BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề tài
"Tổ chức quản lý đầu tư của Vụ
Tổng hợp Kinh tế quốc dân"
MỤC LỤC
BÁO CÁO THỰC TẬP 1
Đề tài 1
"Tổ chức quản lý đầu tư của Vụ Tổng hợp Kinh tế quốc dân" 1
MỤC LỤC 2
LỜI NÓI ĐẦU
Trong công cuộc xây dựng đất nước theo con đường công nghiệp hoá-hiện đại
hoá, đào tạo đội ngũ tri thức trẻ là một trong những công tác được quan tâm hàng đầu
đặc biệt là sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp ra trường.
Xu thế thời đại hiện nay là thời đại của tri thức khoa học, sự phát triển không
ngừng của công nghệ. Vì vậy những thử thách đặt ra đối với sinh viên ngày một lớn
đòi hỏi không chỉ học tập tốt, tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân, tiếp thu những
kiến thức khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn phải học hỏi những kiến thức thực
tế ngoài xã hội và vận dụng những kiến thức đã học đó vào trong thực tiễn.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan có chức năng tham mưu tổng hợp cho Chính
phủ về xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả
nước, về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế, quản lý nhà nước về lĩnh vực đầu tư trong
và ngoài nước. Trong đó Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân là cơ quan giúp Bộ trưởng
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tổng hợp kế hoạch kinh tế - xã hội và đầu tư.
Được vinh dự thực tập tại Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân, em đã hiểu biết hơn về
chuyên nghành Kinh tế đầu tư khi áp dụng vào thực tiễn đồng thời học hỏi được những
kinh nghiệm và có được những thông tin hữu ích trong lĩnh vực đầu tư phát triển sử
dụng vốn ngân sách nhà nước.
Trong 5 tuần thực tập tổng hợp vừa qua, nhờ sự phân công của khoa Kinh tế
đầu tư cùng với sự hưỡng dẫn, giúp đỡ tận tình của giáo viên phụ trách thầy PGS.TS
Từ Quang Phương và các chuyên viên tại Vụ Tổng hợp Kinh tế quốc dân đã tận tình
giúp đỡ em trong quá trình thực tập, do vậy em đã được tìm hiểu về tình hình chung,
“Trong chế độ dân chủ nhân dân của chúng ta ở miền Bắc, việc khôi phục và phát triển
kinh tế và văn hóa phải dần dần kế hoạch hóa, Ủy ban Kế hoạch Quốc gia sẽ thực hiện
từng bước công việc kế hoạch hóa này”.
Kể từ đó, hệ thống cơ quan Kế hoạch từ Trung ương đến địa phương được
thành lập, bao gồm Ủy ban Kế hoạch Quốc gia và các bộ phận kế hoạch của các Bộ
Trung ương, Ban kế hoạch ở các khu, tỉnh, huyện đảm đương nhiệm vụ xây dựng các
dự án kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, tiến hành công tác thống kê, kiểm tra việc
thực hiện kế hoạch.
Bộ phận tổng hợp luôn luôn được đặt ở vị trí quan trọng hàng đầu trong cơ cấu
tổ chức ở các thời kỳ của cơ quan kế hoạch nhà nước.
Trong năm 1958, tiền thân của Vụ Tổng hợp Kinh tế quốc dân là một nhóm
tổng hợp (trong Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết và sau đó là Ban kinh tế Chính
phủ). Đến tháng 1 năm 1958, Vụ Kế hoạch Tổng hợp Kinh tế Quốc dân được thành
lập trong cơ cấu tổ chức của Ủy ban Kế hoạch Quốc gia.
Ngày 9 tháng 10 năm 1961, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị định số 158/CP đổi
tên Ủy ban Kế hoạch Quốc gia thành Ủy ban Kế hoạch Nhà nước; đồng thời đã quy
định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước; theo đó,
chức năng, nhiệm vụ của Vụ Tổng hợp Kinh tế quốc dân đã được khẳng định là giúp
Ủy ban nghiên cứu và tổng hợp nghiên cứu xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội của đất nước.
Ngày 9 tháng 3 năm 1964, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 47/CP, theo
quyết định này, Vụ Tổng hợp Kinh tế quốc dân được tách làm 2 vụ là Vụ Tổng hợp
Kinh tế Quốc dân ngắn hạn và Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân dài hạn.
Ngày 9 tháng 7 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 69-HĐBT đổi
tên Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân ngắn hạn thành Vụ Tổng hợp Kinh tế quốc dân;
giải thể Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân dài hạn, thành lập Viên nghiên cứu kế hoạch
dài hạn.
Ngày 18 tháng 4 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết dịnh số 66-HĐBT
chính thức hóa lại cơ cấu tổ chức của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước; theo đó, toàn bộ
chức năng của Vụ Tài chính – giá thành – giá cả, một phần chức năng của Vụ Kế
công tác định mức kinh tế kỹ thuật phù hợp với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế trong từng thời kỳ. Soạn thảo các chỉ dẫn về phương pháp kế hoạch hóa, phương
pháp định mức. Xác định hệ thống chi tiêu, mẫu biểu, phương pháp tính toán các chỉ
tiêu để Bộ ban hành áp dụng cho việc xây dựng, tổng hợp, phân tích và báo cáo kế
hoạch của các ngành, địa phương và đơn vị cơ sở.
Ngay từ khi hình thành cơ quan kế hoạch, bộ phận phụ trách tổng hợp đã được
giao nhiều nhiệm vụ giúp cơ quan hoàn thành công việc Đảng và Nhà nước giao cho.
Từ những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, những người làm công tác tổng hợp
đã có công đóng góp cho Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết trong việc nghiên cứu
soạn thảo các chương trình diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Khi Ban Kinh tế
Chính phủ được thành lập (năm 1950), những người làm công tác nghiên cứu tổng hợp
đã tích cức tham gia soạn thảo, đệ trình Chính phủ những đề án về chính sách, chương
trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng các kế hoạch quan trọng về kinh tế nhằm
động viên sức người sức của cho công tác kháng chiến lần thứ nhất của nhân dân ta đi
đến thắng lợi. Những chương trình lớn về thi đua tăng gia sản xuất, tự túc tự cấp, thực
hiện giảm tô, tiến tới cải cách ruộng đất… đã ra đời từ đó.
Hòa bình lập lại trên miền Bắc; Ủy ban Kế hoạch Quốc gia được thành lập;
nhóm Tổng hợp (tiền thân là Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân hiện nay) đã tích cực
đóng góp vào việc nghiên cứu xây dựng kế hoạch khôi phục kinh tế sau chiến tranh
(1956 – 1957) và sau đó, với việc thành lập Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân, các cán
bộ trong Vụ đã tham gia vào việc xây dựng kế hoạch 3 năm cải tạo phát triển kinh tế ở
miền Bắc (1958-1960), tập trung giải quyết những nhiệm vụ còn lại của công cuộc
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân: Chia ruộng đất cho nông dân, tiến hành hợp tác
hóa nông nghiệp và thiết lập quan hệ sản xuất mới ở nông thôn, phục hồi và xây dựng
các cơ sở sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, phát triển mạng lưới thương nghiệp
quốc doanh, hợp tác xã sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, phát triển sự
nghiệp giáo dục, văn hóa, y tế, xã hội…
Trong những thời kỳ tiếp theo, với chức năng nhiệm vụ của mình, Vụ Tổng hợp
Kinh tế Quốc dân đã tổ chức nghiên cứu giúp Ủy ban Kế hoạch Nhà nước soạn thảo kế
hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), kế hoạch chuyển hướng thời chiến (1965-
3 Nghị định số 116/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 11 năm 2008. Theo
đó, cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư bao gồm các tổ chức hành chính giúp
Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và các tổ chức sự nghiệp nhà nước
phục vụ quản lý nhà nước trực thuộc Bộ. Cụ thể như sau:
1.2.1.1. Các tổ chức hành chính giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà
nước
- Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân
- Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ
- Vụ Tài chính, tiền tệ
- Vụ Kinh tế công nghiệp
- Vụ Kinh tế nông nghiệp
- Vụ Kinh tế dịch vụ
- Vụ Kết cấu hạ tầng và đô thị
- Vụ Quản lý các khu kinh tế
- Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư
- Vụ Kinh tế đối ngoại
- Vụ Lao động, văn hóa, xã hội
- Vụ Khoa học, giáo dục, tài nguyên và môi trường
- Vụ Quản lý quy hoạch
- Vụ Quốc phòng, an ninh
- Vụ Hợp tác xã
- Vụ Pháp chế
- Vụ Tổ chức cán bộ
- Vụ Thi đua - Khen thưởng
- Thanh tra Bộ
- Văn phòng Bộ
- Cục Quản lý đấu thầu
- Cục Phát triển doanh nghiệp
- Cục Đầu tư nước ngoài
- Tổng cục Thống kê
Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tổng hợp kế hoạch kinh tế - xã hội
và đầu tư. Chức năng, nhiệm vụ cụ thể của vụ được quy định rõ tại “Quyết định số
488/QĐ-BKH ngày 14/04/2009 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về chức
năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân”. Theo đó, Vụ
Tổng hợp kinh tế quốc dân có các nhiệm vụ sau đây:
1. Tổ chức nghiên cứu xây dựng khung hướng dẫn và tổng hợp kế hoạch 5 năm,
kế hoạch hàng năm về phát triển kinh tế - xã hội của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan lập các bảng cân đối tổng hợp kinh tế quốc dân:
tổng sản phẩm trong nước (GDP), thu nhập quốc gia (GNP); tích luỹ và tiêu dùng;
nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Phối hợp với các đơn vị liên quan lập các cân
đối: ngân sách nhà nước; cán cân thanh toán quốc tế; xuất, nhập khẩu và các cân đối
khác.
Dự thảo các văn kiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội bao gồm: kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội 5 năm, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, chương trình của
Chính phủ thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội sau khi được Quốc hội thông
qua và các văn kiện khác theo yêu cầu, báo cáo lãnh đạo Bộ trình các cơ quan Đảng
và Nhà nước.
2. Phối hợp với các đơn vị trong Bộ dự báo, thu thập và hệ thống hoá các thông
tin, tính toán các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp và xây dựng các phương án phát triển kinh
tế - xã hội phục vụ cho việc tổng hợp kế hoạch 5 năm và hàng năm.
3. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức nghiên cứu, tổng hợp và
lập các đề án, báo cáo để Bộ trình Chính phủ về: kế hoạch đầu tư phát triển; tổng mức
và cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước
theo ngành, lĩnh vực; tổng mức và phân bổ chi tiết vốn đầu tư trong cân đối, vốn bổ
sung có mục tiêu; tổng mức và phân bổ chi tiết vốn trái phiếu Chính phủ, công trái
quốc gia.
Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan lập và báo cáo để Bộ trình Thủ tướng Chính
phủ về: tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước;
danh mục các chương trình, dự án đầu tư quan trọng bằng các nguồn vốn; các khoản
chi dự phòng của ngân sách Trung ương cho đầu tư xây dựng cơ bản, bổ sung dự trữ
Khu vực công nghiệp và xây dựng; Khu vực dịch vụ.
+ Đánh giá chuyển biến của hoạt động sản xuất công nghiệp và xây dựng:
• Giá trị sản xuất công nghiệp tháng báo cáo so với cùng kỳ năm trước, bao gồm
hoạt động sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế ngoài
nhà nước trong đó phải kể đến khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
• Đánh giá giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp qua các quý trong năm.
• Đưa ra các nguyên nhân dẫn tới những chuyển biến trong hoạt động sản xuất
công nghiệp và xây dựng, bao gồm các nguyên nhân do biến động của giá vật liệu
xây dựng trên thị trường, ảnh hưởng của thị trường bất động sản, việc bổ sung thêm
nhiều vốn thực hiện các dự án đầu tư từ giải pháp kích cầu của Chính phủ v.v…
+ Đánh giá chuyển biến của hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
• Giá trị tăng thêm của toàn ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản các tháng đầu
năm so với cùng kỳ năm trước, trong đó bao gồm giá trị tăng thêm của các ngành:
nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.
• Đánh giá giá trị tăng thêm của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản qua các quý
trong năm.
• Về sản xuất nông nghiệp: Đưa ra số liệu về tổng diện tích lúa mùa cả nước, thu
hoạch lúa hè thu, đông xuân, diện tích gieo trồng cây màu lương thực, cây công
nghiệp ngắn ngày… và giá trị tăng thêm so với cùng kỳ năm trước. Đánh giá tình
hình chăn nuôi gia súc, gia cầm, chuyển biến của dịch bệnh có tác động đến hoạt
động chăn nuôi.
• Về lâm nghiệp: Đưa ra số liệu tuyệt đối về diện tích rừng tập trung trên cả
nước, diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh, diện tích rừng được chăm sóc, sản lượng
gỗ khai thác… và giá trị tăng thêm so với cùng kỳ năm trước.
• Về thủy sản: Đánh giá giá trị tăng thêm của sản lượng nuôi trồng và khai thác
thủy sản so với cùng kỳ năm trước.
+ Đánh giá chuyển biến hoạt động của khu vực dịch vụ
• Đưa ra số liệu tuyệt đối về tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ xã hội
tháng báo cáo và các tháng đầu năm, giá trị biến động so với cùng kỳ năm trước.
• Đưa ra số liệu tuyệt đối về lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong
các tháng đầu năm và tổng số vốn
• Về thu hút vốn ODA: Tổng giá trị vốn ODA được ký thông qua các hiệp định
với các nhà tài trợ, mức giải ngân ODA tháng báo cáo so với kế hoạch giải ngân của
cả năm.
+ Xuất nhập khẩu
• Xuất khẩu: Ước tính thực hiện xuất khẩu tháng báo cáo, tổng kim ngạch xuất
khẩu các tháng đầu năm, đánh giá biến động so với cùng kỳ; trong đó phải kể đến
xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô).
• Nhập khẩu: Ước tính kim ngạch nhập khẩu tháng báo cáo, tổng kim ngạch nhập
khẩu các tháng đầu năm, đánh giá biến động so với cùng kỳ; trong đó phải kể đến
nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Đánh giá giá trị nhập siêu, xuất siêu trên tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu.
+ Thị trường chứng khoán: Đánh giá tình hình biến động của chỉ số giá chứng khoán
(VN-Index) và sự ổn định của thị trường chứng khoán, đưa ra một số nguyên nhân dẫn
tới tình hình biến động trên.
+ Đánh giá xu hướng biến động của chỉ số giá tiêu dùng tháng thường kỳ so với các
tháng trước đó và so với cùng kỳ, chỉ số giá bình quân các tháng đầu năm. Đánh giá
biến động của chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ.
2.1.1.3 Về bảo đảm an sinh xã hội, phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và các lĩnh vực
xã hội khác
+ Về giảm nghèo, an sinh xã hội, lao động và việc làm
• Đánh giá khả năng thoát nghèo, tái nghèo, phát sinh hộ nghèo ở một số địa
phương trong tình hình biến động của nền kinh tế cũng như thiên tai, dịch bệnh,
v.v… Đánh giá sự chỉ đạo của Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành
với địa phương trong chỉ đạo, điều hành thực hiện, sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức chính trị, đoàn thể, của các cấp chính quyền cơ sở và bản
thân hộ nghèo, sự tham gia, đóng góp của các doanh nghiệp về vốn, hỗ trợ kỹ thuật,
tiêu thụ sản phẩm cho hộ nghèo, xã nghèo tới đời sống nhân dân và an sinh xã hội
được đảm bảo, nhất là đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, các vùng
miền núi, vùng sâu, vùng xa
hình thức liên doanh liên kết…; Xu hướng ổn định về chính trị, tăng trưởng kinh tế
thế giới ở mức cao sẽ tạo thêm điều kiện thuận lợi để thực hiện các mục tiêu kế
hoạch, nhất là tăng cường hợp tác quốc tế, phát triển kinh tế đối ngoại, thu hút các
nguồn vốn đầu tư, công nghệ và mở rộng thị trường xuất khẩu.
• Khó khăn và thách thức: Sức cạnh tranh của cả nền kinh tế và của các doanh
nghiệp còn hạn chế; Hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, ứng dụng các thành tựu
khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn thấp; Phát triển giáo dục đào tạo, chăm sóc sức
khỏe nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu;
Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó là sự
biến động về tình hình chính trị ở một số khu vực trên thế giới; biến động về thương
mại, đầu tư, giá cả vật tư, nguyên liệu đầu vào trên thế giới ở mức cao sẽ ảnh hưởng
bất lợi đến sự phát triển kinh tế trong nước; Sự cạnh tranh gay gắt từ các nền kinh tế
và các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới; Biến động về thời tiết, khí hậu, ô nhiễm môi
trường, các loại bệnh dịch tiềm ẩn nguy cơ tái phát v.v…
2.1.2.2. Mục tiêu, nhiệm vụ và các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội
Mục tiêu, nhiệm vụ
• Hoàn thành các kế hoạch 5 năm và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mà
Đảng và Nhà nước đề ra.
• Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng ở mức cao, nâng cao chất lượng tăng trưởng và
sức cạnh tranh của nền kinh tế và của từng ngành, từng sản phẩm. Tập trung phát
triển hệ thống kết cấu hạ tầng. Chủ động thực hiện các cam kết và lộ trình hội nhập
kinh tế thế giới một cách có hiệu quả. Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học, công nghệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Mở rộng mạng lưới an sinh xã hội; giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo vệ môi
trường. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy tổ chức và điều hành của Chính phủ
và chính quyền các cấp.
Các chỉ tiêu chủ yếu
Các chỉ tiêu kinh tế
• Giá trị tăng thêm của tổng sản phẩm trong nước (GDP), GDP bình quân theo
đưa ra dự báo về khả năng cân đối ngân sách của Nhà nước:
• Dự kiến tổng thu cân đối ngân sách Nhà nước, bao gồm: thu nội địa, thu từ dầu
thô, thu từ xuất khẩu.
• Dự kiến tổng thu ngân sách Nhà nước.
• Dự kiến bội chi ngân sách Nhà nước.
Dự báo cán cân thanh toán quốc tế
Dự báo cán cân vãng lai, cán cân vốn, cán cân thương mại và cán cân dịch vụ.
Dự báo cân đối vốn đầu tư phát triển
Dự báo khả năng huy động nguồn vốn đầu tư phát triển thông qua các nguồn chủ yếu:
• Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
• Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, trái phiếu giáo dục, trái phiếu y tế v.v…
• Nguồn vốn tín dụng
• Nguồn vốn từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước
• Nguồn đầu tư của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh và dân cư
• Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
• Các nguồn khác
Những cân đối chủ yếu nêu trên là những đảm bảo quan trọng để thực hiện
thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ và các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đề ra.
2.1.2.4. Định hướng phát triển ngành và lĩnh vực
Về kinh tế
Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Định hướng chuyển đổi cơ cấu, tập trung nâng cao tăng năng suất, chất lượng,
hiệu quả và khả năng cạnh tranh và an toàn thực phẩm các sản phẩm nông nghiệp. Dự
kiến giá trị tăng thêm của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản và dự kiến tốc độ tăng
trưởng giá trị sản xuất.
Có định hướng cụ thể đối với từng hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy
sản: sản xuất lương thực, phát triển cây công nghiệp, quy hoạch vùng trồng cây ăn
quả, vùng trồng rau…, phát triển chăn nuôi, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên
rừng, lập các dự án trồng mới rừng, khuyến khích đầu tư trồng rừng sản xuất và chế
biến lâm sản, ổn định khai thác hải sản, hình thành các khu nuôi thủy sản tập trung có
Định hướng chỉ đạo về công tác lập quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch xây
dựng đô thị, điểm dân cư nông thôn, hoàn thiện hệ thống cấp nước sinh hoạt, cung cấp
nước sạch cho đô thị, khu công nghiệp, giải quyết các vấn đề bức xúc về thoát nước và
xử lý chất thải ở các khu đô thị, phát triển nhà ở gắn với các khu đô thị mới nhằm hình
thành đồng bộ các khu nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân khu công
nghiệp đáp ứng nhu cầu của các đối tượng dân cư có mức thu nhập khác nhau.
Lĩnh vực xã hội và khoa học công nghệ
Định hướng cho từng lĩnh vực cụ thể theo các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra:
• Khoa học công nghệ
• Giáo dục đào tạo
• Dân số, lao động và giải quyết việc làm
• Chăm sóc sức khỏe nhân dân
• Thực hiện công tác giảm nghèo và các chính sách xã hội
• Phát triển văn hóa, thể dục thể thao, thông tin
• Công tác tôn giáo
• Bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ
• Phòng chống và giảm mạnh các tệ nạn xã hội
• An toàn giao thông
Tài nguyên và môi trường
Hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch về tài nguyên môi trường, phòng ngừa ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi
trường và bảo vệ đa dạng sinh học
• Tài nguyên: Định hướng cho hoạt động quản lý đất đai, quản lý tài nguyên
nước, địa chất khoáng sản, khí tượng thủy văn, đo đạc bản đồ…
• Môi trường: Định hướng trong việc hoàn thiện văn bản pháp quy và triển khai
thực hiện Luật môi trường, triển khai các chương trình xử lý chất thải, cải thiện chất
lượng không khí, quản lý bảo vệ và phát triển các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc
gia, tăng cường năng lực của các cơ quan nghiên cứu khoa học công nghệ môi
trường, thực hiện công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức môi trường, xây dựng cơ
sở dữ liệu về đa dạng sinh học…
2.1.3.1. Các giải pháp nhằm huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho đầu
tư phát triển
Thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm huy động tối đa và nâng cao hiệu quả sử
dụng các nguồn vốn cho đầu tư phát triển.
• Các giải pháp nhằm hỗ trợ việc triển khai các dự án FDI đã được cấp phép, đẩy
mạnh sản xuất kinh doanh, tăng vốn mở rộng quy mô dự án, tăng cường công tác xúc
tiến đầu tư cả trong và ngoài nước.
• Đối với nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước, cần đề ra các giải pháp nhằm
tăng cường công tác chuẩn bị và thẩm định dự án, đánh giá và giám sát bảo đảm sử
dụng nguồn vốn đầu tư ưu đãi đúng ngành nghề, lĩnh vực và địa bàn, dự án phải đảm
bảo tính khả thi thu hồi vốn và có lãi.
• Ban hành danh mục các công trình dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội,
việc phân bổ ngân sách hàng năm cho đầu tư phát triển phải căn cứ vào danh mục dự
án nói trên.
• Các giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách về quản lý đầu tư phát triển, tăng
cường giám sát, thanh tra, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, chống thất thoát lãng
phí, tăng cường quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, tổ chức ban
quản lý dự án hoạt động theo hướng chuyên nghiệp và hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp v.v…
2.1.3.2. Các giải pháp, chính sách để phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực
• Đề ra các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng tiêu cực trong thi cử, bệnh thành
tích trong giáo dục đào tạo, tăng cường kiểm tra giám sát của ngành giáo dục với các
cấp chính quyền và các cơ quan chức năng có liên quan nhằm nâng cao chất lượng
trong việc dạy và học.
• Các biện pháp đào tạo, nâng cao trình độ giáo viên, giảng viên, đáp ứng yêu cầu
đào tạo trong giai đoạn phát triển, tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ giảng dạy và quản
lý trong ngành giáo dục và đào tạo.
• Các biện pháp cụ thể nhằm đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy
học ở các cấp học.