
tuyến yên có hocmon LMH (lipit mobilizcing hormone) có tác
dụng điều mỡ khỏi nơi dự trự rất mạnh, do đó có thể hiểu tại
sao cắt bỏ tuyến yên lại gây nhiễm mỡ gan.
• Thần kinh. Thần kinh giao cảm và phó giao cảm giác chi
phối vận mạch và nhất là các cơ thắt ở tĩnh mạch trên gan và

• Dùng chung kim tiêm hoặc các dụng cụ tiêm khác.
• Dùng chung các vật dụng như dao cạo, bàn chải.
• Tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc vết thương hở của người
nhiễm HBV.
• Tiếp xúc với máu từ đầu kim tiêm hoặc các vật sắc nhọn
khác.
Trên toàn cầu nói chung, đường truyền từ mẹ sang con phổ biển
nhất. Ở các nước có tỉ lệ lưu hành HBV thấp, quan hệ tình dục
không an toàn và lạm dụng thuốc dùng đường tiêm tĩnh mạch là
nguyên nhân chủ yếu.
Tiến triển của bệnh
Người nhiễm HBV có thể có hoặc không có triệu chứng lâm
sàng. Trường hợp không có triệu chứng phổ biến hơn, đặc biệt ở
trẻ em. 90% trường hợp nhiễm HBV ở tuổi trưởng thành sẽ hồi
phục hoàn toàn và không bao giờ bị HBV quấy rầy lại, chỉ có
10% là chuyển thành người mang HBV mạn. Tuy nhiên, diễn
biến ở trẻ nhiễm HBV từ lúc mới sinh lại khác hẳn. Khoảng 90%
số trẻ này sẽ trở thành người mang bệnh mạn tính, giai đoạn này
kéo dài nhiều năm, có thể không có biểu hiện lâm sàng, cuối cùng
dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng như xơ gan, cổ chướng, giãn
vỡ tĩnh mạch thực quản, ung thư gan. Biến chứng nguy hiểm nhất
của người bệnh là ung thư tế bào gan. Người mang HBV có nguy
cơ bị ung thư gan cao gấp 100 lần người không mang HBV.
Hình: Sơ đồ tiến triển của bệnh viêm gan virus B
Quá trình bệnh viêm gan B và các marker
Viêm gan B có thể là cấp tính – kéo dài dưới 6 tháng hoặc mạn
tính – kéo dài 6 tháng hoặc lâu hơn. Viêm gan cấp với các triệu
chứng điển hình như vàng da, chán ăn, sốt nhẹ, đau hạ sườn phải.
Trong trường hợp này, hệ thống miễn dịch có thể loại trừ virus ra
khỏi cơ thể và sẽ phục hồi hoàn toàn trong vòng vài tháng. Khi hệ

hơn và khả năng lây không nhiều.
Các thể lâm sàng của viêm gan B mạn tính
• Dung nạp miễn dịch: bệnh nhân bị nhiễm HBV trong
những năm đầu đời. HBeAg đóng vai trò như chất điều hòa
miễn dịch và HBV tránh được sự nhận diện của hệ thống miễn
dịch chưa hoàn chỉnh của cơ thể. Tiên lượng bệnh nói chung
tốt, bệnh nhân hiếm khi tiến triển đến xơ gan và ung thư tế bào
gan.
• VGBM với HBeAg dương tính: bệnh nhân có hệ thống
lympho T hoạt động mạnh chống lại HBeAg; có HBeAg dương
tính và mức HBV-DNA cao. Ở những bệnh nhân này, ALT
thường tăng, có hình ảnh viêm hoại tử tế bào gan khi sinh thiết
và thường tiến triển đến xơ gan. Tỉ lệ xơ gan hàng năm là 2 –
6%. Đây là nhóm bệnh nhân cần điều trị bằng thuốc.
• VGBM với HBeAg âm tính: Những bệnh nhân này thường
cao tuổi và bị bệnh gan tiến triển. Mặc dù xuất hiện anti-HBe,
bệnh nhân vẫn có mức HBV-DNA cao, ALT tăng và có tổn
thương mô bệnh học gan. Tỉ lệ xơ gan hàng năm là 8 – 10% và
đây cũng là đối tượng cần điều trị.
• VGBM bất hoạt: sự nhân lên của virus thấp nên HBeAg âm
tính và HBV-DNA<103 copies/ml hoặc không phát hiện được;
anti-HBe dương tính và ALT bình thường. Sinh thiết gan
không thấy viêm hoại tử và/hoặc xơ gan ở mức tối thiểu. Nói
chung tiên lượng bệnh là tốt và không cần điều trị chừng nào
HBV còn bất hoạt.
• Hồi phục: bệnh nhân có HBsAg, HBeAg âm tính; HBV-
DNA dưới ngưỡng phát hiện, đã xuất hiện anti-HBs, ALT và
mô bệnh học gan bình thường. Bệnh nhân không còn phải điều
trị.
Các xét nghiệm chẩn đoán viêm gan virus B

• Interferon: là một chất tự nhiên có trong cơ thể người, được
sản xuất bởi một số tế bào khi cơ thể nhiễm virus. Chức năng
của Interferon là diệt trừ tác nhân gây bệnh. Như vậy, khi dùng
Interferon, siêu vi B sẽ bị loại bỏ giống như cơ chế đào thải tự
nhiên của cơ thể. PEG IFN alfa (IFN alpha kết hợp với
polyethylen glycol) có thời gian bán thải dài hơn (tăng từ 5 giờ
đến 90 giờ). Ở các bệnh nhân có HBeAg dương tính, PEG IFN
có tác dụng tốt hơn IFN. Sau 48 tuần điều trị với PEG IFN, tỉ lệ
HBV-DNA dưới ngưỡng phát hiện là 25% và 63% lần lượt ở
bệnh nhân có HBeAg dương tính và âm tính. IFN và PEG IFN
chỉ dùng được đường tiêm dưới da. Khoảng 90% bệnh nhân
gặp các triệu chứng giống cúm và mệt mỏi. Các tác dụng phụ
như sốt, đau cơ, đau đầu xảy ra ở trên 25% bệnh nhân. Các tác
dụng phụ khác là đau khớp, tiêu chảy, thiếu máu, suy hoặc
cường giáp, trầm cảm, rụng tóc và chán ăn. IFN và PEG IFN
chống chỉ định cho phụ nữ có thai, bệnh nhân xơ gan mất bù,
bệnh nhân bị nhiễm khuẩn nặng. Mặc dù là thuốc điều trị đặc
hiệu nhưng hiện nay tỷ lệ làm mất virus của interferon alpha
cũng chỉ đạt 40 – 50%, hơn nữa giá thành thường rất đắt
(khoảng 150 triệu cho một liệu trình điều trị 06 tháng) do đó
khó phù hợp với đại đa số nhu cầu của bệnh nhân, nhất là
những người nghèo.
• Nhóm kháng virus NAs: là các thuốc ức chế men xúc tác quá
trình sao chép ADN của virus là polymerase, do đó ức chế sự
nhân lên của virus. Không giống như IFN, NAs hiếm khi loại
bỏ được HBsAg sau 1 năm. Do đó, thuốc thường được chỉ định
điều trị kéo dài, dẫn đến một nhược điểm lớn là tăng tỉ lệ kháng
thuốc do virus. Các thuốc trong nhóm bao gồm:
 Lamivudine: Hiện nay, tác dụng của lamivudin bị hạn
chế do sự kháng thuốc xảy ra nhanh. Sau 2 năm, tỉ lệ kháng

còn rất cao (ví dụ như khoảng 150 triệu cho một liệu trình
điều trị 6 tháng với IFN).
Dùng thuốc từ dược liệu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu trên một số loại cây thuốc đối
với bệnh viêm gan virut B mãn tính, mà khả năng chữa bệnh cúa
nó thực sự không thua kém với sản phẩm tân dược, có nhiều cây
tỷ lệ khỏi bệnh còn cao hơn, như cây Nhân trần, Bồ bồ, Cà gai
leo, Mật nhân, Giảo cổ lam … Trong đó có cây Cà Gai Leo đã
được nghiên cứu kĩ lưỡng, được bào chế thành thuốc và đưa vào
thử nghiệm trên lâm sàng. Đề tài nghiên cứu về cây Cà Gai Leo
do tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Khai thực hiện tại các bệnh viện hàng
đầu Việt Nam như viện quân y 108, 103, 454 trên bệnh nhân viêm
gan B mãn tính thể hoạt động đã đạt kết quả: tỷ lệ làm virut viêm
gan B trở về âm tính là khoảng 23,3%. Thuốc được đánh giá
không có độc, người bệnh nhanh hết các triệu chứng như vàng da,
mệt mỏi, men gan hạ nhanh, ăn ngủ tốt, tỷ lệ khỏi bệnh khá cao.
Ứng dụng từ đề tài nghiên cứu đó, công ty Tuệ Linh đã bào chế
sản phẩm Viên Giải độc gan với thành chính là Cà gai leo và Mật
nhân. Mới đây, ngày 06/09/2012, đề tài nghiên cứu “ ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU CỦA VIÊN GIẢI ĐỘC GAN TUỆ
LINH TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN VI RÚT B
MẠN TÍNH” tại viện quân y TW 108 đã được nghiệm thu bởi hội
đồng khoa học bệnh viện do PGS.TS Mai Hồng Bàng – Phó Viện
trưởng làm chủ tịch.
Những triệu chứng và cách
phát triển viêm gan C
Hỏi: Chào bác sĩ! gần đây một số người có nói với em
là viêm gan C là bệnh rất khó điều trị và dễ phát triển
thành mãn tính, khi có các triệu chứng của bệnh nên đi
sét nghiệm chuẩn đoán ngay. Vậy bác sĩ có thể cho em

Đổ mồ hôi
vào đêm
Tiêu chảy Vàng da Khó tiêu
Nhức bắp
thịt, khớp
Nhức đầu
Viêm gan C kinh niên
Mệt mỏi
(nhẹ đến
nặng)
“Brain fog”
(Rối trí)
Tâm thần
bất thường
Ăn không
ngon (biếng
ăn)
Buồn nôn Khó tiêu
Nhức bắp
thịt, khớp
Đau vùng
bụng
Sốt
Nhức đầu Trầm cảm
Giai đoạn cuối của viêm gan C với
tình trạng xơ gan
Mệt mỏi Sốt Buồn nôn
(nhẹ đến
nặng)
Ăn không

bệnh tim và máu như tắc nghẽn mạch máu (thrombosis), và các
triệu chứng da như lichen planus (có đặc điểm là da bị loang trắng
và sưng), và porphyria cutanea tarda (da nổi ban do nắng). Những
triệu chứng khác là một số loại viêm khớp (arthritis), nhức khớp
(arthralgia), bệnh về tuyến giáp trạng (thyroid), viêm mạch máu
(vasculitis), và triệu chứng chất đạm của máu tích tụ trong thận,
da, và giây thần kinh (cryoglobulinemia). Những triệu chứng
nghiêm trọng đều thuộc về giai đoạn cuối của bệnh viêm gan C,
khi gan bị hư hại và các chức năng của gan bị rối loạn. Có nhiều
người mang bệnh viêm gan C mà không bao giờ có các triệu
chứng này. Hãy tham khảo với bác sĩ nếu bạn có bất cứ triệu
chứng bất thường nào.
Thông tin thêm về cách phát triển của viêm gan C
Viêm gan C thường có thời gian ủ bệnh thường kéo dài từ 2 đến
26 tuần. Giai đoạn đầu gọi là nhiễm bệnh cấp tính. viêm gan C
cấp tính thường chấm dứt sau 2 đến 12 tuần. Tuy nhiên, có đến
80% số người mới bị nhiễm bệnh cơ thể của họ không loại trừ
được hết siêu vi nên trở thành bệnh kinh niên. Ða số người có
viêm gan C kinh niên không hề có triệu chứng nào và vẫn có một
cuộc sống gần như bình thường. Nhưng trong số 10% đến 25%
người có bệnh kinh niên, bệnh vẫn âm thầm phát triển suốt trong
khoảng 10 đến 40 năm. viêm gan C kinh niên có thể dẫn đến hư
gan, mô sợi phát triển trong gan, tụ mỡ trong gan, xơ gan , và ung
thư gan. Trong trường hợp nghiêm trọng, người bệnh có thể cần
phải được thay gan.
1. Xơ gan
là một quá trình trong đó các tế bào gan bị hư hoặc bị hủy đi và
được thay thế bằng các vết sẹo. Việc các vết sẹo hình thành một
cách rộng lớn sẽ cản trở việc lưu thông của máu qua gan, khiến
các tế bào gan chết nhiều thêm và chức năng của gan bị suy thoái.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status