ĐÁNH GIÁ TRẺ KHUYẾT TẬT TRONG GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT Phần 4 pot - Pdf 19

- 18 -
sinh thể hiện rõ sự chán nản và không thoải mái, việc trắc nghiệm nên
được hoãn lại.
4.1.2. Thực hiện trắc nghiệm.
Mục đích của việc thực hiện những trắc nghiệm tiêu chuẩn hòa là để
có những mẫu tốt nhất, tới mức có thể, về hành vi của học sinh trong những
điều kiện tiêu chuẩn. Tuân thủ chặt chẽ những đường hướng của sách hướ
ng
dẫn trắc nghiệm trong khi làm trắc nghiệm và cho điểm trắc nghiệm là điều
hoàn toàn cần thiết. Sách hướng dẫn trắc nghiệm thường có những lời chỉ
dẫn và các đầu mục trắc nghiệm để đọc cho học sinh. Những dòng chữ này
thường được in màu hoặc in đậm và phải được đọc nguyên văn. Người làm
trắc nghiệm có thể nói với học sinh rằng mình phải “đọ
c một số chỉ dẫn”.
Người làm trắc nghiệm không nên cố gắng đọc thuộc lòng thông tin và
không nên diễn giải các đầu mục cũng như lời hướng dãn trừ khi sách hướng
dẫn cho phép. Tuy nhiên cần phải đọc chúng bằng một giọng đọc tự nhiên.
Sách hướng dẫn trắc nghiệm cũng phải ghi rõ trình tự thực hiện trắc nghiệm,
nếu trắc nghiệm có một số phần hoặ
c một số tiểu test. Thông thường thì các
tiểu test được đưa ra theo trật tự mà người làm trắc nghiệm không thể thay
đổi. Sách hướng dẫn có thông báo cho người làm trắc nghiệm về việc có thể
bỏ đi một số tiểu test hay không và nếu có thì là những tiểu test nào.
Việc tiến hành trắc nghiệm đòi hỏi một sự tuân thủ nghiêm ngặt theo
các quy định thực hiện, đồng thời tạo lập mối quan h
ệ làm việc năng động
giữa học sinh và người làm trắc nghiệm. Có được sự cân bằng này là một
điều hết sức khó khăn đối với các nhà giáo dục vì những khác biệt giữa hoạt
động trắc nghiệm và hoạt động dạy học. Giáo viên có thể tự do khen ngợi,
khuyến khích và cung cấp thông tin; người làm trắc nghiệm không được làm
những điều đó nhưng vẫn phải duy trì được b

đầu tiên. Học sinh có thể
từ chối nhắc lại câu trả lời, hoặc có thể cho rằng yêu cầu nhắc lại câu trả lời
như vậy có nghĩa là câu trả lời đó đã không đúng, do vậy trả lời theo cách
khác.
3 Học sinh điều chỉnh câu trả lời: Khi học sinh đưa ra một câu trả
lời sau đó thay đổi ý kiến và đưa ra câu trả lời khác, người làm trắ
c nghiệm
nên chấp nhận câu trả lời sau cùng, ngay cả khi câu trả lời đó được đưa ra
sau khi người làm trắc nghiệm đã chuyển sang đầu mục khác. Tuy nhiên
cũng có trắc nghiệm chỉ định rằng chỉ có câu trả lời đầu tiên là được chấp
nhận để tính điểm.
4 Khẳng định và chữa câu trả lời của học sinh: Người làm trắc
nghiệm không được thể
hiện cho học sinh biết câu trả lời của chúng là đúng
hay sai bằng bất cứ cách nào. Những câu trả lời đúng cũng không được
khẳng định, những câu trả lời sai cũng không được chữa lại. Quy tắc này rất
quan trọng đối với các nhà chuyên môn dạy và thực hiện trắc nghiệm,
khuynh hướng đầu tiên của họ là tăng cường câu trả lời đúng.
5 Khích lệ hành vi làm việc cả
u học sinh: Mặc dù những người làm
trắc nghiệm không thể khen ngựoi học sinh về biểu hiện của chúng trên
những đầu mục trắc nghiệm cụ thể, nhưng hành vi làm việc tốt có thể và nên
được khen thưởng. Những nhận xét phù hợp như “Em đang làm việc chăm
chỉ đấy”, “Tôi thích cách em đang cố gắng trả lời câu hỏi”. Nên khen ngợi
học sinh vào giữa các đầu mục hoặc các tiể
u test để đảm bảo rằng việc khen
ngợi không có liên hệ gì với những câu trả lời cụ thể.
6Khuyến khích học sinh trả lời: Khi học sinh không trả lời được
một đề mục trắc nghiệm, người làm trắc nghiệm có thể khích lệ chúng đưa
ra câu trả lời. Học sinh đôi khi không nói gì khi gặp một đề mục khó, hoặc

và khó khăn củ
a trẻ. Đánh giá khả năng của trẻ, từ đó lập kế hoạch giáo dục,
giúp đỡ trẻ phát triển.
Đây là phương pháp được sử dụng tương đối phổ biến cho phép kiểm
tra trực tiếp hành vi, nhiệm vụ và môi trường của học sinh mà không cần
phải áp dụng phương pháp tổ chức kiểm tra trắc nghiệm. Việc quan sát có
thể áp dụng với bất cứ cá nhân ở
độ tuổi nào, bất kỳ khía cạnh giáo trình nào
và trong bất kỳ tình huống đánh giá hoặc giảng dạy nào.
Các giáo viên liên tục quan sát và lắng nghe học sinh của mình. Họ có
thể không gọi đây là qui trình quan sát nhưng bằng cách ghi lại những gì học
sinh nói và làm, là các giáo viên đang thực hiện các kỹ thuật quan sát đơn
giản. Khi một vấn đề có khả năng được phát hiện trong quá trình quan sát
đơn giản, thì các qui trình quan sát thẩm định tâm lý một cách hệ thống hơn
sẽ
được tiến hành. Mặc dù các kỹ thuật quan sát thường liên quan tới việc
nghiên cứu hành vi của học sinh trong lớp học, thì chúng cũng phù hợp với
các nghiên cứu kỹ năng học tập, kỹ năng xã hội, tự giúp và kỹ năng học
nghề. Do quan sát liên quan tới việc điều tra hành vi của học sinh trong điều
kiện môi trường tự nhiên, nên kỹ thuật này thường cung cấp những thông tin
mà việc sử dụ
ng các qui trình đánh giá khác không thể có được.
Quan sát các hành vi rời rạc: Ghi lại sự kiện và thời gian diễn ra.
Các hệ thống đánh giá dưới đây được sử dụng để thu thập dữ liệu về
những hành vi rời rạc (Alberto và Trouman, 1990)
* Ghi lại sự kiện: Mức độ thường xuyên của hành vi được lưu lại
trong sổ ghi sự kiện. Người quan sát chỉ đơn giản ghi chú giải mỗi khi hành
vi đ
ang quan tâm diễn ra. Ví dụ: giáo viên đếm số lần An ném máy bay giấy
trong lớp.


rộng khi kỹ năng của bạn trở nên tốt hơn.
2 Hãy yêu cầu học sinh ghi lại trong bản làm việc tại lớp thời gian
bắt đầu và kết thúc. Phương pháp này cho phép tính toán tỉ lệ cũng như mức
độ thường xuyên và dữ liệu chính xác. Học sinh có thể ghi lại số lần dời và
quay lại bàn học; sau đó tổng số thời gian ngồi tại ghế hàng ngày và mỗi
quãng thời gian có thể
được tính toán.
3 Hãy mang theo chiếc đồng hồ bấm giờ để tính toán độ dài của hành
vi. Ví dụ, bắt dầu bấm thời gian mỗi khi Nguyên rời khỏi ghế và tạm ngừng
lại khi cô bé quay về. Tiếp tục thực hiện (mà không cần thiết lập lại chế độ
đồng hồ) bấm thời gian mỗi khi hành động diễn ra. Cuối quãng thời gian
quan sát, hãy ghi lại tổng số thời gian đã tính toán.
4 Để
đếm hành vi mà không làm xáo trộn hoạt động của lớp học, hãy
đếm số cổ tay, máy đếm siêu thị, kẹp giấy di chuyển từ túi quần này sang túi
bên kia, hạt đậu trong chén và các công cụ không tốn kém khác.
- 22 -
5 Hãy để sơ đồ chỗ ngồi trước mặt bạn khi nói chuyện với cả lớp.
Đánh dấu theo tên của học sinh đối với mỗi hành vi mục tiêu ví dụ hỏi một
câu hỏi, nói chuyện hoặc trả lời đúng một câu hỏi.
6 Hãy tuyển một số tình nguyện viên để quan sát trong lớp học.
Những học sinh lớn hơn, cha mẹ, những người có tuổi, sinh viên đại họ
c
hoặc kể cả các sinh viên khác lớp cũng có thể là những người quan sát hoàn
hảo. Nếu giáo viên đã phát triển được một phương pháp ghi lại dữ liệu và
chỉ ra rõ ràng hành vi cần được quan sát, thì ngay cả một người không có
chuyên môn cũng có thể thực hiện việc quan sát.
Để thu thập được thông tin đầy đủ về trẻ cần chú ý:
- Quan sát cần được tiến hành trong mọi hoạt động của trẻ: hoc tập, vui
- 23 -
Tỉ lệ thang điểm hành vi của học sinh.
1 2 3 4 5
Khả năng làm theo hướng dẫn
Luôn nhầm lẫn:
không thể hoặc
không có khả
năng làm theo
hướng dẫn.
Thường làm
theo những
hướng dẫn
đơn giản
nhưng cần trợ
giúp cá nhân.
Làm theo
hướng dẫn đã
quen và
không phức
tạp
Ghi nhớ và làm
theo những
hướng dẫn mở
rộng
Thông thạo

Có khả năng ghi nhớ thông tin đưa ra bằng lời nói
Như không có
khả năng kể lại,
trí nhớ kém.
Nhớ được
những ý đơn
giản nếu được
thường xuyên
nhắc lại.
Khả năng nhớ
tài liệu một
cách trung
bình, khả
năng nhớ phù
hợp với độ
tuổi và trình
độ.
Nhớ được các
qui trình và
thông tin từ
nhiều nguồn
khác nhau; có
khả năng kể lại
sự kiện ở mức
trung bình và
ngay lập tức.
Có trí nhớ tốt
cả nội dung
và chi tiết
thông tin

bạn đồng ý hoặc không đồng ý bằng cách đánh dấu vào các ô tương ứng .
Câu trả lời: 1- Hoàn toàn đồng ý
2 - Đồng ý
3 - Không chắc chắn
4 - Không đồng ý
5 - Hoàn toàn không đồng ý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status