Áp dụng phương pháp luận sáng
tạo ( TRIZ) trong dạy học
Mục tiêu giáo dục trong thời đại mới là phải bồi dưỡng cho học sinh
(HS) năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, để từ đó có thể tạo ra
những tri thức mới, phương pháp mới, cách giải quyết vấn đề mới. Tuy
nhiên sáng tạo là một khoa học, vì vậy việc nắm vững khoa học sáng tạo sẽ
tăng cường hiệu quả sáng tạo, rút ngắn thời gian và tiết kiệm tài lực.
1- Sơ lược về TRIZ
Phương pháp luận sáng tạo (Creativitymethodology)là bộ môn khoa họccó mục
đích xây dựng và trang bị cho mọi nguời xây dựng và trang bị cho mọingười hệ
thống các phương pháp, các kĩ năng thực hành tiến tiến về suy nghĩ để giải quyết
vấn đề và quyết định một cách sáng tạo. Ýđịnh “ khoahọctư duy sáng tạo” đã có
từ lâu. Nhà tóanhọc Hy lạp Pappos ( thế kỉ thứ III) gọi khoa họcnày là Heuristics,
là khoa học về các phươngpháp và quy tắc làmsáng chế, phát minh trongmọi lãnh
vực khoahọc, kĩ thuật, văn học,nghệ thuật, chính trị, triết học, tóan, quânsự…Tuy
nhiên,việc nghiên cứu có hệ thống và trình bày lại mộtcách đầy đủ cho từng
phươngphápthì mãi đếnđầuthế kỉ thứ XX mới xuất hiện. Sauđây là một số
phươngphápđang đượcdạy, họcvà áp dụng mộtcách rộngrãi trên thế giới :
1- Tấn công não (Brainstorming)do Alex Osborn( Mỹ) đề xuất năm 1938.
2- Đối tượng tiêu điểm ( Focal Objects) doF.Kunze( Đức) đề xuất năm1926 và
được C.Waiting (Mỹ) hòan thjịen năm1950.
3- Phân tích hình thái (Morphological Analysis) doF. Zwicky( Mỹ) đề xuất năm
1942
4- Tư duy theo chiều ngang ( Lateral thinking) doEdward deBono( Anh) đề xuất
năm 1970
5- Sáu mũ tư duy ( Sixthinking hats)doEdwardde Bono( Anh) đề xuất năm 1985
6- Giản đồ ý (MindMaps) doTonyBuzan (Anh)đề xuất năm 1960
7- Sử dụng các phép tương tự (Synectics) doW.Gordon(Mỹ) đề xuất năm 1952
8- Lý thuyết giải các bài toán sáng chế TRIZ ( viết tắt từ tiếngNga: Teopия
peшения изобретательских задач) do G.SAltsuller ( Nga)đề xuất năm 1946.
Trongcác phương pháp kể trên,phương pháp luận sáng tạo TRIZ là một lý thuyết
2. Nguyên tắc “tách khỏi”
3. Nguyên tắc phẩm chất cục bộ
4. Nguyên tắc phản đối xứng
5. Nguyên tắc kết hợp
6. Nguyên tắc vạn năng
7. Nguyên tắc chứa trong
8. Nguyên tắc phản trọng lượng
9. Nguyên tắc gây ứng suất sơ bộ
10. Nguyên tắc thực hiện sơ bộ
11. Nguyên tắc dự phòng
12. Nguyên tắc đẳng thế
13. Nguyên tắc đảo ngược
14. Nguyên tắc cầu hóa
15. Nguyên tắc linh động
16. Nguyên tắc giải “ thiếu”hoặc “thừa”
17. Nguyên tắc đổi chiều
18. Nguyên tắc sử dụng các daođộng cơ học
19. Nguyên tắc tác động theochu kỳ
20. Nguyên tắc liên tụctác độngcó ích
21. Nguyên tắc vượt nhanh
22. Nguyên tắc biến hại thành lợi
23. Nguyên tắc quan hệ phản hồi
24. Nguyên tắc sử dụng trunggian
25. Nguyên tắc tự phục vụ
26. Nguyên tắc sao chép
27. Nguyên tắc “rẻ” thaycho“đắt”
28. Thaythế sơ đồ cơ học
29. Sử dụng các kết cấukhí vàlỏng
30. Sử dụng vỏ dẻo và màng mỏng
31. Sử dụng các vật liệu nhiềulỗ
thường sẽ tự động bị
loại.
- Dị biệt về khối
lượng
- Dị biệt về màu
sắc
- Loại bằng
phương pháp cơ học ;
vận tốc, quán tính…
- Loại bằng
phương pháp quang
học
Tự loại bằng phương pháp cơ học: tạo một khỏang trống trước băng chuyền
những viên thuốc khiếm khuyết sẽ có sai lệch vận tốc khác và bị rơi xuống giỏ
Thí dụ 2 : Làm thế nào để hạn chế các cọc sau khi đóng xong được ổn định
lâu dài, khó lún xuốngđược.
Mâu thuẩn : Để cọc không bị lún thì đầu cọc phải tà. Nhưng nếu đầu cọc tà thì khó
đóngcọc.
Giải pháp : gắn đầu nhọn để đóng cọc. Sau khi đóng cọc xong, sẽ nở ra để làmtăng
diện tíchchân đế, hoặctự phân hủy.
4- Triển vọng vận dụng TRIZ trong dạy học :
Cho tớinay, việc giảng dạy lí luận sáng tạo vẫn được quan tâm về mặt nguyên tắc,
nhưng không được nghiên cứu một cáchcụ thể để cóthể áp dụng vàocác bậc học
khác nhau ở Việt Nam. Hiện nay, quá trình sáng tạo là của họcsinh (HS) trong quá
trình học tập thường là do quá trình tự phát, là kết quả của sự vận động, khuyến
khích, thúc đẩy, động viên của giáo viên( GV) mà không phải là kết quả của một
quá trình rèn luyện được định hướng một cách hệ thống, khoa học. Vì vậy, sinh
viên (SV) và HS thường gặp nhiều khó khăn khi yêu cầu phải sáng tạo, tìm ra giải
pháp xử lí vấn đề ở mức tư duy cao. Cũng có thể vìvậy mà số bằng phát minh của
Việt Namhiện ở mức rất thấp trên thế giới.