1
LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP
Tiểu luận
Nhận thức luận trong triết học của
Kant
2
MỤC LỤC
LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP 1
Tiểu luận 1
Nhận thức luận trong triết học của Kant 1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU
3
Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, triết học cổ điển Đức là một giai
đoạn phát triển rất quan trọng, xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII và tồn tại cho
đến hết thế kỷ XIX, cùng với Phoiơbăc, Hêghen, thì Kant là một trong những
đại biểu tiêu biểu nhất. Những đóng góp quan trọng của Kant làm cho ông xứng
đáng là người sáng lập nền triết học cổ điển Đức vĩ đại này. Triết học cổ điển
Đức được xem là sự chuẩn bị lý luận đầy đủ nhất cho sự ra đời của triết học
Mác.
Cùng với triết học thẫm mỹ; triết học thực tiễn thì triết học lý luận là một
trong ba bộ phận quan trọng trong triết học của Kant. Triết học lý luận là nền
tảng duy tâm tiên nghiệm của triết học Kant, bao hàm những tư tưởng sâu sắc về
nhận thức của con người và có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống tinh thần của
người Tây Âu từ đó đến nay. Triết học lý luận đã tạo ra một “cuộc cách mạng
Côpécníc” trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Triết học lý luận của ông là sự tổng
kết những vấn đề mà nhận thức nhân loại đã và đang đặt ra cho thời đại ông.
Những tổng kết của Kant bắt đầu từ chỗ phê phán, tìm tòi rồi đi đến sáng tạo,
mở ra nhiều vấn đề, nhiều con đường mới cho sự phát triển của lý luận nhận
thức và phương pháp của lôgíc học về sau này.
Với tầm quan trọng đó, việc nghiên cứu “triết học lý luận” của Kant là
trụ. Trong các tác phẩm triết học của thời kỳ tiền phê phán lúc đầu Kant chịu
ảnh hưởng của chủ nghĩa duy lý của Lépnít và Vônphơ nhưng về sau trong các
tác phẩm Về những sai lầm tinh tế của bốn loại hình tam đoạn luận (Xuất bản
1762) và trong Kinh nghiệm của việc dựa vào triết học khái niệm các đại lượng
phủ định (Xuất bản 1763) thì Kant đi tìm hạn chế của chủ nghĩa duy lý và logic.
Với ảnh hưởng của Hium, Kant ngày càng xa rời cách nhìn suy lý và logic. Đó
5
chính là xuất phát cho sự chuyển biến từ các tác phẩm thời kỳ tiền phê phán
sang các tác phẩm thời kỳ phê phán.
Triết học thời kỳ phê phán
Do chịu ảnh hưởng của các biến đổi ở Pháp và Tây âu trước cách mạng tư
sản 1789 và đặc biệt là ảnh hưởng của Hium, thế giới quan của Kant đã biến đổi.
Ông đặt nhiệm vụ nghiên cứu toàn bộ các vấn đề triết học từ trước tới nay, trên
tinh thần phê phán như quan niệm về con người, về lý tính về khả năng nhận
thức của con người, về hành vi đạo đức, về trách nhiệm và hạnh phúc của con
người. Theo Kant khoa học về con người chưa được chú trọng nghiên cứu và
phát triển đúng mức, chưa hướng vào việc giải quyết những vấn đề của cuộc
sống và hoạt động thực tiễn cho con người có cách nhìn về bản thân và về thế
giới từ đó vạch ra những nguyên tắc cơ bản cho hoạt động sống của con người
vì những lý tưởng nhân đạo, đạo đức, tự do, xứng với nhân vị cuả con người. Hệ
thống triết học của ông được thể hiện qua bộ 3 tác phẩm “phê phán” nổi tiếng
của ông. Trong Phê phán lý tính thuần túy, ông trình bày nhận thức luận. Ngoài
ra nhận thức luận còn được trình bày một các phổ cập hơn trong cuốn Tiểu luận
về mọi siêu hình học tương lai có quyền được tự coi là khoa học(1783). Luân lý
học của ông được trình bày trong cuốn Phê phán lý tính thực tiễn (1788). Cuốn
Phê phán năng lực phán đoán (1790) dành chủ yếu cho những vấn đề mỹ học và
cả vấn đề về tính có mục đích trong thế giới hữu cơ.
Theo Kant các triết gia từ xưa tới nay hình như quên mất vấn đề quan trọng
là con người. Vì vậy Kant đặt nhiệm vụ hàng đầu cho mình là phải xác định bản
chất của con người, toàn bộ các vấn đề của triết học phải được hướng vào việc
Phê phán lý tính thuần tuý” được ông viết vào năm 1781. Tác phẩm này đã
vạch ra giới hạn cho lý trí con người trong hoạt động nhận thức và nó chính là
lời giải đáp cho một trong ba câu hỏi lớn mà Kant đã đặt ra trong hệ thống triết
học của mình: Với tư cách là con người, tôi có thể biết gì? Câu hỏi này được trả
lời trong “Triết học lý luận”. Ở đây, ông xác định những điều kiện và giới hạn
nhận thức của con người, vạch ra rằng con người có tri thức về cái gì? Giới hạn
7
của chúng ra sao, do đó địa vị con người được xác định trong hoạt động nhận
thức như thế nào?
Trong hệ thống triết học của mình, Kant còn đặt ra hai câu hỏi lớn khác
nằm trong hai bộ phận còn lại: với tư cách là con người, tôi cần phải làm gì?,
được trả lời trong “ triết học thực tiễn”; với tư cách là con người, tôi có thể hy
vọng gì?, được trả lời trong “triết học thẫm mỹ” và “ Mục đích luận”.
Kant được coi là người đầu tiên trong lịch sử loài người đã đứng ra nghiên
cứu về khả năng cũng như giới hạn của tri thức con người. Ông phân biệt thế
nào là tri thức và thế nào là suy tưởng. Ông cũng là người phân biệt hai loại tri
thức của con người: tri thức thường nghiệm (tri thức kinh nghiệm cảm tính) và
tri thức thực nghiệm (tri thức khoa học). Kant cho rằng mỗi tri thức bao giờ
cũng là một thể thống nhất của quan niệm và cảm giác; trong đó quan niệm là
khuôn hình hay hình thức của tri thức, còn cảm giác là vật liệu hay chất thể của
tri thức. Thiếu cảm giác, những quan niệm của ta chỉ là những khuôn hình trống
rỗng, không phải là tri thức; thiếu quan niệm thì những cảm giác của ta sẽ chỉ là
những cảm giác mù, tức cảm giác mà không biết là cảm giác gì.
Khi giải quyết vấn đề khả năng tri thức của con người, Kant đã bắt đầu từ
chổ phân biệt thế nào là tri thức khoa học và thế nào là tri thức kinh nghiệm cảm
tính. Kant viết: “tất cả mọi tri thức của ta bắt đầu từ kinh nghiệm nhưng nói
như thế không có nghĩa là tri thức của ta hoàn toàn do kinh nghiệm đâu, vì trong
tri thức của ta còn có phần trí năng không lệ thuộc vào kinh nghiệm”. Như vậy,
giữa hai loại tri thức trên có một sự khác biệt lớn; một bên hoàn toàn thụ động
nhưng bê kia lại rất năng động và luôn tìm kiếm những phương pháp mới.
thời gian, hơn nữa chúng có không gian và thời gian, do đó nó là cái tạm thời.
Còn thế giới “ vật tự nó” là cái vô hạn, vĩnh viễn vì nó tồn tại ngoài không gian
và thời gian, nó không có không gian và thời gian. Nếu thế giới hiện tượng tồn
tại tuân theo quy luật, tất yếu thì thế giới “ vật tự nó” tồn tại không tuân theo
9
quy luật, tất yếu hay nói cách khác nó không bị chi phối bởi quy luật, tất yếu.
Nếu thế giới hiện tượng mang tính nhân quả thì thế giới “ vật tự nó” tồn tại
ngoài liên hệ nhân quả. Từ đó Kant nhận xét, thế giới hiện tượng là thường
nghiệm, là thế giới của những cái tương đối, còn thế giới “ vật tự nó” là siêu
nghiệm, nó là thế giới của những cái tuyệt đối.
Khi bàn về quá trình nhận thức của con người, Kant cho rằng con người ta
nhận thức và từ đó có tri thức bởi một năng lực tiên thiên mà ông gọi là lý tính
lý luận (hay lý tính tiên thiên, lý tính thuần tuý). Ông coi lý tính là một năng lực
tinh thần có sẵn ở con người từ đầu ngay khi mới sinh ra và có như nhau ở tất
thảy mọi người. Ông gọi tính chất ấy là tiên thiên. Lý tính lý luận trong hoạt
động nhận thức của con người có ba cấp độ: cảm năng, trí năng và lý năng. Mặc
dù đối tượng nhận thức là thế giới nói chung nhưng ba cấp độ này có chức năng
khác nhau và tương ứng với chúng có ba học thuyết nghiên cứu về những khả
năng nhận thức của con người. Như vậy “ triết học lý luận” của Kant không phải
nghiên cứu giới tự nhiên mà là nghiên cứu hoạt động nhận thức của con người
với mục đích là xác lập các quy luật, giới hạn của lý tính con người.
Học thuyết về cảm giác siêu nghiệm.
Học thuyết này nghiên cứu về tất cả các hình thái của khả năng cảm giác
ở con người. Điều này cho thấy ông luôn chú tâm đến những gì là căn nguyên, là
khả năng thuần tuý của nhận thức.
Kant cho rằng nhận thức của con người trước hết được thực hiện bởi cảm
năng. Cảm năng là một năng lực tiên thiên thuộc về lý tính lý luận. Cảm năng
đem lại cho con người những tri thức kinh nghiệm cảm tính. Nhưng để có những
tri thức kinh nghiệm cảm tính đó thì hoạt động của cảm năng phải có bộ công cụ
đó là không gian và thời gian. Vì không có bất kỳ tri giác nào vượt ra khỏi
11
công cụ là những phạm trù tiên thiên. Quá trình trí năng sản sinh ra tri thức khoa
học Kant gọi là giác tính.
Trong “ Triết học lý luận”, ngay khi bàn về tri thức, Kant đã bàn ngay
đến phạm trù vì ông coi đó là những điều kiện để ta có thể có tri thức và cũng là
hình thức nhất định phải có của tri thức ta. Kant đã xây dựng hệ thống gồm 12
phạm trù được chia thành 4 nhóm. Nhóm thứ nhất gồm các phạm trù về số
lượng: số đơn, số nhiều, toàn thể; nhóm thứ hai gồm các phạm trù về chất: hiện
thực, phủ định, hạn chế; nhóm thứ ba là các phạm trù tương quan: tuỳ thuộc và
độc lập, nguyên nhân và kết quả, tác động lẫn nhau; nhóm thứ tư là các phạm trù
hình thức: khả năng và không khả năng, tồn tại và không tồn tại, tất yếu và ngẫu
nhiên.
Các phạm trù trên là những khái niệm tiên nghiệm của trí năng có sẵn tính
phổ quát và tất yếu. Chúng là những khái niệm đã được con người định trước về
sự vật. Nhờ tính phổ quát, tất yếu và khả năng khái quát và các phạm trù của trí
năng vượt ra khỏi phạm vi ý thức cá nhân. Khi lí luận về các phạm trù thiên tiên,
Kant cho rằng chúng nguyên chỉ là những khuôn hình trống rỗng mà chưa có nội
dung tức chưa có tri thức, mà “ tư tưởng thiếu nội dung thì trống rỗng, trực quan
thiếu khái niệm thì mù quáng”. Do vậy, để có nội dung và trở thành tri thức, các
phạm trù phải được vận dụng vào kinh nghiệm cảm tính của con người, lúc đó
trở nên, lúc đó chúng trở nên có nội dung kinh nghiệm và những kinh nghiệm do
được vận dụng bởi các phạm trù mang sẵn tính phổ quát và tất yếu, cho nên
những kinh nghiệm cảm tính trở thành tri thức khoa học. Với điều này thì sự phê
phán lý luận của Kant có tác dụng khắc phục cái cực đoan, hạn chế của chủ
nghĩa duy lí và duy cảm.
Với tư cách là chủ thể nhận thức, con người chỉ biết được những gì do nó
tạo ra. Các phạm trù là những khuôn mẫu do giác tính tạo nên và sự vật được tạo
dựng theo những khuôn mẫu này. Do đó nguồn gốc tri thức của con người là
giác tính, là kết quả “suy diễn tiên nghiệm” của các phạm trù vào kinh nhgiệm
12
giới, là sự thống nhất tối cao của mọi hiện tượng vật lý; tương ứng với thần học
là Thượng đế, là sự thống nhất tất cả mọi hiện tượng vật chất và tinh thần.
Như vậy Kant đã hình thành nên các con đường tiếp cận với đối tượng truyền
thống của triết học duy tâm như linh hồn, thế giới và thượng đế Theo Kant khi
lý tính của con người muốn xâm nhập vào thế giới vật tự nó để đạt được tri thức
tuyệt đối thì lại nảy sinh ra mâu thuẫn (gọi là antinomia) vì khả năng của con
người không cho phép làm được việc đó. Kant khẳng định tồn tại 4 antinomia là
4 câu hỏi được đặt ra cho ý niệm về thế giới. Các antinomia này cũng chính là
những mâu thuẫn bên trong của ý niệm lý tính, là những sai lầm bất lực của lý
tính sau khi vượt ra khỏi phạm vi kinh nghiệm để xâm nhập vào thế giới vật tự
nó. Chính điều này bộc lộ hạn chế của lý tính. Những ý niệm trên đây là lĩnh
vực mà nhận thức của con người không đạt tới được, là những gì nằm ngoài
phạm vi tri thức của con người, cho nên không thể dựa vào lý tính của con người
để đạt tới được mà chỉ có dùng tín ngưỡng, niềm tin để giải quyết chúng.
Như vậy khi đi từ giác tính đến lý tính, Kant đã hạ thấp ý nghĩa của tư
duy bằng cách phủ nhận năng lực của lý tính có thể đạt được chân lý khách
quan. Kant cho triết học không thể nhận thức được chân lý khách quan. Kant đã
cố gắng để làm cho người ta tin chỉ có triết học của ông là có thể chấp nhận
được. Tuy nhiên triết học của Kant đã tách rời nhận thức ra khỏi hiện thực khách
quan cho nên đã kìm hãm ông trong vòng luẩn quẩn của ý thức tiên nghiệm.
Nhận thức hoàn toàn bị tách rời khỏi hiện thực khách quan và làm nhiệm vụ tự
nó nghiên cứu bản thân nó nghĩa là đối tượng của triết học không phải là thế giới
khách quan, là những quy luật chung của thế giới hiện thực mà là thế giới hiện
tượng do lý tính của con người xây dựng nên. Kant không coi nhận thức như là
quá trình lịch sử dựa vào hoạt động thực tiễn của con người mà coi nó như là
một cái gì khi đã có thì lúc nào cũng như vậy. Ở đây Kant đã tách rời hiện tượng
ra khỏi bản chất, không nhìn thấy được thống nhất biện chứng của chúng cho
nên theo Kant triết học thực sự không phải là học thuyết về vật tự nó mà là hiện
14
tượng luận, nghĩa là chủ thể nhận thức chỉ nhận thức được những gì do chính
đại cương tức logic hình thức và logic tiên nghiệm. Sự khác nhau giữa chúng ở
chỗ “logic đại cương sao nhãng với mọi nội dung của nhận thức, tức mọi quan
hệ của nó tới khách thể, mà chỉ nhận xem xét hình thức logic…của tư duy nói
chung. Trong trường hợp đó cần tồn tại một logic học không lãnh tránh với mọi
nội dung của nhận thức…nó cần phải nghiên cứu cả nguồn gốc của các tri thức
của chúng ra về sự vật”. Kant chủ yếu đề cập tới logic tiên nghiệm vì đây là
công cụ nhận thức, là phương tiện làm giàu tri thức tiên nghiệm tổng hợp.
Trên cơ sở ảnh hưởng trực tiếp của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh
nghiệm, Cantơ đã làm được một cuộc cách mạng trong triết học. Cantơ đã tìm
cách xây dựng trên cả chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm. Không đơn
thuần là sự kết hợp của hai đường lối ấy mà đã làm một cuộc cách mạng trong
triết học đó là Triết học phê phán. Triết học phê phán của ông đã phân tích khả
năng lý trí của con người được ông hiểu là “một sự truy tìm phê phán khả năng
của lý trí liên quan tới mọi nhận thức mà nó có thể cố gắng đạt tới một cách độc
lập với mọi kinh nghiệm. Đường lối triết học đó để trả lời cho câu hỏi thứ nhất
mà chính ông đã đặt ra là: “tôi có thể biết gì?”. Chính lý luận nhận thức của
Kant đã chứng minh cho câu trả lời câu hỏi đó. Năng lực nhận thức của con
người được ông chia ra thành 3 trình độ nhận thức: nhận thức cảm tính; nhận
thức giác tính; nhận thức lý tính. Mỗi một trình độ nhận thức đó có một chức
năng và giới hạn nhận thức riêng. Trên cơ sở trình độ nhận thức này làm tiền đề
cho trình độ nhận thức cao hơn. Nhưng năng lực nhận thức của con người vẫn bị
giới hạn bởi thế giới hiện tượng, nó chưa vượt ra được khỏi cái khuôn
khổ của “vật tự nó”.
KẾT LUẬN
Kant là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của triết học cổ điển
Đức. Hệ thống của ông có ảnh hưởng đối với sự ra đời của triết học Mác, tạo
nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho nhiều khuynh hướng triết học Phương tây hiện
16
đại. Kant thực sự đã tạo ra một bước ngoặt trong lịch sử triết học, đúng như ông
muốn rằng cần phải làm một “cuộc cách mạng Côpecníc” cho triết học.