Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
115
BÀI 7: HOẠCH ĐỊNH NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ QUẢN TRỊ
HÀNG DỰ TRỮ
Nội dung Mục tiêu
Thực chất, nội dung và vai trò của hàng
dự trữ.
Các phương pháp quản trị hàng dự trữ.
Thực chất của hoạch định nhu cầu
nguyên vật liệu.
Kỹ thuật lập kế hoạch nhu cầu nguyên
vật liệu.
Hiểu rõ về hoạt động dự trữ và lập kế hoạch
nguyên vật liệu.
Nắm rõ và có khả năng ứng dụng các
phương pháp và kỹ thuật quản trị hàng dự
trữ và lập kế hoạch nguyên vật liệu.
Thời lượng Hướng dẫn học
6 tiết.
Nắm rõ các công thức trong bài học.
Thực hành các bài tập ở cuối.
Tham khảo một số dạng bài tập khác có
liên quan tới bài học.
Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
117
7.1. Hoạch định nguyên vật liệu
7.1.1. Thực chất và vai trò của hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu
7.1.1.1. Khái niệm hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố đầu vào đặc biệt quan trọng đối với một
doanh nghiệp. Việc hoạch định chính xác và quản lý tốt nguồn nguyên vật liệu sẽ góp
phần đảm bảo sản xuất diễn ra nhịp nhàng, ổn định,
thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trong mọi thời điểm
và là biện pháp quan trọng giảm chi phí sản xuất, hạ
giá thành sản phẩm.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt các doanh
nghiệp sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm thì việc xác
định nhu cầu và dự trữ nguyên vật liệu ảnh hưởng rất
nhiều đến chi phí sản xuất. Để sản xuất mỗi loại sản phẩm lại đòi hỏi phải có một số
lượng các chi tiết, bộ phận và nguyên vật liệu rất đa dạng, nhiều chủng loại khác nhau,
thêm vào đó, lượng nguyên vật liệu cần sử dụng vào những thời điểm khác nhau là
khác nhau. Vì vậy, việc lập kế hoạch chính xác nhu cầu nguyên liệu, đúng khối lượng
và thời điểm là một vấn đề không hề đơn giản, đòi hỏi nhà quản trị phải tính toán sao
cho nguyên vật liệu phải đầy đủ, kịp thời với chi phí nhỏ nhất.
Trong quản trị hàng dự trữ người ta thường hay nói đến 2 dạng nhu cầu đó là nhu cầu
độc lập và nhu cầu phụ thuộc. Nhu cầu độc lập là nhu cầu về những sản phẩm cuối
cùng hoặc các chi tiết, bộ phận khách hàng đặt, nó được xác định thông qua công tác
dự báo hoặc dựa trên những đơn hàng. Trong khi đó, nhu cầu phụ thuộc là những nhu
cầu tạo ra từ các nhu cầu độc lập, nó được tính toán từ quá trình phân tích sản phẩm
thành các bộ phận, chi tiết và nguyên vật liệu. Vì vậy việc hoạch định nhu cầu nguyên
vật liệu chính là việc lập kế hoạch đối với nhu cầu phụ thuộc.
Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu là một nội dung cơ bản của quản trị sản xuất được
xây dựng trên cơ sở trợ giúp của kỹ thuật máy tính được phát hi
ện và đưa vào sử dụng
lần đầu tiên ở Mỹ vào những năm 70. Cách tiếp cận MRP là xác định lượng dự trữ
chờ đợi.
o Giảm thiểu lượng dự trữ mà không làm ảnh hưởng đến mức độ đáp ứng và
phục vụ khách hàng.
o Nâng cao khả năng sử dụng một cách tối ưu các phương tiện vật chất và lao động.
o Tạo sự thỏa mãn và niềm tin tưởng cho khách hàng.
o Tạo điều kiện cho các bộ phận phối hợp chặt chẽ, thống nhất với nhau, phát
huy tổng hợp khả năng sản xuất của doanh nghiệp.
o Tăng hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh.
7.1.1.2. Các yêu cầu trong ứng dụng MRP
Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu đem lại lợi ích rất
lớn trong việc giảm mức dự trữ trong quá trình chế
biến, mặt khác nó duy trì, đảm bảo đầy đủ nhu cầu
nguyên vật liệu đúng thời điểm.
Để MRP có hiệu quả cần thực hiện những yêu cầu và
điều kiện sau:
Có chương trình phần mềm MRP và đủ hệ thống
máy tính để tính toán và lưu trữ thông tin;
Đào tạo cho đội ngũ cán bộ hiểu rõ về MRP và có khả năng ứng dụng được nó;
Nắm vững lịch trình sản xuất, đảm bảo chính xác và liên tục cập nhật về lịch trình
sản xuất. Lịch trình sản xuất cho biết thời điểm, khối lượng và chủng loại sản
phẩm hoặc chi tiết cuối cùng cần có. Số liệu này có thể lấy từ các đơn đặt hàng, dự
báo hoặc yêu cầu của kho hàng để dự trữ theo mùa vụ;
Có hệ thống danh mục nguyên vật liệu. Bảng danh mục nguyên vật liệu là danh
sách của tất cả các bộ phận, chi tiết, nguyên vật liệu để tạo ra một sản phẩm hoặc
chi tiết cuối cùng. Mỗi loại sản phẩm sẽ có bảng danh mục nguyên vật liệu riêng;
Có hệ thống hồ sơ dự trữ nguyên vật liệu hoàn chỉnh. Đây là hồ sơ lưu trữ những
thông tin về tình hình chi tiết, bộ phận, nguyên vật liệu như tổng nhu cầu, lượng
tiếp nhận theo tiến độ và dự trữ sẵn có. Ngoài ra còn có những thông tin về nhà
cung ứng, thời gian thực hiện đơn hàng và kích cỡ lô hàng, những đơn hàng bị huỷ
Bước 1. Phân tích cấu trúc sản phẩm
Như trên đã đề cập, phương pháp hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu được tiến
hành dựa trên việc phân loại nhu cầu thành nhu cầu độc lập và nhu cầu phụ thuộc.
Nhu cầu độc lập là nhu cầu về sản phẩm cuối cùng và các chi tiết bộ phận khách
hàng đặt. Nhu cầu độc lập được xác định thông qua công tác dự báo hoặc dựa trên
những đơn hàng. Nhu cầu phụ thuộc là những nhu
cầu tạo ra từ các nhu cầu độc lập, nó được tính toán
từ các quá trình phân tích sản phẩm thành các bộ
phận, chi tiết và nguyên vật liệu. Để tính tổng nhu
cầu phụ thuộc, cần tiến hành phân tích cấu trúc của
sản phẩm. Cách phân tích dùng trong MRP là sử
dụng kết cấu hình cây của sản phẩm. Mỗi hạng
mục trong kết cấu hình cây tương ứng với từng chi
tiết bộ phận cấu thành sản phẩm. Sử dụ
ng kết cấu
hình cây có những đặc điểm sau:
o Cấp 0 là cấp ứng với sản phẩm cuối cùng. Cứ mỗi lần phân tích thành phần cấu
tạo của bộ phận là ta lại chuyển từ cấp i sang cấp i + 1.
o Mối liên hệ trong sơ đồ kết cấu: Đó là những đường liên hệ giữa hai bộ phận
trong sơ đồ kết cấu hình cây. Bộ phận trên gọi là bộ phận hợp thành và bộ phận
Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
120
dưới là bộ phận thành phần. Mối liên hệ có ghi kèm theo khoảng thời gian (chu
kỳ sản xuất, mua sắm ) và hệ số nhân. Số lượng các loại chi tiết và mối liên hệ
trong sơ đồ thể hiện tính phức tạp của cấu trúc sản phẩm.
o Sản phẩm càng phức tạp thì số chi tiết bộ phận càng nhiều và mối quan hệ giữa
chúng càng lớn. Để quản lý theo dõi và tính toán chính xác từng loại nguyên
Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
121
Nhu cầu thực tế là lượng nguyên vật liệu cần thiết trong từng khoảng thời gian
nhất định và được xác định như sau:
Nhu cầu thực tế = Tổng nhu cầu - Dự trữ
hiện có
+Dự trữ
an toàn
+ Số phế phẩm
cho phép
Trong đó:
Dự trữ sẵn có = Lượng tiếp nhận theo tiến độ + Dự trữ còn lại của kỳ trước.
Dự trữ sẵn có là tổng dự trữ đang có ở thời điểm bắt đầu của từng thời kỳ. Dự trữ
sẵn có theo kế hoạch là số lượng dự trữ dự kiến, có thể được sử dụng để thỏa mãn
nhu cầu của sản xuất.
Lượng tiếp nhận là tổng số bộ phận, chi tiết đã đưa vào sản xuất nhưng chưa
hoàn thành hoặc là số lượng đặt hàng mong đợi sẽ nhận được tại điểm bắt đầu
của mỗi giai đoạn.
Đơn hàng phát ra theo kế hoạch là tổng khối lượng dự kiến kế hoạch đặt hàng
trong từng giai đoạn.
Lệnh đề nghị phản ánh số lượng cần cung cấp hay sản xuất để thỏa mãn nhu cầu
thực. Lệnh đề nghị có thể là đơn đặt hàng đối với các chi tiết, bộ phận mua ngoài
và là lệnh sản xuất nếu chúng được sản xuất tại doanh nghiệp. Khối lượng hàng
hóa và thời gian của lệnh đề nghị được xác định trong đơn hàng kế hoạch. Tùy
theo chính sách đặt hàng có thể đặt theo lô hoặc theo kích cỡ.
Đặt hàng theo lô là số lượng hàng đặt bằng với nhu cầu thực tế.
Đặt hàng theo kích cỡ là số lượng hàng đặt có thể vượt nhu cầu thực bằng cách
Mua G
Sản xuất E
Sản xuất F
Lắp ráp B Mua C
Lắp ráp
chiếc bàn
Kết quả của quá trình hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu, linh kiện được thể hiện
trong biểu kế hoạch có dạng sau:
Tuần 0 1 2 3 4 5 6
Hạng mục
Tổng nhu cầu
Lượng tiếp nhận theo tiến độ
Dự trữ sẵn có
Nhu cầu thực
Lượng tiếp nhận đơn đặt hàng theo kế hoạch
Lượng đơn hàng phát ra theo kế hoạch
Lượng tiếp nhận đặt hàng theo kế hoạch là số lượng những chi tiết, nguyên vật liệu
mong muốn nhận được tại đầu kì. Đối với đặt hàng theo lô, lượng nguyên vật liệu
này sẽ bằng nhu cầu thực tế. Đối với đặt hàng theo kích cỡ, lượng nguyên vật liệu
này sẽ vượt quá nhu cầu thực tế. Lượng nguyên vật liệu vượt quá nhu cầu thực tế
sẽ
Tuần 0 1 2 3 4 5 6 7 8
Số lượng 200 200
Tuần 0 1 2 3 4 5 6 7 8
Tổng nhu cầu 200 200
Lượng tiếp nhận theo tiến độ
Dự trữ hiện có 00000 0 00
Nhu cầu thực 0000200 0 0 200
Lượng tiếp nhận đặt hàng theo
kế hoạch
0000200 0 0 200
Cánh cửa
Thời gian
lắp ráp
mất 1 tuần
Lượng đơn hàng phát ra theo
kế hoạch
000
200
0 0
200
0
Đối với tổng nhu cầu của cách cửa sẽ lấy từ lịch trình sản xuất là 200 ở tuần thứ 5
và 200 ở tuần thứ 8. Dự trữ hiện có và lượng tiếp nhận theo tiến độ không có nên
nhu cầu thực tế sẽ bằng tổng nhu cầu. Đối với đặt hàng theo nhu cầu thực tế thì
lượng tiếp nhận đặt hàng theo kế hoạch bằng đúng nhu cầu thực t
ế. Lượng đơn
hàng phát ra theo kế hoạch sẽ phải lùi lại 1 tuần.
Tuần 0 1 2 3 4 5 6 7 8
Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
124
2 tuần. Đối với các thanh gỗ, khi xét đơn hàng 200 cánh cửa cũng cần phải có 800
thanh gỗ vào đầu tuần thứ 4. Ở đây do có 50 thanh gỗ dự trữ nên nhu cầu thực là
800 – 50 = 750 thanh. Ta phải phát đơn hàng theo kế hoạch vào đầu tuần thứ 4 và
lịch sản xuất bắt đầu từ đầu tuần thứ 3.
Tuần 0 1 2 3 4 5 6 7 8
Tổng nhu cầu 800 800
Lượng tiếp nhận theo tiến độ 50
Dự trữ hiện có 50 50 50 0 0 0 0
Nhu cầu thực 000750 0 0 800 0
Lượng tiếp nhận đặt hàng theo
kế hoạch 000750 0 0 800 0
Thanh gỗ
Thời gian
cung ứng
mất 1 tuần
Lượng đơn hàng phát ra theo
kế hoạch 00
750
00
800
00
2. Đặt hàng theo kích cỡ:
Tuần 0 1 2 3 4 5 6 7 8
Tổng nhu cầu 200 200
trong đó kích cỡ khung cửa là 200, vì vậy phải đặt 2 lô ở tuần thứ 4 (độ lớn của
đơn hàng phải là bội số của cỡ đơn hàng), mỗi lô 200 sản phẩm, phần dư thừa 100
sản phẩm ở tuần thứ 4 sẽ được chuyển làm dự trữ hiện có của tuần 5. Tương tự
tuần thứ 7 cũng sẽ đặt thành 2 lô, mỗi lô 200 sản phẩm.
Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
125
Tuần 0 1 2 3 4 5 6 7 8
Tổng nhu cầu 800 800
Lượng tiếp nhận theo tiến độ 50
Dự trữ hiện có 50 50 50 50 50 50 50
Nhu cầu thực 000750 0 0 750 0
Lượng tiếp nhận đặt hàng theo
kế hoạch 000800 0 0 800 0
Thanh gỗ
Thời gian
cung ứng
mất 1 tuần
Lượng đơn hàng phát ra theo
kế hoạch
00800 00 800 00
Cũng tương tự như vậy đối với thanh gỗ, nhu cầu thực tế tuần thứ 4 cần là 750 sản
phẩm, trong đó kích cỡ thanh gỗ là 100, vì vậy phải đặt 8 lô ở tuần thứ 4, mỗi lô 100
sản phẩm, phần dư thừa 50 thanh gỗ ở tuần thứ 4 sẽ được chuyển làm dự trữ hiện có
của tuần 5. Tương tự tuần thứ 7 cũng sẽ đặt thành 8 lô, mỗi lô 100 thanh gỗ.
7.1.3. Các phương pháp xác định lô hàng
Đối với nhu cầu độc lập thường áp dụng phương pháp
Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
126
Nếu ta gọi:
D = nhu cầu trong năm (số đơn vị/năm)
H = Phí trữ hàng (đồng/năm)
S = Phí đặt hàng (đồng/lần đặt)
Q = Số lượng đặt hàng (đơn vị/lần đặt)
TC = tổng chi phí đặt hàng và trữ hàng:
HQ SD
TC
2Q
2QS
Q
H
Ví dụ 4: Với số liệu từ ví dụ 3, cho biết nhu cầu trung bình hàng tuần về nguyên
vật liệu là 27 đơn vị, giả sử 1 năm công ty làm việc có 52 tuần. Ta có:
Nhu cầu về nguyên vật liệu cả năm là D = 52 27 = 1.404 đơn vị.
2 140 100
Q73
152
chênh lệch giữa cỡ lô trong các đơn đặt hàng.
Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
127
Ví dụ 5: Với số liệu ở ví dụ 3 và 4 ta có:
Thời kỳ 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Tổng nhu cầu 35 40 40 0 10 40 30 0 30 55
Lượng tồn kho sẵn có 40 0 50 50 40 0 30 30 0
Lượng đưa đến
75
90 60 55
Tổng chi phí của phương án này là:
TC = (100 + 100 + 100 + 100) + ( 30 + 140 + 60) = 630 USD
7.2. Quản trị hàng dự trữ
7.2.1. Thực chất, vai trò của hàng dự trữ
7.2.1.1. Quan niệm về dự trữ và hàng dự trữ
Hàng dự trữ là số lượng hàng hoá được tạo ra trong
quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng cho nhu
cầu trong tương lai. Hàng dự trữ thường chiếm tỷ trọng
lớn trong tài sản của doanh nghiệp (thông thường
chiếm 40 – 50%). Chính vì vậy, việc quản lý, kiểm
soát tốt hàng dự trữ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó
góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất tiến hành liên
tục, có hiệu quả.
Hàng dự trữ bao gồm nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm dự trữ … tuỳ
theo các loại hình doanh nghiệp mà có các dạng hàng dự trữ khác nhau. Chẳng hạn
như một ngân hàng sẽ có những phương pháp tiêu chuẩn riêng để kiểm soát đánh giá
o Chi phí mua hàng: Là chi phí được tính từ khối lượng hàng của đơn hàng và
giá mua một đơn vị. Chi phí này có thể được ưu đãi hưởng giảm giá nếu mua
cùng một lúc với số lượng lớn.
o Chi phí đặt hàng: Là toàn bộ các chi phí có liên quan đến việc thiết lập các đơn
hàng. Nó bao gồm các chi phí tìm nguồn hàng, chi phí chuẩn bị, chi phí vận
chuyển, chi phí giao nhận hàng, kiểm tra sai sót, nhập kho, các chi phí hành
chính khác
o Chi phí lưu kho: Là những chi phí phát sinh trong thực hiện hoạt động dự trữ.
Nó bao gồm các chi phí:
Chi phí cơ hội: Khi lô hàng được dự trữ thì vốn đầu tư không dùng vào mục
đích khác được hoặc vẫn phải trả lãi suất cho ngân hàng khi tồn đọng;
Chi phí cất giữ: Chi phí thuê địa điểm lưu
giữ hàng hoá, chi phí hao mòn cơ sở hạ
tầng kho bãi, bảo hiểm, chi phí bảo quản;
Chi phí do lỗi thời, hư hỏng và mất mát: Chi
phí do lỗi thời sẽ được phân bổ cho các món
hàng có nhiều rủi ro bị lỗi thời, mà rủi ro
càng cao thì chi phí càng lớn. Sản phẩm có
thể bị hư hỏng, thối do để lâu như lương
thực, hoa quả, sản phẩm tươi sống Chi phí
mất mát là chi phí có thể do hàng hóa bị lấy cắp, thất thoát hoặc đổ vỡ Tổn
thất khi phải bán sản phẩm mua về mà không sử dụng nữa (do chuyển
hướng sản xuất kinh doanh, chất lượng sản phẩm giảm sút);
o Chi phí thiếu hàng: là những tổn thất do thiếu hàng gây nên. Từ góc độ bán
hàng, nếu thiếu hàng cung cấp, khách hàng sẽ chuyển sang đặt hàng của doanh
nghiệp khác. Từ góc độ sản xuất, trong quá trình sản xuất, thiếu hàng dẫn đến
việc ngừng sản xuất đợi nguyên liệu, ứ đọng bán thành phẩm, kéo dài thời gian
giao hàng và dẫn đến ngưng ca…
Khi nghiên cứu quản trị hàng dự trữ, chúng ta phải giải quyết hai vấn đề cơ bản là:
Lượng đặt hàng bao nhiêu là tối ưu và Thời điểm đặt hàng vào lúc nào là
trong tương lai. Mua hàng với số lượng lớn hơn cần thiết sẽ dẫn đến mức dự trữ
nhiều hơn và tăng chi phí dự trữ. Tuy nhiên, nếu như dự đoán trong tương lai giá
cả sẽ tăng, các chi phí của việc mua hàng trước có thể bù đắp được khoản này.
Đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng. Nhu cầu không phải lúc
nào cũng dự báo chính xác được, nó có thể thay đổi do yếu tố mùa vụ, tính chu kỳ
hoặc những biến động bất thường có thể xảy ra ngoài dự báo.
7.2.2. Các phương pháp quản trị hàng dự trữ
7.2.2.1. Kỹ thuật phân tích ABC
Kỹ thuật phân tích ABC được đề xuất dựa vào nguyên
tắc Pareto (Pareto là một nhà kinh tế người Ý vào thế kỷ
thứ 19). Ông ta quan sát và phát hiện ra rằng có một số
ít người trong xã hội lại có thu nhập cao còn lại đa số là
thu nhập thấp hoặc trung bình. Ta cũng có thể thấy là
trong một cửa hàng bách hóa với nhiều chủng loại sản phẩm thì phần lớn doanh thu
hoặc lợi nhuận phụ thuộc vào một vài mặt hàng; trong một doanh nghiệp hoặc một tổ
chức trong số hàng trăm nhân viên thì chỉ có một số người có khả năng sáng tạo thực
sự. Quy luật số ít quan trọng có thể áp dụng vào quản trị hàng dự trữ.
Kỹ thuật phân tích ABC là nguyên tắc phân tích hàng hoá dự trữ thành 3 nhóm căn cứ
vào mối quan hệ giữa số lượng và giá trị của chúng. Nguyên tắc này là sự cải biến của
quy luật 80:20 của Pareto.
Khi áp dụng nguyên tắc Pareto cho việc quản lý hàng dự trữ, người ta thường chia
hàng dự trữ thành 3 nhóm:
Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
130
o Nhóm A: Bao gồm những loại hàng dự trữ có giá trị hàng năm cao nhất, với
giá trị từ 70 – 80% so với tổng giá trị mặt hàng dự trữ, nhưng về mặt số lượng
chúng chỉ chiếm 15% tổng số mặt hàng dự trữ.
131
Để minh họa cho vấn đề nêu trên, chúng ta xét ví dụ sau:
Ví dụ 6: Công ty A có 10 loại nguyên vật liệu dự trữ; số lượng nhu cầu một năm, giá
mua của mỗi chi tiết được thể hiện trong bảng sau:
Ký hiệu NVL A B C D E G H I K L
Nhu cầu năm
(tấn)
3.000 4.000 1.500 6.000 1.000 500 300 600 1.750 2.500
Giá NVL (USD) 50 12 45 10 20 500 1500 20 10 5
Từ các loại các số liệu về nhu cầu hàng năm, giá một đơn vị hàng hóa, giá trị hàng
năm, tỷ lệ % của mỗi loại nguyên vật liệu này người ta ứng dụng nguyên tắc phân tích
ABC để chia nhóm và sắp xếp thành thứ tự ưu tiên như trong bảng dưới đây:
Mặt hàng
Nhu cầu
hàng năm
Giá mua
một đơn vị
Giá trị các loại
mặt hàng
% về giá trị so
với tổng giá trị
năm
Sắp xếp thứ
tự ưu tiên
A
3.000 50 15.000 13,8 3
B 4.000 12 48.000 4,41 6
C 1.500 45 67.500 6,21 4
D 6.000 10 60.000 5,52 5
Mô hình EOQ – The Basic Economic Order Quantity Model
Mô hình EOQ là một trong những kỹ thuật kiểm soát dự trữ phổ biến và lâu đời
nhất, nó được nghiên cứu và đề xuất từ năm 1915 do ông Ford.W.Ham, đến ngày
nay nó vẫn được nhiều các doanh nghiệp sử dụng. Kỹ thuật kiểm soát dự trữ theo
mô hình này rất dễ áp dụng, tuy nhiên phải có những giả định cho trước, đó là:
Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
132
o Nhu cầu gần như cố định và được xác định trước.
o Thời gian từ khi đặt hàng đến khi nhận là không đổi và được xác định trước.
o Không cho phép có hiện tượng thiếu hàng.
o Chi phí đặt hàng là cố định, không liên quan đến số lượng hàng đặt và không
có chính sách chiết khấu (giá mua giảm theo lượng bán tăng).
o Hạng mục sản phẩm chỉ là chủng loại đơn nhất, không xét đến tình huống
nhiều mặt hàng.
Với giả định như trên sơ đồ biểu diễn sử dụng dự trữ theo thời gian có dạng như sau:
Với giả thiết nhu cầu là cố định và được cho bằng D, thì D sẽ giảm dần khi sử
dụng và được thể hiện bằng độ dốc là D. Mức tồn kho tối đa là Q* và sẽ được sử
dụng hết đến khi mức tồn kho bằng 0. Tồn kho trung bình sẽ là Q*/2
Nếu ta đặt mỗi lần số lượng nhiều thì số lần đặt hàng sẽ giảm và chi phí đặt hàng sẽ
thấp, ngược lại nếu đặt hàng mỗi lần với số lượng nhiều thì chi phí dự trữ sẽ tăng. Ta
cần tìm một lượng đặt hàng Q* sao cho tổng chi phí về dự trữ là nhỏ nhất.
Nếu ta gọi:
D = Lượng nhu cầu về nguyên vật liệu trong năm.
Q = Lượng đặt hàng mỗi lần.
S = Chi phí đặt hàng một lần.
H = Chi phí dự trữ nguyên vật liệu trong năm.
2
HDS 2DC
TC 0 Q
2Q H
Vậy: Q* =
2
2DS
Q
H
Từ lượng Q* này người ta cũng có thể tính được số đơn hàng tối ưu nên đặt trong
năm và thời gian trung bình giữa các lần đặt hàng trong năm như sau:
Số lượng đơn hàng mong muốn trong 1 năm là:
D
Q
Khoảng cách trung bình giữa 2 lần đặt hàng là: Ví dụ 7: Công ty An Thịnh có nhu cầu về sản phẩm A là 3.000 sản phẩm/năm với
chi phí đặt hàng mỗi lần là 100 USD và chi phí dự trữ là 10 USD/sản phẩm/năm.
Cho biết trong năm doanh nghiệp sẽ sản xuất 300 ngày. Vậy ta có thể tính toán
được các chỉ tiêu về dự trữ như sau:
a) Lượng đặt hàng tối ưu :
2DC
245
Trong đó:
d là nhu cầu tiêu dùng hàng ngày về hàng dự trữ.
L là thời gian từ khi đặt hàng đến khi nhận được hàng (thời gian chờ đợi hàng).
Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
134
Điểm đặt hàng lại (ROP) được biểu diễn bằng hình vẽ sau đây:
Ví dụ 8: Công ty Anh Thịnh có nhu cầu về sản phẩm A là 3000 sản phẩm/năm với
chi phí đặt hàng mỗi lần là 100 USD và chi phí dự trữ là 10 USD/sản phẩm/năm,
giá mỗi sản phẩm là 50 USD. Cho biết trong năm doanh nghiệp sẽ sản xuất 300
ngày, thời gian từ khi đặt hàng đến khi hàng đến là 10 ngày, vậy điểm đặt hàng lại
sẽ là:
D
ROP L 100
N
sản phẩm
7.2.2.3. Mô hình sản lượng đặt hàng theo sản xuất POQ (Production Order Quantity
Model)
Là mô hình dự trữ được ứng dụng khi lượng hàng được đưa đến liên tục hoặc khi sản
phẩm vừa được tiến hành sản xuất vừa tiến hành sử dụng hoặc bán ra.
Trong mô hình EOQ chúng ta đã giả định toàn bộ lượng hàng của một đơn hàng được
nhận ngay trong một chuyến hàng. Tuy nhiên có những trường hợp doanh nghiệp sẽ
nhận hàng dần dần trong một thời gian nhất định. Trong trường h
ợp này người ta phải
tìm kiếm một mô hình đặt hàng khác với EOQ.
Mô hình POQ thích hợp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của người đặt hàng nên
Để có TC min thì TC'
Q
= 0
suy ra TC’ = –
2
1d D
(1 ) H S 0
2p Q
2
1d D
(1 ) H S
2p Q
2DS 2DS p
Q
d
Hpd
H(1 )
p
hoặc
*
p
pd
= 1.061 sản phẩm
DQpd
TC S H 1.909 USD
Q2p
7.2.2.4. Mô hình khấu trừ theo số lượng (QDM – Quantity Discount Model)
Là mô hình dự trữ có tính đến sự thay đổi của giá cả phụ thuộc vào khối lượng hàng
trong mỗi lần đặt hàng. Việc khấu trừ theo số lượng thực chất là giảm giá hàng hóa
khi khách hàng mua loại hàng nào đó với một số lượng lớn.
Ví dụ nếu mua dưới 10 sản phẩm giá sẽ là 5 USD/sản phẩm, nếu mua từ 11– 49 sản
phẩm sẽ là 4,5 USD/sản phẩm và mua từ 50 sản phẩm trở lên s
ẽ được giảm giá chỉ còn
4 USD/sản phẩm.
Để tăng doanh số bán hàng, nhiều công ty thường đưa ra chính sách giảm giá khi số
lượng mua cao lên. Chính sách bán hàng như vậy được gọi là bán hàng khấu trừ theo
lượng mua. Nếu chúng ta mua với số lượng lớn sẽ được hưởng giá thấp. Nhưng lượng
dự trữ sẽ tăng lên và do đó chi phí lưu kho sẽ tăng. Xét về mức chi phí đặt hàng thì
lượng đặt hàng tăng lên, sẽ dẫn đến chi phí đặt hàng giảm đi.
Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
136
Bước 4: Chọn Q* có tổng chi phí của hàng dự trữ thấp nhất đã xác định ở bước 3.
Ví dụ 10: Nhu cầu về máy khoan điện của một cửa hàng kinh doanh là 1.000 cái/năm.
Chi phí đặt hàng là 100 USD/đơn hàng và chi phí lưu kho bằng 40% giá mua. Nếu đặt
hàng ít hơn 120 cái thì giá của một cái khoan điện là 78 USD; nếu đặt hàng từ 120 cái
trở lên, giá sẽ giảm xuống chỉ còn 50 USD/cái. Cửa hàng có nên áp dụng mô hình
chiết khấu theo số lượng hay không?
Hướng dẫn:
Trước hết cần tính Q* đối với từng mức giá
*
p
Q (78 USD) =
1
2DS
IPr
=
2 1.000 100
0, 4 78
= 80 sản phẩm
*
p
Q (50 USD) =
2
2DS
IPr
=
2 1.000 100
Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
137
TC
2
(50USD) = Pr
2
D +
*
2
D
Q
S +
*
2
Q
2
I Pr
2
1.000 120
1.000 50 100 0,4 50 52.033 USD
120 2
So sánh 2 trường hợp trên ta thấy phương án 2 có chi phí nhỏ hơn, do đó doanh
nghiệp nên đặt mua 120 cái khoan điện cho mỗi lần đặt hàng với giá mua được đã
chiết khấu là 50 USD
(0,2) (15)
= 82 chiếc
Bước 2: Xác định lượng đặt hàng điều chỉnh Q* theo các mức khấu trừ.
Với
*
1
Q
= 79 chiếc, nằm trong vùng áp dụng giá 47 USD/chiếc từ 50 – 99 chiếc, nên
phải điều chỉnh lượng mua xuống mức tối đa của trường hợp mua với khối lượng
thông thường là 49 chiếc với mức giá là 48 USD/chiếc hoặc yêu cầu nhà cung cấp bán
với mức giá 47 USD và khối lượng mua sẽ là 79 chiếc.Giả sử trường hợp bệnh viện sẽ
vẫn mua với khối lượng
*
1
Q = 79 chiếc/đơn hàng.
Với
*
2
Q = 80 chiếc, nằm trong vùng áp dụng giá 47 USD/ chiếc từ 50 – 99 chiếc nên
không cần điều chỉnh. Lượng đặt hàng trường hợp này sẽ là
*
2
Q = 80 chiếc/đơn hàng.
Với
*
3
Q = 82 chiếc, thấp hơn mức áp dụng giá khấu trừ 45 USD nên ta phải điều chỉnh.
Lượng đặt hàng điều chỉnh
*
(0,2) (45) = 90.750 USD
Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
138
Bước 4: Lựa chọn lượng đặt hàng tối ưu.
So sánh tổng chi phí về hàng dự trữ ở trên ta thấy mức
*
3
Q = 1.000 là mức đặt hàng
tối ưu cho mỗi lần đặt hàng (tổng chi phí về hàng dự trữ nhỏ nhất) và đặt hàng theo giá
45 USD/ chiếc là tốt nhất.
7.2.2.5. Mô hình phân tích biên
Mô hình phân tích biên xác định mức dự trữ tối ưu qua việc tính toán lãi cận biên và
lỗ cận biên. Khi dự trữ đạt đến mức nào đó mà nếu ta thêm vào một đơn vị dự trữ sẽ
có lãi cận biên mong đợi bằng hoặc lớn hơn lỗ cận biên mong đợi.
Nếu gọi:
p là xác suất xảy ra khi nhu cầu lớn hơn hoặc bằng với mức cung ứng cho trước,
vậy 1– p sẽ là xác suất xảy ra khi nhu cầu nhỏ hơn mức cung ứng cho trước.
MP là lợi nhuận cận biên và ML là thiệt hại (lỗ) cận biên thì lãi cận biên mong đợi
sẽ bằng xác suất của đơn vị lấy thêm bán được nhân với lãi cận biên (p
MP).
Tương tự, lỗ cận biên mong đợi sẽ bằng xác suất của đơn vị lấy thêm mà bán
không được nhân với lỗ cận biên (1– p
ML).
Vậy ta có: p
MP (1 – p) ML p
ML
MP ML
Bài 7: Hoạch định nguyên vật liệu và quản trị hàng dự tr
ữ
139
TÓM LƯỢC CUỐI BÀI
Bài học này thực chất là sự kết hợp của hai nội dung quản trị hàng dự trữ và lập kế hoạch nhu
cầu nguyên vật liệu.
Phần nội dung về lập kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu cần phải nắm rõ thực chất, các yêu cầu
và quy trình hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu. Phương pháp MRP đã giúp cho các doanh
nghiệp hoạch định một cách tương đối chính xác về nhu cầu nguyên v
ật liệu sao cho chi phí dự
trữ là thấp mà vẫn đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu vào đúng thời điểm cần thiết. Để tính toán
được nhu cầu nguyên vật liệu theo phương pháp MRP cần phải hiểu rõ về cấu trúc của sản phẩm,
xác định chính xác tổng nhu cầu về sản phẩm, nhu cầu thực tế, lượng dự trữ sẵn có, lượng tiếp
nhận theo tiến độ, kích c
ỡ lô hàng… để từ đó xác định lượng tiếp nhận đặt hàng theo kế hoạch và
lượng đơn hàng phát ra theo kế hoạch.
Phần nội dung về quản trị hàng dự trữ đã nêu lên thực chất và vai trò của hàng dự trữ. Các
phương pháp dự trữ cơ bản như mô hình EOQ, mô hình POQ, mô hình khấu trừ theo sản lượng,
mô hình phân tích biên. Các phương pháp này giúp người học biết cách xác định lượng đặt hàng
tối ưu để
cân bằng giữa các loại chi phí trong dự trữ, thời gian đặt hàng tối ưu, số lần đặt hàng,
điểm đặt hàng lại và tổng chi phí dự trữ.