ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên 33,12 triệu ha,
trong đó diện tích có
rừng 12,61 triệu ha và 6,16 triệu ha đất trống đồi núi trọc là
đối tượng của sản xuất lâm nông nghiệp. Như vậy, ngành
Lâm nghiệp đã và đang thực hiện hoạt động quản lý và sản
xuất trên diện tích đất lớn nhất trong các ngành kinh tế quốc
dân. Diện tích đất lâm nghiệp phân bố chủ yếu ở trên các
vùng đồi núi của cả nước, đây cũng là nơi sinh sống của 25
triệu cư dân thuộc nhiều dân tộc ít người, có trình độ dân trí
thấp, phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển
và đời sống còn nhiều khó khăn.
Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong giai đoạn vừa qua
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt công tác
bảo vệ và phát triển rừng trên phạm vi toàn quốc đã ngăn
chặn được tình trạng suy thoái về diện tích và chất lượng
rừng, diện tích rừng tăng từ 9,30 triệu ha năm 1995 lên 11,31
triệu ha năm 2000 và 12,61 triệu ha năm 2005 (bình quân
tăng 0,3 triệu ha/năm). Hiện nay bình quân mỗi năm trồng
mới được khoảng 200.000 ha rừng. Sản lượng khai thác gỗ
rừng trồng đạt khoảng 2.000.000 m3/năm để cung cấp
nguyên liệu cho chế biến hàng lâm sản xuất khẩu và tiêu
dùng trong nước.
1
Tuy nhiên, thực tế vẫn còn những tồn tại, đặc biệt diện
tích rừng tuy có tăng nhưng chất lượng và tính đa dạng sinh
học của rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị suy giảm, ở một số nơi
diện tích rừng tiếp tục bị tàn phá. Vì vậy, trong Chiến lược
phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2020 đã xác định:
Quản lý, sử dụng và phát triển rừng bền vững là nền tảng
cho phát triển lâm nghiệp.
lý rừng theo cách lập phương án điều chế được thực hiện
theo những quy định tại Quyết định 40/2005/QĐ-BNN, ngày
7/7/2005 của Bộ NN-PTNT về Quy chế khai thác gỗ và lâm
sản khác.
Mặc dù khái niệm quản lý rừng bền vững đã có từ
những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20 và không ngừng
phát triển nhưng đến nay đối với cán bộ lâm nghiệp khái
niệm này vẫn còn khá mơ hồ về mục đích và các hoạt động
của quản lý rừng bền vững. Thật vậy, một kết quả điều tra
3
mới đây của ORGUT cho thấy: có 85% số người được
phỏng vấn trả lời là có biết về thuật ngữ Quản lý rừng bền
vững. Nhưng khi hỏi tiếp theo là: Những hoạt động chính để
tiến tới quản lý rừng bền vững là gì? thì có tới 75 % trong số
đó trả lời là không biết (Báo cáo Đánh giá nhu cầu đào tạo
về quản lý rừng bền vững của Việt Nam do ORGUT thực
hiện trong khuôn khổ Chương trình quản lý bền vững rừng
tự nhiên và tiếp thị lâm sản - GTZ tài trợ)
Ngoài ra, việc chuyển đổi từ quản lý rừng truyền thống
sang quản lý rừng bền vững hiện nay đang được thúc đẩy bởi
một công cụ thị trường là “Chứng chỉ rừng”. Ý tưởng cấp
chứng chỉ rừng do Hội đồng Quản trị Rừng (FSC) đề cập
đến từ những năm đầu thập kỷ 90 như là một “công cụ hữu
hiệu, giúp cải thiện quản lý rừng của thế giới”; “là công cụ
chính sách mạnh mẽ nhất” trong quản lý rừng. Nhiều nước
trên thế giới đã khá thành công trong việc cấp chứng chỉ
rừng nên đã góp phần đáng kể quản lý rừng bền vững. Tính
đến 11/2007, Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) đã cấp
913 chứng chỉ rừng cho 78 nước với tổng diện tích
93.898.717 ha. Trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương,
vững. Cho đến nay đã có 25 văn bản quy phạm pháp luật
liên quan đến quản lý rừng bền vững. Trong đó, số văn bản
thuộc các cấp ban hành là: Quốc hội: 3, Chính phủ: 7, Thủ
tướng Chính phủ: 5, Bộ NN-PTNT: 10. Các đạo luật lâm
nghiệp và Chiến lược lâm nghiệp quốc gia thể hiện cam kết
thực hiện quản lý rừng bền vững.
Các vấn đề về Quản lý rừng bền vững là một yếu tố chủ
chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động
của Việt Nam. Điều này được thể hiện trong các văn bản
pháp quy dưới đây:
- Luật bảo vệ và phát triển rừng, năm 2004: Đây là đạo luật
quan trọng nhất về lâm nghiệp. Trong đó tại Điều 9 đã quy
định các hoạt động để đảm bảo quản lý rừng bền vững: Các
hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo phát triển
bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an
ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chiến
lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ
và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy
chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định.
- Luật Bảo vệ môi trường, năm 2005; trong Chương IV:
Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, có 7 điều
6
(từ Điều 28 đến Điều 34) đã đưa ra những quy định liên quan
tới quản lý rừng bền vững thuộc các lĩnh vực, như: Điều tra,
đánh giá, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên; Bảo
vệ thiên nhiên; Bảo vệ đa dạng sinh học; Bảo vệ và phát
triển cảnh quan thiên nhiên; Bảo vệ môi trường trong khảo
sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; Phát
triển năng lượng sạch.
- Luật Đất đai, năm 2003 đã quy định: Việc sử dụng đất
thảo quốc gia, vùng, tỉnh; giảng dạy, tập huấn và phổ cập
kiến thức
2.1.2. Xây dựng kế hoạch chiến lược và các hoạt động
quản lý rừng bền vững, bao gồm:
a./ Trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp, giai đoạn 2006-
2020 có 5 chương trình trọng điểm là:
(1) Quản lý và phát triển rừng bền vững
(2) Bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển dịch
vụ môi trường
(3) Chế biến thương mại lâm sản
(4) Nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và khuyến lâm
9
(5) Đổi mới thể chế, chính sách, kế hoạch, giám sát ngành
Trong đó, chương trình quản lý rừng bền vững là trọng
tâm với 3 nội dung chính của chương trình là:
(1) Xây dựng và hoàn thiện các điều kiện cần thiết để quản
lý rừng bền vững; như: (i) Thiết lập lâm phận ổn định trên cơ
sở quy hoạch 3 loại rừng; (ii) Hoàn thiện hệ thống đánh giá
tài nguyên rừng, cơ sở dữ liệu; (iii) Cải cách quyền sở hữu,
quyền sử dụng rừng bằng giao khoán, cho thuê; (iv) Hoàn
thiện các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững, lâm sinh, sử
dụng rừng.
(2) Thực hiện quản lý bền vững rừng tự nhiên; gồm: (i) Xây
dựng và thực hiện phương án điều chế rừng (Kế hoạch quản
lý rừng); (ii) chứng chỉ rừng.
(3) Thực hiện quản lý rừng bền vững cho rừng trồng; gồm:
(i) Quy hoạch rừng nguyên liệu gắn kết với chế biến trong
mọi thành phần kinh tế; (ii) Cải thiện giống, phương thức
lâm sinh, sản lượng và điều chế rừng; (iii) Thử nghiệm và
mở rộng chứng chỉ rừng trồng mọi quy mô, mọi thành phần
những khu rừng đã có đủ điều kiện như: có quy hoạch sử
dụng đất lâu dài đã hợp lý, có diện tích và ranh giới rừng ổn
định thì vẫn tiến hành việc quản lý rừng bền vững.
2.1.5. Thực hiện chứng chỉ rừng
- Hiện nay, Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng
(thuộc Hội KH-KT Lâm nghiệp Việt Nam) đã dự thảo xong
Tiêu chuẩn cấp chứng chỉ rừng, đang trình Tổ chức chứng
chỉ rừng của thế giới công nhận. Do vậy, việc cấp chứng chỉ
rừng ở Việt Nam chưa được thực hiện mà đang trong quá
trình thí điểm cấp chứng chỉ và xây dựng lộ trình để cấp
chứng chỉ rừng. Đến năm 2006, ở Việt Nam mới có một đơn
vị duy nhất được cấp chứng chỉ rừng của FSC với diện tích
9.904 ha rừng trồng của Công ty liên doanh trồng rừng New
O.J tại Quy Nhơn (Bình Định).
Theo đề xuất của Viện quản lý rừng bền vững và chứng
chỉ rừng thì lộ trình cấp chứng chỉ rừng từ 2006 đến 2020,
như sau:
- Xây dựng bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững quốc gia:
Đã hoàn thành dự thảo tiêu chuẩn quốc gia với 10 nguyên
tắc, 55 tiêu chí và 158 chỉ số và các kiểm chứng phản ánh
đặc thù về chính sách và tập quản sản xuất lâm nghiệp của
Việt nam, đã trình FSC và đang chờ thẩm định.
12
- Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về Chứng chỉ
rừng cho các chủ rừng và các bên liên quan, cho cộng đồng
dân cư sống trong rừng và gần rừng.
- Đào tạo năng lực về nghiệp vụ cấp chứng chỉ rừng cho cán
bộ lâm nghiệp
- Đánh giá chất lượng quản lý từng khu rừng do chủ rừng
thực hiện (2008-2010)
các chủ rừng thường tập trung vào việc đảm bảo mục tiêu
kinh tế của rừng, nghĩa là rừng cho nhiều sản phẩm, có năng
suất cao và lâu dài liên tục. Nên các mục tiêu quan trọng
khác như môi trường và xã hội lại chưa được chú ý đúng
mức đến trong phương án điều chế rừng của các đơn vị sản
xuất.
Khảo sát tình hình tại 5 tỉnh: Hòa Bình, Thái Nguyên,
Thanh Hóa, Đắc Lắc và Ninh Thuận, gần đây cho thấy các
đơn vị quản lý cơ sở (lâm trường, công ty lâm nghiệp, ban
quản lý rừng phòng hộ ) chỉ tập trung vào việc lập kế hoạch
14
khai thác hoặc trồng rừng theo các chỉ tiêu kế hoạch được
giao từ cấp trên còn các nội dung xã hội và môi trường
thường làm sơ sài. Nguyên nhân của tình trạng trên là thiếu
một văn bản hướng dẫn lập kế hoạch quản lý rừng bền vững
trên cả ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường cho
một đơn vị quản lý rừng cấp cơ sở
2.2.2. Thí điểm về quản lý rừng bền vững tại lâm trường
Trong khuôn khổ hoạt động của “Chương trình sử dụng
và quản lý rừng bền vững rừng tự nhiên và tiếp thị lâm sản”
do GTZ tài trợ, thí điểm về quản lý rừng bền vững được thực
hiện tại 5 lâm trường thuộc Thanh Hóa, Ninh Thuận, Yên
Bái, Hòa Bình và Đắc Lắc.
2.2.3. Thí điểm Cấp chứng chỉ rừng “theo nhóm” tại Yên
Bái do Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng thực
hiện nhằm giúp các chủ rừng quy mô nhỏ tiếp cận được với
việc cấp chứng chỉ rừng. Theo thí điểm này, một số tổ chức
địa phương đóng vai trò “trung gian” giữa tổ chức cấp chứng
chỉ và những nhà sản xuất gỗ nhỏ để để giúp họ nhận chứng
chỉ “theo nhóm”. Cấp chứng chỉ “theo nhóm” đã được áp
quản lý bền vững nhằm đảm bảo mọi tác động đối với rừng
đạt được sự bền vững.
- Chính sách, thể chế, trình độ, năng lực của Việt nam vẫn
chưa phù hợp với tiêu chuẩn cấp chứng chỉ rừng của Hội
đồng quản trị rừng thế giới (FSC), cần nâng cấp, sửa đổi,
thay thế.
- Các chính sách bảo tồn rừng của Việt Nam mới chỉ chú
trọng vào rừng đặc dụng mà ít quan tâm tới sản xuất là chưa
phù hợp với tiêu chuẩn số 9 của FSC
về các khu rừng có giá trị bảo tồn cao.
- Chưa có chính sách đào tạo, giáo dục và phổ cập về quản lý
rừng bền vững cho học sinh, sinh viên. Nên cán bộ sau khi
tốt nghiệp đại học lâm nghiệp hoặc các chuyên ngành liên
quan chưa được giới thiệu về quản lý rừng bền vững và
17
chứng chỉ rừng, chưa biết lập kế hoạch quản lý rừng bền
vững, chưa biết xây dựng cơ sở dữ liệu, công tác giám sát và
đánh giá….
- Thực tế cho thấy, tại các cơ quan lâm nghiệp ở trung ương
và địa phương phần lớn (68%) số người được phỏng vấn cho
rằng khung chính sách hiện nay
chưa phù hợp với yêu cầu của quản lý rừng bền vững; chỉ có
rất ít (32%) số người được phỏng vấn nói là khá phù hợp
(Kết quả điều tra đánh giá nhu cầu đào tạo về quản lý rừng
bền vững do ORGUT thực hiện vào tháng 9/2007).
3.2. Những khó khăn, trở ngại khi thực hiện quản lý
rừng bền vững ở Việt Nam
Việc chuyển đổi các phương thức quản lý thông thường
sang phương thức quản lý rừng bền vững đòi hỏi một loạt
thay đổi về khuôn khổ chính sách ở cấp trung ương; thái độ,
định liên quan đến môi trường sống của họ.
19
- Về chứng chỉ rừng: Mặc dù Chứng chỉ rừng là một công
cụ hữu hiệu để quản lý rừng bền vững. Nhưng những điều
kiện để được cấp chứng chỉ rừng lại rất khắt khe, khó khăn
mà chúng ta phải đối mặt, đó là: Tiêu chuẩn cấp chứng chỉ
của FSC quá cao, đây là lo ngại chính của các nhà sản xuất
gỗ. Chi phí để đạt được tiêu chuẩn chứng chỉ rừng thường
cao hơn nhiều so với giá bán gỗ đã được cấp chứng chỉ.
Tất cả những khó khăn trở ngại nêu trên sẽ là những
thách thức đối với các nhà lâm nghiệp trong quá trình
chuyển đổi quản lý rừng theo hướng bền vững mà trong đó
nghiên cứu để tìm tòi một phương pháp lập kế hoạch quản lý
rừng bền vững là bước ban đầu rất quan trọng.
20
IV. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT
TRIỂN QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
4.1. Bài học kinh nghiệm
Trong quá trình thực hiện quản lý rừng bền vững ở Việt
Nam, mặc dù mới được thực hiện trong những năm gần đây
nhưng có thể rút ra một số kinh nghiệm chính sau đây:
- Các chủ rừng cần xây dựng một phương án quản lý rừng
bền vững và chứng chỉ rừng tuân theo tiêu của của FSC thay
cho phương án điều chế rừng đơn giản hiện nay.
- Xây dựng một lộ trình cho sản phẩm lâm nghiệp quốc gia
tiếp cận một cách vững chắc với các yêu cầu khắt khe của thị
trường gỗ quốc tế.
- Các chủ rừng cần nhận thức được tầm quan trọng của việc
thực hiện quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng.
- Tăng cường sự tham gia tích cực của các bên liên quan
phòng hộ và mục tiêu sản xuất. Việc thành lập lâm phận ổn
22
định sẽ giúp thường xuyên kiềm chế được mức độ khai thác
và có thể đảm bảo cung cấp một lượng gỗ thường xuyên cố
định cho ngành công nghiệp. Sự ổn định đó cũng củng cố
niềm tin cho doanh nghiệp, giúp họ có những quyết định đầu
tư dài hạn để phát triển sản xuất.
Xác định ranh giới rừng ổn định lâu dài, rõ ràng trên
hiện trường là rất cần thiết, là bước đi quan trọng trong việc
xác định và lập bản đồ lâm phận ổn định. Đây là yếu tố
quyết định đến hiện trạng rừng. Thực tế cho thấy là không
thể xác định được diện tích rừng được quản lý bền vững
hoặc diện tích, vị trí, hình dạng của khu rừng dự định khai
thác hàng năm nếu không có ranh giới rõ ràng trên hiện
trường.
(3). Trao quyền sử dụng đất rừng lâu dài cho chủ sử dụng:
Trao quyền sử dụng tài nguyên rừng và đất rừng lâu dài cho
các cơ quan quản lý lâm nghiệp, các hợp tác xã, các công ty
lâm nghiệp tham gia vào thực hiện, quản lý các chương trình
lâm nghiệp, không chỉ là nguyên tắc chính sách cơ bản mà
còn là bước đi mang tính thực tiễn cao cần phải thực hiện để
thúc đẩy quản lý rừng bền vững. Sự cam kết chính sách rõ
ràng là rất cần thiết để các chủ rừng có quyền sử dụng đất
rừng lâu dài, yên tâm đầu tư kinh doanh sản xuất gỗ hoặc
bảo vệ đầu nguồn và đa dạng sinh học, đồng thời giúp các
23
cộng đồng địa phương, những người có cuộc sống phụ thuộc
vào rừng, phát triển các loài cây thuốc và các loại lâm sản
ngoài gỗ khác một cách ổn định lâu dài.
Đối với những nơi đã có sự cam kết về mặt chính sách
(5). Quản lý rừng bền vững phải theo kế hoạch rõ ràng: Mục
tiêu của bản kế hoạch quản lý là cụ thể hóa các chính sách
quốc gia để điều phối và thực hiện các hoạt động tác nghiệp
để đạt được mục tiêu cụ thể, cho một địa phương cụ thể và,
trong một giai đoạn cụ thể.
Bản kế hoạch cần xác định rõ mục tiêu, hoạt động
nhưng phải có tính linh hoạt, mềm dẻo nhằm thích ứng với
các hoàn cảnh đổi thay còn chưa lường trước được. Kế
hoạch có thể được lập bằng nhiều phương pháp khác nhau,
nhưng thường có những tiêu chuẩn: (i) Kế hoạch phải tránh
được những vấn đề trước đó gặp phải, bằng cách đưa ra
những giải pháp có thể thực hiện được; (ii) Bản kế hoạch
không lên lập cho một giai đoạn quá dài nhằm tránh những
25